BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TUYẾT HẠNH
TÁC ĐỘNG CỦA CÚ SỐC GIÁ DẦU LÊN LỢI
NHUẬN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN: BẰNG
CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TUYẾT HẠNH
TÁC ĐỘNG CỦA CÚ SỐC GIÁ DẦU LÊN LỢI
NHUẬN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN: BẰNG
CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài Chính- Ngân Hàng
Mã Số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2015
CHƯƠNG 2.TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÓ ............... 9
2.1 Mối quan hệ giữa các yếu tố vĩ mô, giá dầu và thị trường chứng khoán theo lý
thuyết kinh doanh chênh lệch giá (APT) ...................................................................... 9
2.2 Kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô ................................ 9
2.3 Một vài nghiên cứu thực nghiệm .......................................................................... 13
2.3.1Nghiên cứu tại các quốc gia khác ........................................................................ 13
2.3.2 Nghiên cứu tại Việt Nam ..................................................................................... 17
2.4 Các loại cú sốc trong giá dầu................................................................................................ 20
2.5 Kết quả kỳ vọng của nghiên cứu........................................................................... 21
CHƯƠNG 3.PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU ................ 24
3.1 Các cú sốc trong giá dầu – Phân tích mô hình VAR cấu trúc- SVAR ............. 26
3.2 Tương quan giữa cú sốc giá dầu, nền kinh tế vĩ mô và lợi nhuận TTCK Việt
Nam – phân tíchVAR ................................................................................................... 28
3.3 Tương quan động giữa cú sốc giá dầu và lợi nhuận TTCK Việt Nam, trong
điều kiện phương sai thay đổi- Mô hình Scalar-BEKK ........................................... 29
3.4 Dữ liệu nghiên cứu.................................................................................................................... 33
CHƯƠNG 4.KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM ............................................... 39
4.1 Kiểm định tính dừng .................................................................................... 39
4.2 Kết quả phân tích các cú sốc khác nhau trong giá dầu ...................................... 40
4.3 Tương quan giữa giá dầu, các chỉ số kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán
Việt Nam ........................................................................................................................ 44
4.3.1Kết quả phân tích mô hình VAR........................................................................... 44
4.3.2 Kết quả kiểm định mức ý nghĩa của mô hình VAR ............................................. 48
4.3.3 Kết quả phân tích phản ứng xung và phân rã phương sai.................................. 50
4.3.4 Kết luận về sự tương quan giữa cú sốc giá dầu, các yếu tố vĩ mô và thị trường
CPI
: Chỉ số giá tiêu dùng
ECM
: Mô hình hiệu chỉnh sai số
KPSS
: Kiểm định Kwiatkowski – Phillips – Schimidt- Shin
OECD
: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organization of Economic
cooperation and Development)
OSS
: Oil Specific Demand Shocks
SS
: Supply-side
SVAR
: Mô hình véc tơ tự hồi quy cấu trúc
Trang
3
của Việt Nam từ năm 2005- 2014
Bảng 2.1
Bảng tóm tắt tương quan giữa các nhân tố với TTCK tại
22
Trung Quốc và Mỹ
Bảng 2.2
Bảng tóm tắt tương quan kỳ vọng giữa các nhân tố với
23
TTCK VN
Bảng 3.1
Tóm tắt các biến chính sử dụng trong bài
36
Bảng 3.2
Thống kê mô tả các biến
38
Statistic
Bảng 4.6
Kết quả kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi- Kiểm
49
định White
Bảng 4.7
Kết quả Phân tích phân rã phương sai
51
Bảng 4.8
Tương quan động theo thời gian giữa lợi nhuận thị trường
57
chứng khoán Việt Nam và mỗi loại cú sốc giá dầu
Bảng 4.9
Kết quả kiểm định Wald đối với mô hình Scalar- BEKK
(M- GARCH BEKK)
59
42
dầu và giá trị thực của dầu
Hình 4.2
Ước lượng các cú sốc giá dầu khác nhau từ năm
43
2005(05) đến 2015 (15)
Hình 4.3
Kiểm tra giá trị Roots
46
Hình 4.4
Đồ thị phân tích phản ứng xung (impulse)
47
giữa các nhân tố đến lợi nhuận thị trường chứng
khoán Việt Nam
Hình 4.5
Sự thay đổi theo thời gian của mỗi loại cú sốc (ước
57
CHƯƠNG 1.
GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do thực hiện nghiên cứu
Sự tác động của cú sốc giá dầu lên lợi nhuận thị trường chứng khoán, là đề tài
nghiên cứu học thuật được rất nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu.
Tại những quốc gia phát triển, chẳng hạn như là Mỹ, các nước Châu Âu, Nhật Bản;
Khối OPEC, hay Trung Quốc đã có nhiều nghiên cứu về giá dầu, nền kinh tế vĩ mô
và thị trường chứng khoán.Ví dụ như, nghiên cứu của Darby (1982), Hamilton
(1983); Burbridge và Harrison (1984); Gisser và Goodwin (1986); Jones và Kaul
(1996).Các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, giá dầu có thể tác động đến hiệu suất của
tổng thể thị trường chứng khoán. Bằng chứng của Jones và Kaul (1996), thông qua
việc sử dụng mô hình APT, cho thấy tác động của giá dầu đến thị trường chứng
khoán, xảy ra do giá dầu biến động làm ảnh hưởng đến dòng tiền thực và giá dầu là
một yếu tố rủi ro đối với thị trường chứng khoán.Quan hệ ngược chiều giữa giá dầu
và lợi nhuận chứng khoán cũng đã được ghi nhận bởi Goswami và Jung (1998),
Gjerde và Sættem (1999), và O'Neill và cộng sự (2008). Gần nhất, Filis. G (2010)
cho thấy rằng giá dầu và CPI có tác động tiêu cực lên thị trường chứng khoán Hy
Lạp. Hay, Filis. G vàDavid C. (2014), cũng phân tích mối quan hệ giữa giá dầu và
thị trường chứng khoán trong một môi trường biến đổi theo thời gian. Kết quả
nghiên cứu tại thị trường Mỹ, các nước Châu Âu, Nhật Bản; Khối OPEC, hay
Trung Quốc ít nhiều đã chỉ ra rằng có tồn tại mối quan hệ thay đổi theo thời gian
giữa cú sốc giá dầu và lợi nhuận thị trường chứng khoán.
Giống như nhiều quốc gia đang phát triển khác, Việt Nam hiện tại đang đối mặt với
sự bùng nổ dân số, các ngành công nghiệp tiếp tục phát triển, kéo theo đó là sự tăng
tốc của ngành vận chuyển, giao thông (do nhu cầu đi lại gia tăng). Theo số liệu của
Bộ giao thông vận tải, tổng phương tiện cơ giới đường bộ đăng ký mới vào quý 1
năm 2013 lên đến 39,056,343. Ngoài ra, sản lượng vận chuyển hàng hóa bằng
2006
2007
2008
2009
2010
2011
1
2
3
4
5
6
2012
2013
2014
2012
2013
2014
Khối lượng
258
254
283
300
304
329
358
361
367
384
12.2
227
232
230
198
11.3
11
12.55
12.85
13
9.85
10.67
9.2
9.11
8.6
97%
nhập khẩu
(triệu tấn)
% Khối
lượng nhập
khẩu so với
khối lượng
tiêu dùng
Nguồn: Tổng Cục thống kê, Cục quản lý thông tin năng lượng Mỹ, Cơ quan quản lý
thông tin về năng lượng thế giới (Phụ lục 5)
Như vậy, dựa vào bảng 1.1, có thể thấy nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc rất nhiều
vào việc nhập khẩu dầu.
Mặt khác, thị trường chứng khoán Việt Nam đã xuất hiện từ năm 2000 và đang
trong giai đoạn phát triển. Số liệu thống kê của công ty cổ phần chứng khoán Sài
Gòn- Hà Nội, chỉ số Vn Index, năm 2014 tăng trưởng đến 20.62% so với năm 2013.
Đặc biệt, năm 2014, thị trường chứng khoán (TTCK) đã trải qua khá nhiều phiên
4
trượt giảm mạnh, do sự ảnh hưởng của hai sự kiện lớn, Biển Đông và giá dầu thô.
Gần đây hơn, theo thông tin đăng tải trên các báo điện tử như vnexpress.vn,
cafef.vn…, chỉ số Vn Index mất 30 điểm vào ngày 24/08/2015, kể từ khi giá dầu thế
giới không ngừng lao dốc và đã xuyên thủng ngưỡng 40 USD/thùng vào đầu giờ
sáng 24/8/2015, trên thị trường châu Á. Có thể thấy, tại thời điểm quý III của năm
2015, thị trường chứng khoán Việt Nam đã đón nhận nhiều tin xấu đến từ cả trong
và ngoài nước như: sự bất ổn tại Trung Quốc; đồng nhân dân tệ giảm giá; giá dầu
không ngừng lao dốc; nỗi lo tỷ giá; tâm lý bầy đàn…
Vì vậy, mối quan hệ giữa giá dầu (thế giới) và lợi nhuận thị trường chứng khoán
Việt Nam là một đề tài rất được quan tâm. Hiện tại, theo đồ thị hình 1.2 bên dưới,
30/06/2009
31/12/2009
30/06/2010
31/12/2010
30/06/2011
30/12/2011
29/06/2012
28/12/2012
28/06/2013
31/12/2013
30/06/2014
31/12/2014
30/06/2015
0
Giá dầu
VNINDEX
Hình 1.2. Diễn biến giá dầu thế giới và chỉ số Vn Index
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu của Ủy Ban chứng khoán Nhà nước Việt Nam,
Cơ quan quản lý thông tin về năng lượng thế giới (Phụ lục 5)
5
Cũng đã có khá nhiều nghiên cứu về sự ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường
chứng khoán Việt Nam, của các tác giả trong và ngoài nước [sẽ được thảo luận lại
trong phần 2.3.2 của nghiên cứu này].
đoái hay lãi suất.
Mặt khác, khi nghiên cứu tại thị trường Việt Nam, phương pháp được các tác giả
khác sử dụng khá giống nhau, như là mô hình VAR, mô hình ECM, mô hình
VECM, mô hình đồng liên kết, phương pháp Johansen, phương pháp phân rã
phương sai, phương pháp kiểm định nhân quả Granger, để kiểm định mối quan hệ
giữa giá dầu, nền kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán. Cú sốc giá dầu được các
tác giả phân tích thể hiện thông qua sự thay đổi của giá dầu thế giới, chưa có sự
phân tích sâu về các cú sốc khác nhau tồn tại trong giá dầu. Theo Kilian (2009)
chứng minh, cú sốc giá dầu sẽ được chia thành ba loại: oil supply shocks, aggregate
demand shocks và oil- specific demand shocks. Cũng theo thảo luận về kênh truyền
dẫn của giá dầu đến nền kinh tế (sẽ được thảo luận ở phần 2.1 của đề tài này), các
kênh truyền dẫn chính của cú sốc giá dầu bao gồm: cú sốc lên nguồn cung dầu, hiệu
ứng chuyển giao thu nhập và tổng cầu, hiệu ứng số dư tiền thực, lạm phát. Vì vậy,
cú sốc giá dầu nên phân tách thành các cú sốc khác nhau, khi phân tích ảnh hưởng
của cú sốc giá dầu lên nền kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán.
Ngoài ra, trên thực tế, khi phân tích dữ liệu chuỗi thời gian, hiện tượng phương sai
thay đổi là vấn đề đáng lưu ý theo quan điểm của Filis. G (2014). Do vậy, khi phân
tích ảnh hưởng của cú sốc giá dầu lên nền kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán
cũng nên quan tâm đến điều kiện phương sai thay đổi. Vấn đề này, chưa được các
tác giả tại Việt Nam đề cập đến.
Vì vậy, bằng sự kế thừa kết quả nghiên cứu về sự tác động của giá dầu lên lợi nhuận
thị trường chứng khoán của các tác giả trong và ngoài nước được đề cập bên trên,
và mong muốn phân tích rõ hơn về các cú sốc khác nhau của giá dầu lên nền kinh tế
vĩ mô và thị trường chứng khoán Việt Nam, trong điều kiện phương sai thay đổi là
như thế nào, tác giả tiến hành thực hiện nghiên cứu này. Bên cạnh đó, với nghiên
cứu này, tác giả sẽ sử dụng thêm mô hình Scalar-BEKK, để phân tích được sự
tương quan giữa các cú sốc giá dầu và lợi nhuận thị trường chứng khoán Việt Nam,
7
8
pháp VAR, phân tích phản ứng xung, phân tích phân rã phương sai, như các tác giả
khác đã sử dụng khi nghiên cứu về Việt Nam, với sự bổ sung của mô hình SVAR.
Đặc biệt hơn, tác giả sẽ sử dụng thêm mô hình Scalar-BEKK, một phương pháp
hoàn toàn mới chưa được tác giả nào sử dụng là mô hình Scalar-BEKK, để phân
tích được sự tương quan giữa các cú sốc giá dầu và lợi nhuận thị trường chứng
khoán Việt Nam, trong điều kiện phương sai của chuỗi dữ liệu thay đổi.
1.4 Kết cấu của đề tài
Nghiên cứu được tổ chức theo cấu trúc như sau:
Phần 1. Giới thiệu chung về nghiên cứu. Trong đó, nói rõ lý do, mục tiêu thực
nghiên cứu.
Phần 2. Thảo luận các lý thuyết nền tảng và các nghiên cứu thực nghiệm về sự
tương quan giữa giá dầu (cú sốc giá dầu), chỉ số kinh tế vĩ mô và thị trường chứng
khoán
Phần 3. Thảo luận phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu
Phần 4. Kết quả thực nghiệm
Phần 5. Những kết luận chính và một số hạn chế của nghiên cứu.
9
CHƯƠNG 2.
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÓ
2.1 Mối quan hệ giữa các yếu tố vĩ mô, giá dầu và thị trường chứng khoán theo
lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (APT)
giá dầu là một nhân tố vĩ mô ảnh hưởng lên tỷ suất sinh lợi của chứng khoán trong
mô hình APT.
2.2 Kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô
Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Liên Hoa (2012), dựa trên nghiên cứu của
Brown và Yucel (2002) và Tang và cộng sự (2010)đã đề cập đến kênh truyền dẫn
của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô theo sơ đồ 2.1 sau:
10
Hình 2.1. Sơ đồ kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô
Nguồn: Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Liên Hoa (2012).
TheoNguyễn Thị Liên Hoa (2012), Kilian (2009) và Filis. G (2014), sơ đồ 2.1 sẽ
giải thích của sự thay đổi giá dầu lên các biến kinh tế vĩ mô thông qua các kênh
truyền dẫn chính như sau:
•
Cú sốc cung dầu: Sự tăng giá dầu có thể thể được xem là một chỉ báo từ một cú
sốc trong tổng nguồn cung dầu. Sự tăng giá chính là báo hiệu sự khan hiếm của
nguồn năng lượng vốn được xem là nguyên liệu đầu vào cơ bản của sản xuất.
Do đó, tốc độ tăng trưởng sản lượng và năng suất của các ngành công nghiệp sẽ
sụt giảm. Điều này dẫn dến giảm mức tăng lương thực và tăng tỷ lệ thất nghiệp.
Như vậy, dựa trên quan điểm này, cùng với kết luận của Kilian (2009)và Filis.
G (2014), có cơ sở để tin rằng trong cú sốc giá dầu sẽ bắt nguồn từ cú sốc cung
dầu(oil supply shocks). Và khi giá dầu thay đổi sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ
mô.
•
Hiệu ứng chuyển giao thu nhập và tổng cầu
Dầu được xem là nguyên liệu nhập khẩu đầu vào của mọi ngành sản xuất kinh
doanh. Khi giá dầu tăng, kỳ vọng lạm phát sẽ tăng, do chi phí đầu vào doanh
nghiệp tăng. Tiếp theo đó khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp bị thu hẹp do chi phí đầu vào tăng. Theo thời gian, nếu giá dầu tiếp tục
tăng cao sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng và các giá trị doanh nghiệp. Dựa theo
mô hình Gordon được trình bày trong Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Trần
Ngọc Thơ (2007-Trang 44), khi tốc độ tăng trưởng và các giá trị doanh nghiệp
giảm thì giá cổ phiếu cũng giảm theo.Giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp sụt giảm
12
làm giảm lợi nhuận thực và kỳ vọng ( ) của nhà đầu tư đối với chứng khoán và
thị trường chứng khoán có xu hướng xụt giảm lợi nhuận tổng thể (theo lý thuyết
APT).
Như vậy, khi lạm phát tăng xuất phát từ cú sốc tăng giá của dầu thì chi phí sản
xuất tăng, làm lợi nhuận giảm và đầu tư cũng giảm theo.
Nếu người dân nhìn nhận đây là một cú sốc ngắn hạn, họ sẽ giữ ổn định chi tiêu
bảng cách tiết kiệm ít hơn và tăng vay mượn, điều này làm tăng lãi suất thực cân
bằng. Tăng trưởng sản lượng chậm lại, lãi suất thực tăng sẽ làm giảm lượng cầu
đối với số dư tiền mặt thực tế, và với mức tăng trưởng cung tiền nhất định, tỷ lệ
lạm phát sẽ tăng. Như vậy, giá dầu tăng sẽ làm giảm tăng trưởng GDP, làm tăng
lãi suất thực và nguy cơ lạm phát.
Nếu tiền lương danh nghĩa khó thay đổi theo hướng giảm đi (sticky downward),
sự suy giảm trong tăng trưởng GDP sẽ làm tăng tỷ lệ thất nghiệp và làm tăng
trưởng GDP giảm hơn nữa - nếu lạm phát tương lai không bằng đúng mức sụt
giảm trong tăng trưởng. Sự suy giảm ban đầu trong tăng trưởng GDP đi cùng
với sự sụt giảm năng suất lao động. Nếu mức giảm tiền lương thực không bằng
mức giảm trong năng suất lao động, doanh nghiệp sẽ cắt giảm nhân công, làm
tăng tỷ lệ thất nghiệp và giảm GDP. Điều này gây áp lực làm tăng lạm phát.
xuất cho hầu hết các hàng hóa và dịch vụ, khi những thành phần này thay đổi sẽ
ảnh hưởng đến dòng tiền mặt của công ty (theo mô hình chiết khấu dòng tiền).
Giá dầu cũng là một trong những yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất.
Cuối cùng, cú sốc giá dầu đã tạo ra sự ảnh hưởng đến sản lượng, lạm phát, thu
nhập, đầu tư, thất nghiệp, giá cả chứng khoán. Nói khác đi, giá dầu có ảnh
hưởng đến nền kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán.
2.3 Một vài nghiên cứu thực nghiệm
2.3.1Nghiên cứu tại các quốc gia khác
Từ những năm 1980, các nghiên cứu tiên phong về giá dầu và thị trường chứng
khoán đã xuất hiện và chứng minh được giá dầu và thị trường chứng khoán có
tương quan với nhau. Chẳng hạn như nghiên cứu của Darby (1982), Hamilton
(1983); Burbridge và Harrison (1984); Gisser và Goodwin (1986); Jones và Kaul
(1996).Các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, giá dầu có thể tác động đến hiệu suất của
tổng thể thị trường chứng khoán, bao gồm cả tác động trực tiếp và tác động gián
tiếp. Khi giá dầu có xu hướng, tăng sẽ làm gia tăng sự bất ổn trong thị trường tài
chính, làm cho giá cổ phiếu sụt giảm, đó là tác động trực tiếp. Thứ hai, khi giá dầu
14
cao hơn thì đồng nghĩa với việc nhiên liệu đắt đỏ hơn, có thể tạo nên chi phí cao
hơn trong sản xuất và vận chuyển và làm giá cả của hàng hóa và dịch vụ tăng theo,
từ đó tạo ralo ngại về lạm phát và người tiêu dùng sẽ có khuynh hướng hạn chế
trong chi tiêu của họ, kéo theo việc giảm nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ. Điều
này lại có thể gây ra sự suy giảm lợi nhuận của công ty và thu nhập. Sự suy giảm lợi
nhuận của các công ty đồng nghĩa với việc giá cổ phiếu của những công ty này sẽ
có sự thay đổi lớn và thị trường chứng khoán biến động theo. Đó chính là tác động
gián tiếp của giá dầu lên thị trường chứng khoán. Bằng chứng của Jones và Kaul
(1996), thông qua việc sử dụng mô hình APT, cho thấy tác động của giá dầu đến thị
trường chứng khoán, xảy ra do giá dầu biến động làm ảnh hưởng đến dòng tiền thực
chứng tác động ngược chiều của giá dầu đến lợi nhuận thị trường chứng khoán, đối
với 12 nước châu Âu, vì những nước này có đặc điểm chung là những nước nhập
khẩu dầu.
Mối quan hệ giữa giá dầu, thị trường chứng khoán và các nhân tố vĩ mô cũng được
phân tích trong nghiên cứu của Filis. G (2010). Tác giả, đã xem xét mối quan hệ của
các thành phần mang tính chu kỳ trong các biến giá dầu, chỉ số giá tiêu dùng (CPI),
sản lượng công nghiệp (IP), trong thị trường chứng khoán Hy Lạp. Từ đó tác giả
đánh giá ảnh hưởng của giá dầu lên các biến đó. Kết quả sơ bộ là sự biến động của
những biến mang tính chu kỳ khác nhau đáng kể, tùy thuộc vào bản chất của chúng,
chỉ số giá tiêu dùng (CPI) có sự biến động cao nhất và sản lượng công nghiệp là
thấp nhất. Mô hình VAR cùng với VECM (1) cho thấy rằng giá dầu và CPI có tác
động tiêu cực lên thị trường chứng khoán Hy Lạp.
Có thể thấy, các nghiên cứu trước năm 2009, chỉ dừng lại ở việc phân tích giá dầu,
hoặc những thành phần mang tính chu kỳ. Cho đến năm 2009,Kilian công bố kết
quả nghiên cứu mới về cú sốc giá dầu. Kilian (2009), đã phân tách cú sốc giá dầu
thành nhiều loại khác nhau, đó là: cú sốc cung dầu (oil supply shocks), cú sốc tổng
cầu dầu (aggregate demand shocks); và những cú sốc phát sinh do nhu cầu phòng
ngừa rủi ro giá dầu (precautionary demand shocks), để tìm hiểu xem giá trị thực của
dầu được quyết định bởi yếu tố nào. Kilian (2009) sử dụng một vector tự hồi quy
16
(VAR) với ba biến, nguồn cung dầu, giá thực tế của dầu và một biến trung gian đại
diện cho nhu cầu toàn cầu đối với các mặt hàng công nghiệp, với tác dụng đo lường
hoạt động kinh tế toàn cầu thực sự. Ông xác định, dựa trên một cấu trúc đệ quy, ba
cú sốc dầu lửa bao gồm: một cú sốc từ nguồn cung cấp dầu, một cú sốc dầu cụ thể
thị trường và một cú sốc nhu cầu toàn cầu.Kilian đã chỉ ra: sự gia tăng trong nhu
cầu phòng ngừa đối với dầu thô sẽ dẫn đến sự tăng mạnh và ngay lập tức trong giá
dầu thực tế, còn sự gia tăng trong nhu cầu dầu cho các ngành công nghiệp sẽ khiến