BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN CÔNG NAM
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GIAI ĐOẠN 2015-2025
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Tháng 11/2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN CÔNG NAM
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GIAI ĐOẠN 2015-2025
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60310102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC ........................................... 11
1.1. KINH TẾ TRI THỨC ......................................................................................... 11
1.1.1. Khái niệm kinh tế tri thức .............................................................................. 11
1.1.2. Những đặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức .................................................. 14
1.1.3. Những yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế tri thức...................................... 17
1.2. PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ................................................................ 22
1.2.1. Khái niệm về nguồn nhân lực ........................................................................ 22
1.2.2. Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực ........................................................ 24
1.2.3. Nội dung phát triển nguồn nhân lực ............................................................... 25
1.2.4. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ............................................................ 27
1.3. VAI TRÒ CỦA PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐỐI VỚI VIỆC HÌNH
THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC ................................................. 29
1.4. CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG
YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC ................................................................... 31
1.5. KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC ................................................ 34
1.5.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc ........................................................................34
1.5.2. Kinh nghiệm của Ấn Độ ................................................................................. 35
1.5.3. Kinh nghiệm của Hàn Quốc ...........................................................................36
1.5.4. Kinh nghiệm của Malaysia .............................................................................37
1.5.5. Kinh nghiệm của Singapore ...........................................................................38
1.5.6. Kinh nghiệm của Thái Lan .............................................................................39
1.6. KINH NGHIỆM TRONG NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC .............................................................................................................. 39
1.6.1. Kinh nghiệm của TP. Hà Nội .........................................................................39
1.6.2. Kinh nghiệm của TP. Đà Nẵng ......................................................................40
2015-2025
........................................................................................................ 67
3.1. CÁC QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG CỦA TPHCM ........................................ 67
3.1.1. Quan điểm phát triển nhân lực ....................................................................... 67
3.1.2. Mục tiêu phát triển ......................................................................................... 68
3.1.3. Luận chứng phát triển nhân lực TPHCM ....................................................... 69
3.2. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA
KINH TẾ TRI THỨC ............................................................................................... 69
3.2.1. Điểm mạnh ..................................................................................................... 69
3.2.2. Điểm yếu ........................................................................................................ 70
3.2.3. Thời cơ ........................................................................................................... 71
3.2.4. Thách thức ...................................................................................................... 72
3.2.5. Xu hướng chính về phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri
thức
........................................................................................................................ 72
3.3. CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
CỦA KINH TẾ TRI THỨC TRÊN ĐỊA BÀN TPHCM GIAI ĐOẠN 2015-2025 ..74
3.3.1. Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ................................ 74
3.3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phân tích, dự báo thị trường lao
động ........................................................................................................................ 76
3.3.3. Giải pháp khai thác hiệu quả cơ sở hạ tầng ICT ............................................77
3.3.4. Giải pháp phát triển đội ngũ công nhân tri thức .............................................77
3.3.5. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách chi cho giáo dục đào tạo ...79
3.3.6. Kiến nghị đối với chính quyền TPHCM ........................................................ 80
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 82
Technologies)
ILO: Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour Organization)
R&D: Nghiên cứu và phát triển (Research and Development)
TFP: Năng suất các yếu tố tổng hợp (Total Factor Productivity)
TPHCM: Thành phố Hồ Chí Minh
UBND: Ủy ban nhân dân
UNDP: Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (United Nations Development
Programme)
UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (United
Nations Educational Scientific and Cultural Organization)
WB: Ngân hàng Thế giới (World Bank)
WBI: Viện Ngân hàng Thế giới (World Bank Institute)
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do thực hiện đề tài
Kinh tế tri thức là nền kinh tế mà sự phát triển của nó dựa chủ yếu vào tri thức
– trí tuệ; trong đó, tri thức quyết định sự tồn tại và phát triển kinh tế. Trong kinh tế tri
thức, tri thức được tạo ra, lan tỏa trong nguồn nhân lực và tăng lên không ngừng khi
được sử dụng. Tại Việt Nam, xây dựng và phát triển kinh tế tri thức đã được đề cập
đến từ rất sớm và chính thức được đưa vào Văn kiện Đại hội Đảng lần đầu tiên vào
năm 2001 (Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX). Theo đó, Việt Nam chú
trọng và từng bước xây dựng kinh tế tri thức để theo kịp đà phát triển của thế giới.
Quan điểm này tiếp tục được duy trì cho đến hiện nay.
Để thúc đẩy và phát triển kinh tế tri thức, một trong những yếu tố quan trọng
nhất, đó là phát triển nguồn nhân lực, chú trọng giáo dục, đào tạo kỹ năng nhằm nâng
cao tri thức cho nguồn nhân lực. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chỉ số nền
kinh tế tri thức (KEI) của Việt Nam năm 2012 là 3,4 điểm, xếp hạng 104/146; trong
3. Tổng quan nghiên cứu
Kinh tế tri thức là xu thế phát triển của xã hội loài người trong thời đại ngày
nay. Để phân tích và tìm hiểu về hình thái kinh tế mới này, đã có nhiều nghiên cứu
của các tổ chức và cá nhân được thực hiện. Trong số đó, những nghiên cứu về đặc
trưng của kinh tế tri thức, các yếu tố thúc đẩy hình thành và phát triển kinh tế tri thức
có giá trị tham khảo rất lớn đối với những nước có nền kinh tế đang phát triển và có
chiến lược phát triển hướng đến kinh tế tri thức như Việt Nam.
Để xây dựng khung phân tích nhằm lượng hóa nền kinh tế tri thức, OECD bắt
đầu biên soạn các chỉ số thống kê có liên quan từ năm 1996. Sau khi mở rộng và điều
chỉnh, OECD (2001) đã đưa ra năm yếu tố cơ bản của nền kinh tế tri thức như sau:
-
Một là môi trường kinh tế vĩ mô ổn định và cởi mở tạo điều kiện cho thị trường
hoạt động hiệu quả;
-
Hai là sự phổ biến của công nghệ thông tin và truyền thông;
-
Ba là thúc đẩy sự đổi mới;
-
Bốn là đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực (hoặc vốn con người);
-
Năm là khuyến khích tạo lập doanh nghiệp mới.
Tại Hội nghị thường niên lần thứ 39 vào năm 2006 của ADB, một hội thảo về
kinh tế tri thức đã được tổ chức. Thông điệp từ các diễn giả chỉ ra rằng những quốc
gia đang phát triển mà không có sự chuyển đổi hiệu quả đến kinh tế tri thức sẽ càng
tụt hậu so với các quốc gia tiên tiến, làm gia tăng thêm khoảng cách giữa các nền kinh
tế phát triển và đang phát triển. Để thành công trong nền kinh tế ngày càng cạnh tranh
và toàn cầu hóa ngày nay, các quốc gia phải có cơ sở hạ tầng ICT tiên tiến, một lực
lượng lao động có trình độ cao, những chương trình nghiên cứu và đổi mới một cách
năng động và môi trường thể chế, pháp luật hỗ trợ hiệu quả. Tổng kết hội thảo, ADB
4
phát hành tài liệu “Tiến đến kinh tế tri thức: Kinh nghiệm của Châu Á” (Moving
Toward Knowledge-Based Economies: Asian Experiences), trong đó xem xét và tổng
kết sáng kiến của các quốc gia trong việc tiếp cận và thúc đẩy kinh tế tri thức tại Châu
Á.
Tài liệu “Cách tân Châu Á: thúc đẩy kinh tế tri thức” (Innovative Asia:
advancing the knowledge-based economy) được ADB phát hành năm 2014 khuyến
nghị rằng để thúc đẩy kinh tế tri thức, cần giảm sự tụt hậu và khoảng cách giữa các
nền kinh tế bằng cách thực hiện:
-
Về đầu tư: Tăng cường R&D và đổi mới; Mở rộng cơ sở hạ tầng tri thức; Tăng
cường hơn nữa nền tảng giáo dục và đào tạo.
-
Về chính sách: Cung cấp động lực kinh tế cho tri thức; Tạo điều kiện cho sự
đổi mới phát triển mạnh mẽ; Giới thiệu những hệ thống giáo dục linh hoạt; Thúc đẩy
là những luận cứ quan trọng để tác giả phân tích và xây dựng các nhóm giải pháp phù
hợp với chủ trương của Đảng và chính sách của chính quyền thành phố, có như vậy
mới đảm bảo tính khả thi của các giải pháp đề ra.
“Chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực”, một trong sáu chương
trình đột phá của Đại hội đại biểu Đảng bộ TPHCM lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010-2015,
tiếp tục là một trong bảy chương trình đột phá của Đại hội đại biểu Đảng bộ TPHCM
lần thứ X, nhiệm kỳ 2015-2020, phân tích kết quả thực hiện chương trình nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực TPHCM giai đoạn 2011-2015, đưa ra các nhiệm vụ, giải
pháp cụ thể cho giai đoạn 2015-2020. Chất lượng nguồn nhân lực có vai trò quyết
định, sẽ là tiền đề cho những bước đột phá trong phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội
của thành phố. Do đó, những vấn đề đặt ra trong việc nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực là những vấn đề cốt lõi trong việc nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực nói
chung, cũng như nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức nói riêng.
Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Thanh Hương (2013) đề tài “Phát triển
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Hồ Chí
Minh từ này đến năm 2009”. Kết quả nghiên cứu chỉ ra thực trạng phát triển nguồn
nhân lực về quy mô, cơ cấu, chất lượng, giáo dục – đào tạo; phân tích những thành
tựu, hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại, rút ra nguyên nhân, bài học kinh nghiệm
6
trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, đồng thời nêu lên được những vấn đề đặt ra
hiện nay đối với nguồn nhân lực ở TPHCM, từ đó tác giả đưa ra những giải pháp cụ
thể để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
TPHCM gồm có: Gắn đào tạo với sử dụng, thu hút người tài... nhằm phát triển nguồn
nhân lực của thành phố đảm bảo về số lượng, chất lượng, hướng tới một cơ cấu nhân
lực hợp lý; gia tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo, chú trọng đào tạo nghề chất lượng
cao; cải thiện trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực nhận thức của nhân
lực, trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội.
hóa, hiện đại hóa thông qua những giải pháp cụ thể đó là: Đổi mới doanh nghiệp; Bảo
vệ môi trường, phát triển bền vững; Phát triển nguồn nhân lực; Tăng cường năng lực
khoa học và công nghệ; Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; Đổi
mới cơ chế và chính sách. Trong đó, đối với việc phát triển nguồn nhân lực, đòi hỏi
nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài nhằm tạo nền tảng và động lực cho phát triển kinh
tế tri thức.
Luận án tiến sỹ của Lê Thị Hồng Điệp (2009) đề tài “Phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam” kết luận rằng phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một điều kiện cơ bản và quan trọng nhất trong
quá trình từng bước tiếp cận và hình thành nền kinh tế tri thức của Việt Nam và cần
được thực hiện cần được thực hiện toàn diện ở ba nội dung: gia tăng số lượng nguồn
nhân lực chất lượng cao tới để lực lượng này trở thành lực lượng đại chúng trong tổng
lực lượng lao động; chuyển dịch cơ cấu nhân lực chất lượng cao theo hướng gia tăng
lực lượng lao động chất lượng cao làm việc trong những ngành công nghiệp tri thức;
hình thành và phát huy được những tố chất tiêu biểu, đó là tố chất dân tộc, tố chất
thích ứng và tố chất sáng tạo.
Báo cáo của APEC (2000) nhận định, trong quá trình chuyển sang kinh tế tri
thức, nhu cầu về lao động trí óc với kiến thức chuyên môn và tư duy sáng tạo tăng
lên nhanh chóng. Để thích nghi với xu hướng mới này trong thị trường lao động, yếu
tố quan trọng là đầu tư và phát triển nguồn nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực sẽ
giúp ổn định thị trường lao động thông qua việc giảm khoảng cách tri thức giữa những
người lao động.
8
Sajit (2014) thông qua việc nghiên cứu vấn đề đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực trong các nền kinh tế tri thức tại Đông Á, cho rằng đối với đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực, các yếu tố chính góp phần cho việc định hình và chuyển đổi
sang kinh tế tri thức được xác định là: chất lượng của hệ thống giáo dục, chú trọng
9
Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận của triết học Mác – Lênin:
-
Phương pháp biện chứng duy vật: khi xem xét các đối tượng nghiên cứu, phải
trên cơ sở xem xét mối liên hệ giữa chúng với nhau, sự tác động lẫn nhau trong một
quá trình không ngừng phát triển.
-
Phương pháp lôgíc thống nhất với lịch sử: Trong quá trình nghiên cứu, cần
đảm bảo tính logic thống nhất với lịch sử; đòi hỏi việc nghiên cứu vừa phải xem xét
các đối tượng nghiên cứu trong các giai đoạn phát triển của chúng, vừa phải tìm ra
cái chung chi phối sự phát triển đó.
b. Phương pháp nghiên cứu
-
Nghiên cứu mô tả: mô tả các vấn đề trong nghiên cứu, cung cấp cái nhìn tổng
quan về nội dung nghiên cứu.
-
Nghiên cứu lịch sử: nghiên cứu thực trạng phát triển nguồn nhân lực đáp ứng
yêu cầu của kinh tế tri thức trên địa bàn TPHCM và xác định nguyên nhân.
-
Nghiên cứu tương quan: đúc kết kinh nghiệm trong và ngoài nước về phát
so sánh, phân tích dữ liệu.
-
Công cụ phân tích, xử lý dữ liệu: số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm
Microsoft Excel và thực hiện phân tích thông qua bảng biểu, đồ thị.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu
chính của luận văn gồm 3 chương:
-
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của
kinh tế tri thức.
-
Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế
tri thức trên địa bàn TPHCM.
-
Chương 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế
tri thức trên địa bàn TPHCM giai đoạn 2015-2025.
11
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG
(knowledge-based economy) hoặc nền kinh tế được điều hành bởi tri thức
(knowledge-driven economy) là cách tiếp cận cơ bản nhất cho khái niệm này. Kinh
tế tri thức nên được hiểu là một hệ thống kinh tế chứ không phải chỉ riêng là một
ngành kinh tế cụ thể nào. Các tổ chức quốc tế đã sớm đưa ra định nghĩa về kinh tế tri
thức và cho đến ngày nay vẫn tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện.
Theo OECD (1996), nền kinh tế tri thức là nền kinh tế ngày càng phụ thuộc
trực tiếp vào việc sản xuất phân phối và sử dụng tri thức và thông tin.
APEC (2000) định nghĩa: Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó quá
trình sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức trở thành động lực chính cho tăng trưởng,
cho quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế.
WB (1999) định nghĩa: Kinh tế tri thức là nền kinh tế sử dụng hiệu quả tri thức
cho sự phát triển kinh tế và xã hội, bao gồm việc thu nhận được tri thức bên ngoài
cũng như thích ứng và tạo tri thức cho các nhu cầu riêng của mình.
Powell & Snellman (2004) cho rằng nền kinh tế tri thức dựa trên những hoạt
động có hàm lượng tri thức cao, từ đó thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ, vì vậy
những tri thức hiện hữu cũng nhanh chóng trở nên lỗi thời. Đặc điểm chính của một
nền kinh tế tri thức là tăng trưởng sẽ phụ thuộc nhiều vào tri thức của con người nhiều
hơn là các yếu tố đầu vào vật chất hay tài nguyên thiên nhiên.
Suh & Chen (2007) định nghĩa nền kinh tế tri thức là nền kinh tế sử dụng tri
thức như là động lực chính của tăng trưởng kinh tế, trong đó tri thức được hấp thu,
tạo ra, phổ biến, và sử dụng hiệu quả để thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Nền kinh tế tri
thức không nhất thiết phải xoay quanh công nghệ cao và công nghệ thông tin. Ví dụ,
việc áp dụng những kĩ thuật mới trong canh tác nông nghiệp giúp nâng cao sản lượng,
chất lượng nông phẩm; hoặc việc sử dụng những dịch vụ logistic hiện đại giúp mở
rộng thị trường tiêu thụ đối với những ngành nghề thủ công truyền thống.
13
Theo Ngô Doãn Vịnh (2013), kinh tế tri thức là nền kinh tế mà sự phát triển
nền kinh tế tri thức vào cuối những năm 1900 đến đầu những năm 2000 với sự lớn
mạnh của lĩnh vực công nghệ và sử dụng vốn con người. Giai đoạn này được đánh
dấu bởi sự thay đổi công nghệ một cách mạnh mẽ, nhu cầu cạnh tranh trong đổi mới
sản phẩm trên quy mô toàn cầu và sự phát triển của các cộng đồng nghiên cứu (như
các trường đại học, phòng thí nghiệm, các cơ sở giáo dục và các tổ chức R&D).
Cùng với sự phát triển của xã hội thông tin, tri thức ngày càng được hệ thống
hóa và được lan truyền, phổ biến rộng rãi thông qua mạng lưới truyền thông và máy
vi tính. Yêu cầu đối với thời đại này là tri thức ẩn, là tri thức mà một người có được
một cách tự giác vô thức, bao gồm những kỹ năng để sử dụng và áp dụng những tri
thức đã được hệ thống (Nonaka, 1991), và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học
hỏi liên tục của cả cá nhân lẫn các tổ chức, doanh nghiệp. Do đó, trong kinh tế tri
thức, sự đổi mới được dẫn dắt bởi tác động lẫn nhau giữa nhà sản xuất và người dùng
trong việc trao đổi cả về các tri thức được hệ thống lẫn các tri thức ẩn.
Mức độ tri thức của nền kinh tế được đo lường thông qua tỷ lệ đóng góp vào
GDP của các ngành công nghiệp dựa trên tri thức và tỷ lệ công nhân tri thức trong
lực lượng lao động (APEC, 2000).
1.1.2. Những đặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức
Đặng Hữu (2004, trang 100) chỉ ra rằng “Trong một nền kinh tế tri thức đích
thực thì mọi lĩnh vực kinh tế đều trở thành ngành kinh tế dựa vào tri thức chứ không
phải chỉ là các ngành công nghệ thông tin, các ngành công nghệ cao. Một đặc trưng
quan trọng của kinh tế tri thức là độ tự do của thương mại, đó là sự phát triển các ý
tưởng mới, các doanh nghiệp mới, đó là những chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp, đó
là tầm quan trọng của việc học tập suốt đời, đó là vai trò động lực của ICT”.
Trong nền kinh tế tri thức, lực lượng lao động đặc biệt được đặc trưng bởi khả
năng sử dụng máy tính và kỹ năng được đào tạo tốt trong xử lý dữ liệu, phát triển
thuật toán và mô hình mô phỏng, và đổi mới quy trình và hệ thống. Do đó, nhu cầu
về công nhân tri thức bao gồm các nhà khoa học máy tính, kỹ sư, nhà hóa học, sinh
học, toán học và nhà phát minh không ngừng gia tăng. Ngoài ra, trong nền kinh tế
16
Hai là, cơ cấu sản xuất ngày càng dựa trên việc ứng dụng các thành tựu của
khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ cao và hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại.
Tỷ lệ đóng góp vào vào GDP của các ngành công nghiệp dựa trên tri thức nên ở mức
trên 40% (APEC, 2000). GDP trong các nền kinh tế tri thức phát triển phần lớn là từ
các ngành kinh tế tri thức, trong đó, giá trị gia tăng được tạo ra nhờ tri thức và công
nghệ cao là chủ yếu trong khi chi phí cho vật chất chỉ chiếm phần nhỏ và không tăng.
Điều này có nghĩa không chỉ riêng khu vực dịch vụ đóng góp cao cho GDP, mà ngay
cả trong khu vực nông nghiệp, công nghiệp và ngay cả dịch vụ, khi dựa vào tri thức,
ứng dụng công nghệ hiện đại cũng đem lại giá trị gia tăng cao hơn so với các hình
thức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ truyền thống. Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin
hiện đại và có vai trò quan trọng trong việc truyền bá, khuếch tán tri thức trên cơ sở
viễn thông tiên tiến phổ biến và rẻ đạt được từ sự đầu tư thỏa đáng của chính phủ.
Ba là, cơ cấu lao động biến đổi theo hướng tăng tỷ trọng lao động dựa trên tri
thức và sáng tạo, công nhân tri thức chiếm trên 50% trong lực lượng lao động. Trong
một nền kinh tế tri thức, việc làm chiếm đa số là các công việc về tri thức và thông
tin (APEC, 2000). Tiền lương trả cho công nhân tri thức ở mức cao và tăng theo trình
độ, kỹ năng và sự linh hoạt.
Bốn là, nhấn mạnh tầm quan trọng của quyền sở hữu đối với tri thức. Không
như các nguồn lực tự nhiên đang ngày càng cạn kiệt, nguồn lực tri thức không những
không mất đi mà còn tăng lên không ngừng khi sử dụng. Trong kinh tế tri thức, quyền
sở hữu đối với tri thức ngày càng quan trọng hơn so với các yếu tố đầu vào khác như
tài nguyên, đất đai. Quyền sở hữu trí tuệ được đảm bảo. Các thể chế kinh tế khuyến
khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ dựa trên tri thức và công
nghệ mới. Môi trường kinh doanh thúc đẩy việc du nhập các ý tưởng mới cũng như
chuyển giao các công nghệ mới, hiệu quả và hiện đại. Hình thành các cụm kinh doanh
xung quanh các trung tâm của tri thức (các trường đại học, học viện, các trung tâm