Tác động của biến động lãi suất và tỷ giá hối đoái đến tỷ suất sinh lợi và biến động tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu ngân hàng nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
-------------------------------

NGUYỄN HUYỀN TRÂN

TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỘNG LÃI SUẤT
VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN TỶ SUẤT SINH
LỢI VÀ BIẾN ĐỘNG TỶ SUẤT SINH LỢI
CỦA CỐ PHIẾU NGÂN HÀNG: NGHIÊN
CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM.

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.Hồ Chí Minh – Năm 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
-------------------------------

NGUYỄN HUYỀN TRÂN

TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỘNG LÃI SUẤT
VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN TỶ SUẤT SINH
LỢI VÀ BIẾN ĐỘNG TỶ SUẤT SINH LỢI
CỦA CỐ PHIẾU NGÂN HÀNG: NGHIÊN
CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM.
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201



Giới thiệu. ................................................................................................ 2

1.1.

Lý do chọn đề tài. .............................................................................................. 2

1.2.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. ...................................................................... 4

1.3.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. .................................................................. 5

1.4.

Phương pháp nghiên cứu. ................................................................................ 5

1.5.

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài. ............................................................................ 6

1.6.

Cấu trúc đề tài................................................................................................... 6

Chương 2.

Tổng quan về lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây. .. 7


Dữ liệu về biến độc lập. ........................................................................... 19

3.1.3.

Giai đoạn nghiên cứu và tần suất dữ liệu. ............................................. 22

3.2.

Quy trình nghiên cứu. .................................................................................... 26

3.3.

Phương pháp nghiên cứu. .............................................................................. 27

3.3.1.

Phân tích thống kê mô tả......................................................................... 27

3.3.2.

Kiểm định tính dừng của dữ liệu chuỗi thời gian. ................................ 27

3.3.3.

Mô hình hồi quy số liệu chuỗi thời gian với phương pháp ước lượng

OLS……………. .................................................................................................... 30
3.3.4.
3.4.


Kết quả ước lượng tỷ suất sinh lợi mô hình hồi quy OLS. ......................... 44

4.4.

Kết quả ước lượng tỷ suất sinh lợi với GARCH (1,1). ................................ 49

4.5.

Kết quả ước lượng mức độ biến động tỷ suất sinh lợi với GARCH (1,1).. 55

Chương 5.

Kết luận và kiến nghị giải pháp. ......................................................... 58

5.1.

Kết luận của bài nghiên cứu. ......................................................................... 58

5.2.

Kiến nghị chính sách. ..................................................................................... 58


5.3.

Hạn chế của đề tài và kiến nghị hướng nghiên cứu trong tương lai. ......... 59

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


CAPM

Capital asset pricing model

Mô hình định giá tài sản vốn

EPS

Earnings Per Share

Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu

GARCH

Generalized

Autoregressive Mô hình phương sai có điều kiện của

Conditionally Heteroscedastic

sai số thay đổi tự hồi quy tổng quát

HNX

Hanoi Stock Exchange

Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội

HOSE


Tỷ suất sinh lợi

TT

Thông tư

Upcom

VNĐ

Unlisted
Market

Public

Company Thị trường giao dịch cổ phiếu của
công ty đại chúng chưa niêm yết
Việt Nam Đồng


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1. Các Ngân hàng TMCP trong mẫu nghiên cứu. ........................................ 24
Bảng 3.2. Mô tả biến nghiên cứu. ............................................................................... 25
Bảng 4.1. Thống kê mô tả. ........................................................................................... 43
Bảng 4.2. Kết quả kiểm định ADF. ............................................................................. 43
Bảng 4.3. Kết quả ước lượng mô hình hồi quy OLS. ................................................ 44
Bảng 4.4. Ước lượng tỷ suất sinh lợi theo GARCH (1,1). ......................................... 49
Bảng 4.5. Uớc lượng biến động của tỷ suất sinh lợi theo GARCH (1,1). ................ 55

ro từ các yếu tố vĩ mô sẽ quyết định sự ổn định và sức khỏe của nền kinh tế (Barth,
Caprio và Levine, 2004). Các lý thuyết kinh tế và các bằng chứng thực nghiệm cho
thấy sự bất ổn của ngành ngân hàng có liên quan mật thiết đến sự bất ổn của nền kinh
tế (Kaufman, 2004).
Trong những năm gần đây, việc mở cửa hội nhập, tự do hóa tài chính của nền kinh tế
thế giới đã đem lại nhiều cơ hội nhưng cũng không ít rủi ro cho các quốc gia (Wilson
và các cộng sự, 2010). Trong đó, tác động của sự thay đổi trong lãi suất và tỷ giá trên
thị trường tiền tệ đến tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu ngân hàng là vấn đề đáng chú ý đối
với ban quản trị ngân hàng, cơ quan quản lý ngành, các nhà đầu tư kể từ khi sự sụp đổ
của nhiều ngân hàng xuất phát từ nguyên nhân của sự bất ổn về tỷ giá và lãi suất
(Wetmore và Brick, 1994; Elyasiani và Mansur, 2003; Kasman và các cộng sự, 2011).
Chính vì vậy, việc giữ vững giá trị ròng khỏi sự dịch chuyển của các cú sốc vĩ mô thật
sự rất quan trọng đối với ngân hàng. Việc quản trị rủi ro không hiệu quả thường dẫn
đến hậu quả nghiêm trọng đến hệ thống tài chính, đặc biệt tại các nước mới nổi.
Lãi suất là yếu tố quan trọng cho việc định giá cổ phiếu của ngân hàng vì doanh thu,
chi phí và lợi nhuận của các tổ chức tài chính phụ thuộc trực tiếp vào lãi suất (Khan,
2013). Nhiều nghiên cứu trên thế giới được thực hiện nhằm kiểm định mối quan hệ
giữa tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu ngân hàng và sự thay đổi của lãi suất, điển hình là các
nghiên cứu của Lynge và Zumwalt (1980), Chance và Lane (1980), Flannery (1981),
Saunders và Yourougou (1990). Ngoài ra, hệ thống tỷ giá linh hoạt ra đời vào 1970 và
sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu, bao gồm ngành ngân hàng, đã đưa ra một biến số vĩ
mô khác, tỷ giá, được xem như là một yếu tố tiềm năng tác động đến tỷ suất sinh lợi


3

của cổ phiếu ngân hàng. Các biến số tài chính này tác động đến tỷ suất sinh lợi của cổ
phiếu ngân hàng thông qua tác động của chúng ở cấp độ doanh nghiệp riêng lẻ và cấp
độ thị trường. Tại cấp độ doanh nghiệp, độ nhạy của lợi nhuận của ngân hàng đối với
hai yếu tố trên phụ thuộc vào đặc tính về kì hạn tài sản và nợ của ngân hàng. Tại cấp độ

với hệ thống ngân hàng đang có những chuyển biến tích cực tuy nhiên dễ tổn thương
trước những biến động của môi trường bên trong và bên ngoài. Việc đánh giá mối liên
hệ này có thể đưa ra những luận cứ khoa học, những giải pháp tốt hơn cho các cuộc cải
cách và quy định sau này đối với ngành ngân hàng cũng như cơ chế điều hành lãi suất
và tỷ giá hối đoái tại Việt Nam.
Bài nghiên cứu đưa ra hai đóng góp mới cho nghiên cứu về các yếu tố chính trong thị
trường tiền tệ tác động đến sự thay đổi giá cổ phiếu ngành ngân hàng tại Việt Nam: thứ
nhất, đây là một trong những nghiên cứu tiến hành một cuộc điều tra sâu về tác động
của sự thay đổi lãi suất và tỷ giá hối đoái đến tỷ suất sinh lợi của từng cổ phiếu riêng
lẽ tại các ngân hàng TMCP Việt Nam. Nghiên cứu này được dựa trên dữ liệu hàng
ngày mà không phải là dữ liệu hàng tháng, bởi vì dữ liệu hàng ngày cung cấp bằng
chứng tốt hơn về sự nhạy cảm của tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng đối với cả sự
thay đổi lãi suất và tỷ giá hối đoái (Kasman và các cộng sự, 2011). Thứ hai, bài nghiên
cứu sử dụng hai phương pháp ước lượng khác nhau, mô hình OLS tiêu chuẩn và mô
hình GARCH. Bằng cách này, việc so sánh các kết quả thực nghiệm thì đáng tin cậy và
có khả năng dự báo tốt.
1.2.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu.

Mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài này là kiểm định sự nhạy cảm của tỷ suất sinh lợi
cổ phiếu của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 01/11/2011 đến
30/06/2015 đối với sự thay đổi của lãi suất và tỷ giá trên thị trường tiền tệ, sử dụng cả
hai phương pháp ước lượng OLS tiêu chuẩn và mô hình GARCH. Bài nghiên cứu tiến
hành giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:


5

Thứ nhất, tỷ suất sinh lợi cổ phiếu các ngân hàng thương mại tại Việt Nam có chịu tác

Mô hình GARCH tiếp tục được sử dụng giải quyết câu hỏi nghiên cứu thứ hai, xác
định mối quan hệ giữa biến động tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của các ngân hàng thương
mại tại Việt Nam và biến động lãi suất và tỷ giá hối đoái.
1.5.

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài.

Tác giả kỳ vọng kết quả bài nghiên cứu sẽ là cơ sở giúp Ban quản trị ngân hàng có
những biện pháp tốt hơn để phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
và giúp các nhà đầu tư có cở sở khoa học để đánh giá giá trị cổ phiếu. Đồng thời, cấp
quản lý ngành, các nhà xây dựng chính sách sẽ đánh giá được tác động của chính sách
lãi suất và tỷ giá và đưa ra quy định phù hợp với thực tế, giúp ổn định tình hình hoạt
động ngân hàng nói riêng và nền tài chính của quốc gia nói chung.
1.6.

Cấu trúc đề tài.

Bài nghiên cứu được trình bày trong 5 chương:
Chương 1 là phần giới thiệu chung. Phần này giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu
nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu cũng
như ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu.
Chương 2 trình bày tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm. Các lý thuyết
liên quan đến đề tài làm cơ sở lý luận cho bài nghiên cứu và các nghiên cứu thực
nghiệm được tiến hành trong và ngoài nước liên quan đến đề tài được trình bày cụ thể
trong chương này.
Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu.
Chương 4 đưa ra kết quả nghiên cứu tại Việt Nam.
Chương 5 là phần kết luận. Chương này tóm tắt kết quả nghiên cứu thực nghiệm, đưa
ra những hạn chế của đề tài từ đó đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo.


nhất là cổ phiếu có vốn hóa nhỏ (small caps) hay còn gọi là quy mô nhỏ. Thứ hai là cổ phiếu có tỷ số giá sổ sách trên giá thị
trường BE/ME (Book to Market Equity) cao. Họ đưa thêm hai nhân tố này vào CAPM để phản ánh sự nhạy cảm của danh
mục đối với hai loại cổ phiếu này. Sau khi được giới thiệu vào năm 1993, mô hình ba nhân tố của hai tác giả Fama-French để
lượng hóa mối quan hệ giữa rủi ro và suất sinh lợi đã được kiểm định là có hiệu quả tại các thị trường chứng khoán phát triển
cũng như mới nổi. Mô hình ba nhân tố Fama-French (1993) cho rằng suất sinh lợi của một danh mục đầu tư hoặc một cổ
phiếu riêng biệt phụ thuộc vào 3 yếu tố đó là: yếu tố thị trường, yếu tố quy mô công ty và yếu tố giá trị sổ sách trên giá trị thị
trường BE/ME.


8

biến nhất trong phân tích tác động của các nhân tố lên tỷ suất sinh lợi của chứng
khoán.
 Mô hình các nhân tố cơ bản (Fundamental factor models): Các nhân tố đặc
trưng của cổ phiếu hoặc công ty đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích sự
khác nhau của giá các cổ phiếu tại một thời điểm. Các mô hình nhân tố cơ bản
thường được sử dụng là tỷ số giá trị thị trường/giá sổ sách của cổ phiếu (P/BV),
giá trị vốn hóa (market capitalization), chỉ số giá trên thu nhập (P/E) và đòn bẩy
tài chính (finance leverage). Mô hình này thường sử dụng để phân tích thành
phần đóng góp vào hiệu quả của danh mục và phân tích rủi ro.
 Mô hình các nhân tố thống kê (Statistical factor models): Phương pháp thống kê
được áp dụng cho một tập hợp các tỷ suất sinh lợi quá khứ để xác định những
danh mục có thể giải thích Tỷ suất sinh lợi quá khứ theo một trong hai hướng
sau: Trong mô hình phân tích nhân tố (factor analysis models), các nhân tố là
những danh mục giải thích tốt nhất hiệp phương sai của TSSL quá khứ. Trong
mô hình phân tích thành phần chính (Principal component analysis models),
nhân tố là những danh mục giải thích tốt nhất phương sai của TSSL quá khứ.
Các mô hình trên có thể được kết hợp để tạo ra mô hình các nhân tố hỗn hợp (mixed
factor models).
Mô hình đa nhân tố phổ biến nhất là lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (Arbitrage

hình các thông tin về kinh tế vĩ mô, các ảnh hưởng của ngành, đặc điểm của từng
doanh nghiệp. Stone (1974) là tác giả đầu tiên sử dụng một phương pháp khác mô hình
CAPM, đưa vào mô hình hồi quy hai nhân tố với nhân tố thứ nhất là tỷ suất sinh lợi
của vốn chủ sở hữu và nhân tố thứ hai là tỷ suất sinh lợi của chỉ số trái phiếu. Tác giả
cho rằng lãi suất hệ thống là một nhân tố ngoài nhân tố thị trường theo mô hình lý
thuyết định giá tài sản vốn, có thể tác động đáng kể đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của
ngân hàng thương mại. Sử dụng mô hình của Stone (1974) để kiểm định, Lloy và Shick
(1977) sử dụng tỷ suất sinh lợi của ngân hàng và tỷ suất sinh lợi của chỉ số ngành công
nghiệp Dow Jones đồng thời tác giả đưa vào mô hình tỷ suất sinh lợi trái phiếu dài hạn
như là nhân tố thứ hai của mô hình. Tác giả đưa ra bằng chứng cho thấy lãi suất là yếu


10

tố giải thích tương đối yếu độ biến động tỷ suất sinh lợi của ngân hàng. Tỷ suất sinh lợi
của chỉ số trái phiếu được đưa vào mô hình có tác dụng làm tăng thêm khả năng giải
thích của mô hình. Chane và Lane (1980) cho ra kết quả ngược lại với hai tác giả trên
rằng nhân tố lãi suất không có ý nghĩa trong quá trình tạo ra tỷ suất sinh lợi.
Trong khi đó, Flannery (1981) phát triển phương pháp ước lượng kì hạn tài sản và nợ
trung bình đối với mẫu bao gồm các ngân hàng lớn tại Mỹ. Mô hình hồi quy được kiểm
định để xác định liệu sự bất ổn trong lãi suất có tác động đến lợi nhuận của ngân hàng
hay không. Kết quả cho thấy các ngân hàng lớn có khả năng quản trị rủi ro để hạn chế
rủi ro thị trường bằng cách đi vay kì hạn dài và cho vay kì hạn ngắn, tập hợp danh mục
tài sản và nợ thành kì hạn trung bình giống nhau. Do vậy, bài nghiên cứu đưa ra kết
luận rằng chi phí và lợi nhuận của ngân hàng không bị tác động bởi lãi suất.
Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu trên không được thừa nhận bởi Lynge và Zumwalt
(1980). Trong nghiên cứu của Lynge và Zumwalt (1980), tác giả cũng kiểm định sự tồn
tại của nhân tố lãi suất ngoài nhân tố thị trường trong việc xác định tỷ suất sinh lợi cổ
phiếu ngân hàng. Khác với nghiên cứu của Stone (1974), tác giả đưa vào mô hình nhân
tố thứ hai là tỷ suất sinh lợi của trái phiếu nhưng được tách ra thành tỷ suất sinh lợi của

phần trăm thay đổi lãi suất ngắn hạn và phần trăm thay đổi tỷ giá của các 48 tổ chức
ngân hàng lớn nhất tại Mỹ trong giai đoạn 1975-1987 sử dụng mô hình đa nhân tố. Mô
hình hồi quy sử dụng thêm biến giả thời gian tháng 10/1979. Tác giả cung cấp bằng
chứng về độ nhạy cảm đối với lãi suất mạnh hơn so với độ nhạy cảm đối với tỷ giá hối
đoái của tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn trước 10/1979. Kết quả
còn cho thấy sự thay đổi trong tỷ giá có tác động ngược chiều đến tỷ suất sinh lợi của
cổ phiếu ngân hàng trước 10/1979. Sau thời điểm này thì mối quan hệ trở nên cùng
chiều.
Wetmore và Brick (1994) tiếp tục sử dụng mô hình đa nhân tố của Choi và các cộng sự
(1992), nghiên cứu trên 100 ngân hàng lớn nhất tại Mỹ vào năm 1989 được chia thành


12

ba loại hình khác nhau. Cổ phiếu của những ngân hàng này được giao dịch trên thị
trường chứng khoán Mỹ trong giai đoạn 1986-1991 và được nghiên cứu ở ba giai đoạn
khác nhau. Kết quả cho thấy rằng tác động hệ số rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất và rủi
ro tỷ giá phụ thuộc vào từng giai đoạn và khác nhau ở từng loại hình ngân hàng.
Ngoài ra, trên cơ sở khai thác mô hình ba nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lợi của các
ngân hàng thương mại tại Hàn Quốc trong giai đoạn 1990-1997 trước khủng hoảng
toàn cầu, Hahm (2004) cho rằng một sự thay đổi không lường trước trong lãi suất và tỷ
giá thì có tác động đáng kể đến giá trị của các tổ chức tài chính. Kết quả cho thấy lãi
suất và tỷ giá cao hơn sẽ tác động ngược chiều đến giá trị của các ngân hàng. Đặc biệt
công trình nghiên cứu của tác giả kết luận rằng sự hiệu quả trong hoạt động kinh doanh
của các ngân hàng thương mại tại Hàn Quốc có liên quan mật thiết đến chính sách lãi
suất và tín dụng của nhà nước.
Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm cổ điển chủ yếu sử dụng phương pháp ước lượng
tuyến tính, như là OLS và GLS, và không xem xét sự nhạy cảm của tỷ suất sinh lợi cổ
phiếu ngân hàng với các nhân tố thị trường, lãi suất, tỷ giá hối đoái thay đổi theo thời
gian.

ARCH trong nghiên cứu và kết luận rằng mô hình ARCH là khung chuẩn nhất trong
việc xác định biến động tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu ngân hàng.
Flannery và các cộng sự (1997), bằng cách sử dụng một mô hình GARCH hai nhân tố
phát triển ban đầu bởi Engle và các cộng sự, nghiên cứu mối quan hệ giữa định giá tài
sản và rủi ro lãi suất, kết quả cho thấy, mặc dù cả hai yếu tố rủi ro thị trường và lãi suất
tạo thành một yếu tố định giá quan trọng trong danh mục cổ phiếu phi ngân hàng, tác
động của rủi ro lãi suất đã được tìm thấy là ít mạnh trong danh mục đầu tư cổ phiếu
ngân hàng.


14

Tương tự như vậy, bằng cách sử dụng mô hình GARCH-M, Elyasiani và Mansur
(1998) nghiên cứu trên một mẫu dữ liệu gồm 56 ngân hàng thương mại cổ phần được
giao dịch trên sàn chứng khoán NewYork trong giai đoạn tháng 01/1970 đến 12/1992,
kết quả của tác giả chỉ ra rằng biến động của lãi suất đã có tác động cùng chiều vào
thời điểm đầu tiên, sau đó tác động ngược chiều vào thời điểm thứ hai. Mô hình này
loại bỏ sự tuyến tính, sự độc lập và phương sai có điều kiện không đổi.
Nghiên cứu thực nghiệm của Ryan và các cộng sự (2004) khai thác mô hình GARCHM giải thích tác động của rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất và tỷ giá lên tỷ suất sinh lợi
cổ phiếu ngành ngân hàng tại Úc thay đổi theo thời gian trong giai đoạn 1996-2001,
tìm thấy rằng, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất ngắn và trung hạn và biến động của lãi
suất là những nhân tố giải thích quan trọng đối với tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngành ngân
hàng. Tuy nhiên, lãi suất dài hạn và tỷ giá thì không có ý nghĩa trong việc định giá cổ
phiếu của ngân hàng tại Úc.
Mặc dù đã có nhiều tài liệu nghiên cứu về tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngành ngân hàng
của các nước phát triển, nhưng rất ít nghiên cứu được thực hiện tại các nước đang phát
triển. Nghiên cứu điển hình tại các nước đang phát triển như là nghiên cứu của Hooy
và các cộng sự (2004), tác giả kiểm định độ nhạy rủi ro lãi suất và tỷ giá đến cổ phiếu
ngân hàng tại Malaysia sử dụng mô hình GARCH-M trong suốt giai đoạn khủng hoảng
tài chính Châu Á. Họ cho rằng khủng hoảng tài chính không ảnh hưởng đến tình hình

ngân hàng, chỉ số giá cổ phiếu được lấy logarit tự nhiên trước khi tiến hành phân tích.
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích số liệu dựa trên kiểm định nghiệm đơn vị,
2

Độ bất ổn là thước đo phản ánh khả năng biến động ngẫu nhiên của giá cổ phiếu. Sự cách biệt giữa các mức giá cổ phiếu
càng lớn thì độ bất ổn của giá cổ phiếu càng cao. Công cụ đo lường phổ biến nhất của độ bất ổn là sử dụng phương sai phản
ánh sự thay đổi giá hàng ngày của cổ phiếu. Theo nghiên cứu Engle (1982) và Bollerslev (1986), độ bất ổn được ước lượng
bằng phương sai có điều kiện của chuỗi thời gian thông qua sử dụng dữ liệu trong quá khứ để đưa vào phân tích trong mô
hình hồi quy có điều kiện với phương sai thay đổi.


16

kiểm định nhân quả Granger, mô hình Var và hàm phân rã phương sai. Kết quả phân
tích cho thấy có mối liên hệ giữa giá cổ phiếu với tỷ giá hối đoái tại bậc trễ 2 và lãi suất
tại trễ 1. Đồng thời giá cổ phiếu còn bị tác động bởi chính nó tại trễ 1 và 2.
Ngoài ra, Trương Đông Lộc (2014), nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay
đổi giá của cổ phiếu, số liệu sử dụng bao gồm chuỗi giá, lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu
(EPS), lãi suất cho vay, tỷ giá USD/VND, giá vàng và chỉ số giá tiêu dùng theo thời
gian với tần suất quý, tác giả đưa ra bằng chứng cho thấy, trong giai đoạn 31/12/2006
đến 31/12/2012, EPS, tỷ giá USD/VND có tương quan tỷ lệ thuận với giá của các cổ
phiếu được niêm yết trên HOSE.
2.4.

Nhận xét và lựa chọn phương pháp nghiên cứu.

Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây nhìn chung cho thấy: Sự thay đổi của
lãi suất có thể tác động cùng chiều hoặc ngược chiều, mạnh hay yếu hoặc không tác
động đến tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu ngân hàng. Sự thay đổi của tỷ giá tác động đến
tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu ngân hàng cùng chiều hay ngược chiều, mức độ tác động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status