Vấn đề lý luận về kinh tế hàng hóa của Chủ nghĩa MacLenin. Liên hệ thưc tiễn Việt Nam - Pdf 41

Câu 3: Lý luận về sản xuất kinh tế hàng hóa của chủ nghĩa MácLênin liên hệ với thực tiễn Việt Nam
I/ Lý luận của Chủ nghĩa Mac-Lênin về Kinh tế hàng hoá
1. Tính tất yếu của nền kinh tế hàng hoá:
Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội trong đó sản phẩm
đều do những sản xuất ra, mỗi ngời chuyên làm ra một sản phẩm nhất
định,thành thử muốn thoả mãn các nhu cầu của xã hội thì cần phải có mua bán
sản phẩm (vì Vậy sản phẩm trở thành hàng hoá trên thị trờng.
Nh vậy, cơ sở kinh tế hàng hoá của sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng
hoá là phân công lao động xã hội và chế độ t hữu về t liệu sản xuất.
Phân công lao động xã hội là điều kiện cần của sản xuất hàng hoá. Có thể
nói phân công lao động xã hội đã tạo ra những ngành nghề khác nhau. Một
khi đã có phân công lao động xã hội thì mỗi ngời chỉ chuyên sản xuất ra một
loại hàng hoá( hoặc mấy loại sản phẩm nào đó). Song nhu cầu tiêu dùng của
họ lại khác nhau.
Ví dụ: Ngời nông dân thì sản xuất ra lúa gạo, ngời thợ dệt sản xuất ra
vải vóc. Nhng ngời nông dân cũng phải cần đến vải vóc và ngời thợ dệt cũng
phải cần đến gạo. Để thoả mãn nhu cầu của mình họ phải nơng tựa vào
nhau,trao đổi sản phẩm cho nhau. Nh vậy, phân công lao động xã hội làm nảy
sinh những quan hệ kinh tế giữa những ngời sản xuất với nhau.
Nhng mặt khác, chế độ t hữu về t liệu sản xuất lại chia họ ra với nhau,
mỗi ngời sản xuất là một ngời chủ độc lập,có quyền quyết định việc sử dụng t
liệu sản xuất và những sản phẩm do họ sản xuất ra.Trong điều kiện đó, ngời
sản xuất này muốn sử dụng sản phẩm của ngời sản xuất khác thì phải trao đổi
sản phẩm cho nhau.Sản phẩm lao động trở thành hàng hoá.Khi sản phẩm lao
động trở thành hàng hoá thì ngời sản xuất trở thành ngời sản xuất hàng
hoá.Vậy điều kiện đủ của kinh tế hàng hoá chính là các hình thức sở hữu khác
nhau về t liệu sản xuất.
2. Kinh tế hàng hoá u việt hơn kinh tế tự nhiên,kinh tế hàng hoá giản
đơn, kinh tế hàng hoá t bản chủ nghĩa.

1

Khi lực lợng sản xuất phát triển với một tâm cao hơn nữa, kích thích kinh
tế hàng hoá phát triển hơn nữa và thúc đẩy kinh tế hàng hoá giản đơn chuyển
sang nền kinh tế hàng hoá t bản chủ nghĩa. Quá trình chuyển biến này diễn ra
trong thời kỳ quá độ từ xã hội phong kiến sang xã hội t bản chủ nghĩa. Đây là
loại sản xuất hàng hoá dựa trên bóc lột lao động làm thuê. Chủ t bản nắm
trong tay toàn bộ t liệu sản xuất, sản phẩm làm ra là của chủ t bản. Mục đích
2


của nền kinh tế hàng hoá t bản chủ nghĩa là tạo ra giá trị thặng d càng nhiều
càng tốt. Để chạy theo lợi nhuận, các nhà t bản liên tục đầu t khoa học kỹ
thuật, tính chuyên môn hoá ngày càng cao, sản xuất theo dây chuyền công
nghệ, thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển. Nhng nguồn gốc của giá trị
thặng d là bóc lột sức lao động của công nhân làm thuê. Ngời lao động tuy đợc tự do về thân thể song không có t liệu sản xuất nên phải bán sức lao động
của mình cho các nhà t bản. Chủ nghĩa t bản đã thực hiện đợc một bớc tiến bộ
trong lịch sử, lợi dụng tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động để phục vụ
túi tiền của các nhà t bản, vì vậy đã làm nảy sinh mâu thuẫn giữa t bản và lao
động làm thuê.
Trong điều kiện lịch sử mới, nền kinh tế hàng hoá đợc phát triển với mức
độ cao hơn. Hàng hoá không chỉ tập trung vào tay một số nhà t bản lớn. Với
nhiều thành phần kinh tế mới, nền kinh tế hàng hoá ngày nay đã thu hút đợc
rất nhiều lao động tự chủ hơn,năng động hơn, trình độ khoa học kỹ thuật phát
triển hơn tạo ra đợc nhiều mặt hàng phong phú, đa dạng. Sự đa dạng và phong
phú về chủng loại hàng hoá một mặt phản ánh trình độ cao của năng suất lao
động xã hội, mặt khác cũng nói lên mức độ phát triển của quan hệ trao đổi,
trình độ phân công lao động xã hội và sự phát triển của thị trờng.
Nh vậy, cùng với sự lớn mạnh của lợng sản xuất (biểu hiện ở sự phân
công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất ngày càng phát triển và sâu
sắc) xã hội loài ngời theo Lênin bớc vào một cách tổ chức kinh tế xã hội mới,
tức sản xuất hàng hoá. Nền kinh tế này ngày càng phát triển cao(nền kinh tế

Nh vậy, trao đổi hàng hoá phải căn cứ vào giá trị. Đây chính là nội dung
của quy luật giá trị. Quy luật giá trị là quy luật của sản xuất hàng hoá. ở đâu
có sản xuất hàng hoá thì ở đấy có quy luật giá trị tác động. Quy luật giá trị chi
phối việc sản xuất và trao đổi trong nền kinh tế hàng hoá. Nội dung của quy
luật này đợc biểu hiện trong sản xuất và lu thông. Trong sản xuất, đối với thời
gian hao phí cá biệt thì đại bộ phận là tơng đơng với thời gian lao động cần
thiết, một số ít nhỏ hơn thì lại có một số lớn hơn; đối với toàn xã hội thì tổng
thời gian hao phí cá biệt bằng tổng thời gian lao động xã hội cần thiết. Trong
lu thông, đối với một loại hàng hoá giá cả có thể lên xuống nhng phải xoay
quanh trục giá trị (nguyên nhân la do tác động của qua hệ cung cầu); đối với
tổng hàng hoá trên phạm vi xã hội thì giá trị của nó đợc biểu hiện là: tổng giá
cả hàng hoá bằng tổng giá trị hàng hoá.
Từ nội dung của quy luật giá trị, ta có thể thấy rõ đợc tác dụng của nó
trong nền kinh tế hàng hoá. Thứ nhất, quy luật giá trị có tác dụng điều tiết tự
phát sản xuất (phân phối t liệu sản xuất và sức lao động) và lu thông (nguồn
hàng) qua sự biến động của giá cả thị trờng. Thứ hai, quy luật giá trị kích thích
sự phát triển tự phát khoa học công nghệ, lực lợng sản xuất,hiệu quả và năng

4


suất lao động xã hội vì ai cũng muốn đợc lời nhiều nên phải cải tiến kỹ thuật,
đổi mới quản lý,làm cho giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội. Ngoài ra quy
luật giá trị còn phân hoá ngời sản xuất thành kẻ giàu ngời nghèo, làm cho
quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa phát sinh và phát triển.
Cạnh tranh là động lực, là nguyên tắc cơ bản tất yếu của kinh tế hàng
hoá. Nó tồn tại trên cơ sở những đơn vị sản xuất hàng hoá độc lập và khác
nhau về lợi ích kinh tế. Theo yêu cầu của quy luật giá trị, tất cả các đơn vị sản
xuất hàng hoá đều phải sản xuất và kinh doanh trên cơ sở hao phí lao động xã
hội cần thiết. Trong điều kiện đó, các đơn vị kinh doanh phải ganh đua, đấu

để lại hậu quả nặng nề. Những tàn d thực dân, phong kiến còn nhiều, lại chịu
ảnh hởng nặng nề của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp. Chính vì vậy, nhà
nớc ta khẳng định chỉ có thể phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần mới
phát triển đợc lực lợng sản xuất;mới thúc đẩy sự nghiệp Công nghiệp hoáHiện đại hoá; mới đẩy lùi đợc kinh tế tự nhiên; khắc phục đợc hậu quả của
kinh tế kế hoạch hoá tập trung; mới làm cho kinh tế nớc ta hoà nhập vào kinh
tế khu vực và thế giới.
Đại hội VI của Đảng năm1986 đã đặt nền móng vững chắc cho quan
điểm phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng chủ nghĩa
xã hội ở nớc ta. Cho đến nay đất nớc ta đã đạt một số thành tựu trong công
cuộc đổi mới đất nớc nh: quy mô công nghiệp tăng gấp 4,8 lần, quy mô xuất
khẩu tăng gấp gần 6,9 lần, xuất khẩu gạo đứng thứ ba trên thế giới, tránh đợc
dòng xoáy của cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ khu vực thời kỳ 1997-1998,
tăng trởng GDP năm 2002 là 7,04% đứng thứ hai trong khu vực Châu á-Thái
Bình Dơng.
Bên cạnh đó, nền kinh tế hàng hoá nớc ta còn bộc lộ rất nhiều yếu kém
nh: trình độ khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, hệ thống pháp luật còn nhiều bất
cập
Đảng và Nhà nớc ta đã và đang có những chính sách, giải pháp nhằm
khắc phục những hạn chế trên.
Xu hớng chung của phát triển kinh tế thế giới là sự phát triển kinh tế của
mỗi nớc không thể tách rời sự phát triển và hoà nhập quốc tế. Với quan điểm
hợp tác hai bên cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau,Việt Nam
đã và đang tạo dựng đợc những mối quan hệ tốt đẹp với nhiều nớc trên thế
giới; tham gia vào những tổ chức kinh tế xã hội nh: ASIAN, AFTA, tiến tới gia
nhập WTO.
Năm 2003-năm bản lề của kế hoạch 5 năm 2000-2005 chúng ta đặt ra
rất nhiều mục tiêu và thách thức, trọng tâm vẫn là chuyển dịch cơ cấu kinh tế
6



7


hợp tác hai bên cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau,Việt Nam
đã và đang tạo dựng đợc những mối quan hệ tốt đẹp với nhiều nớc trên thế
giới; tham gia vào những tổ chức kinh tế xã hội nh: ASIAN, AFTA, tiến tới gia
nhập WTO.
Năm 2003-năm bản lề của kế hoạch 5 năm 2000-2005 chúng ta đặt ra
rất nhiều mục tiêu và thách thức, trọng tâm vẫn là chuyển dịch cơ cấu kinh tế
với tầm cao hơn trong lộ trình thực hiện cam kết hội nhập nhằm phát triển một
nền kinh tế toàn diện

8


Kết luận
Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa t bản đều sử dụng cỗ xe kinh tế hàng hoá
để phát triển lực lợng sản xuất. Nhng dới t bản chủ nghĩa không tránh khỏi
quy luật cá lớn nuốt cá bé, bất bình đẳng, bất công. Chúng ta phát triển nền
kinh tế hàng hoá nhằm tăng trởng kinh tế, khuyến khích làm giàu, xoá đói
giảm nghèo,gia tăng về mức sống nhng giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Tất
nhiên đây là công việc cực kỳ khó khăn, phải tạo dựng lâu dài và có rất nhiều
thách thức.
Vấn đề đặt ra là phải chủ động nắm thời cơ, kiên quyết đẩy lùi và khắc
phục những nguy cơ nhằm vợt lên để phát triển nhanh, vững chắc và đúng hớng. Có nh vậy, đất nớc ta mới ngày càng phồn vinh, giàu đẹp hơn.
Theo quan điểm của C.Mác-kinh tế hàng hoá không phải là một phơng
thức sản xuất độc lập mà là một hình thức tổ chức kinh tế tồn tại trong các phơng thức xã hội. Với phạm vi và mức độ khác nhau,tuy cùng là nền kinh tế
hàng hoá nhng bản chất của xã hội quy định đặc điểm của kinh tế hàng hoá
của xã hội đó. Nhà nớc ta là nhà nớc xã hội chủ nghĩa nên vai trò quản lý của
nhà nớc định hớng nền kinh tế hàng hoá theo chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Năm 2003-năm bản lề của kế hoạch 5 năm 2000-2005 chúng ta đặt ra
rất nhiều mục tiêu và thách thức, trọng tâm vẫn là chuyển dịch cơ cấu kinh tế
với tầm cao hơn trong lộ trình thực hiện cam kết hội nhập nhằm phát triển một
nền kinh tế toàn diện
Năm 2003-năm bản lề của kế hoạch 5 năm 2000-2005 chúng ta đặt ra
rất nhiều mục tiêu và thách thức, trọng tâm vẫn là chuyển dịch cơ cấu kinh tế
với tầm cao hơn trong lộ trình thực hiện cam kết hội nhập nhằm phát triển một
nền kinh tế toàn diện

10




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status