Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tác động của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đến nền kinh tế các nước đang phát triển ở châu á sử dụng mô hình vector tự hồi quy theo dữ liệu bảng (PVAR) - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

NGUYỄN VĂN ĐẠT

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN
TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA ĐẾN NỀN KINH TẾ
CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Ở CHÂU Á: SỬ
DỤNG MÔ HÌNH VECTOR TỰ HỒI QUY
THEO DỮ LIỆU BẢNG ( PVAR)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

NGUYỄN VĂN ĐẠT

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN
TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA ĐẾN NỀN KINH TẾ
CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Ở CHÂU Á: SỬ
DỤNG MÔ HÌNH VECTOR TỰ HỒI QUY
THEO DỮ LIỆU BẢNG ( PVAR)

Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


IMF

Quỹ Tiền tệ Quốc tế

IRT

Lãi suất danh nghĩa

NHNN

Ngân hàng Nhà nước

NHTM

Ngân hàng thương mại

NSNN

Ngân sách Nhà nước

PRICE

Chỉ số giảm phát theo GDP

M2

Tốc độ tăng trưởng cung tiền M2

WB


CHƢƠNG 1
GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài:
Nghiên cứu về tác động của chính sách tiền tệ (CSTT) và chính sách tài khóa
(CSTK) lên nền kinh tế luôn là một đề tài rất thú vị và quan trọng, được nhiều nhà kinh
tế học cũng như các nhà hoạch định chính sách quan tâm nghiên cứu. Đặc biệt là ở các
quốc gia có nền kinh tế đang phát triển ở Châu Á, vai trò của CSTT và CSTK lại càng
trở nên quan trọng trong việc điều hành kinh tế vĩ mô quốc gia. Tuy nhiên, hiện nay
vẫn còn khá nhiều quan điểm trái chiều về vai trò và tác động của các chính sách này
đối với nền kinh tế, công cụ nào sẽ hữu hiệu hơn trong việc đảm bảo mục tiêu ổn định
và tăng trưởng của nền kinh tế, và những tranh luận khác về sự cần thiết của việc phối
hợp linh hoạt hai công cụ chính sách này. Mặc dù hiệu quả tương đối của hai chính
sách này đã được nghiên cứu rộng rãi trong nhiều tài liệu, nhưng đến nay các nghiên
cứu lý thuyết và thực nghiệm vẫn chưa thể dẫn tới kết luận thống nhất về mối tương
quan giữa CSTK và CSTT trong việc tác động đến sự phát triển kinh tế, các cuộc tranh
luận vẫn còn tiếp diễn.
Một số nhà kinh tế cho rằng nên sử dụng CSTT và kết luận rằng CSTT có tác
động mạnh đến nền kinh tế và nó cũng chi phối CSTK trong quá trình tác động lên
tăng trưởng và đầu tư. Một số nhà kinh tế khác lại kết luận rằng CSTK có tác dụng hữu
hiệu trong điều hành kinh tế. Trong khi đó, quan điểm phối hợp linh hoạt hai công cụ
chính sách này để điều hành kinh tế quốc gia lại được nhiều nhà kinh tế ủng hộ.
Về thực tiễn, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã ảnh hưởng sâu
rộng đến hầu hết các quốc gia trên thế giới, gây ra những tổn thất vô cùng to lớn đối
với nền kinh tế thế giới nói chung và các nước đang phát triển ở Châu Á nói riêng:
GDP toàn cầu sụt giảm nghiêm trọng, tình hình thất nghiệp gia tăng dẫn đến nhiều vấn


2
nạn xã hội nguy hiểm khác. Chính phủ các nước đứng trước thử thách phải điều hành

chính sách tiền tệ, nhằm giải quyết được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, bài nghiên
cứu tập trung lần lượt trả lời các câu hỏi sau:
 Hiệu quả tác động của cú sốc chính sách tiền tệ (thông qua lãi suất danh nghĩa
và sốc chính sách tài khóa ( thông qua chi tiêu chính phủ) đến nền kinh tế như
thế nào?
 Chính sách nào sẽ có tác động quan trọng hơn, hiệu quả hơn đến nền kinh tế?
 Sự lan truyền, tác động tương quan giữa CSTK và CSTT như thế nào?
1.3 Phƣơng pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng nghiên cứu định lượng để kiểm tra tác động của CSTT và CSTK
lên các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế. Kết hợp việc tóm tắt, hệ thống các lý luận kinh tế
học về CSTT và CSTK để làm nền tảng lý thuyết cho bài nghiên cứu.
Tác giả sử dụng mô hình nghiên cứu với giả định là tăng trưởng kinh tế, lạm
phát chịu ảnh hưởng của các biến số vĩ mô như: Lãi suất, chi tiêu chính phủ, cung tiền
và ngoài ra còn ảnh hưởng lãi suất ngân hàng trung ương của Mỹ .
Sử dụng mô hình tự hồi quy vecto theo dữ liệu bảng

Đầu tiên kiểm định tính dừng của các biến bằng và chạy mô hình VAR với các
bậc dừng tìm thấy. Tiếp theo, đề tài tìm độ trễ tối ưu cho mô hình VAR dựa vào các
tiêu chuẩn như LR, AIC và xem xét vòng tròn đơn vị và tương quan của từng độ trễ.
Sau khi có độ trễ phù hợp, tác giả chạy mô hình VAR với độ trễ đó. Từ mô hình VAR
cho ra kết quả hàm phản ứng đẩy và tiến hành kiểm định phân rã phương sai.
.Bài nghiên cứu sẽ tiến hành kiểm định tác động của chính sách tiền tệ, sau đó là
chính sách tài khóa. Đồng thời tìm hiểu tác động lan truyền giữa hai chính sách trong
quá trình tác động đến nền kinh tế.


4
1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Phân tích các biến số vĩ mô của nền, các công cụ điều
hành chính sách kinh tế bao gồm tăng trưởng kinh tế, tổng chi tiêu của Chính phủ ( đại

Chƣơng 5: Kết luận và khuyến nghị và hướng phát triển của đề tài.


6
CHƢƠNG 2

TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ
LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA
2.1.1 Khái niệm và phân loại chính sách tài khóa:
2.1.1.1. Khái niệm:
Chính sách tài khóa (hay chính sách tài chính, chính sách ngân sách) là hệ thống
các chính sách của chính phủ về mức huy động nguồn tài chính và chi tiêu của ngân
sách trong khoảng thời gian nhất định, bao gồm tập hợp các quan điểm, cơ chế và
phương thức huy động các nguồn hình thành ngân sách quốc gia (chủ yếu là các nguồn
thu về thuế), nhằm mục tiêu phục vụ các khoản chi lớn của nhà nước theo kế hoạch
từng năm tài chính, như là chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, quỹ bổ sung dự trữ
quốc gia, trả nợ trong và ngoài nước đến hạn.
Cũng có thể hiểu chính sách tài khóa là các chính sách can thiệp của Chính phủ
đến hệ thống thuế khóa và chi tiêu của chính phủ nhằm đạt được các mục tiêu vĩ mô
của nền kinh tế như tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, ổn định giá cả và kiềm chế lạm
phát. Các hành động như đánh thuế để tăng nguồn thu hoặc gia tăng chi tiêu để cung
cấp hàng hóa công là biện pháp liên quan đến chính sách tài khóa.
2.1.1.2. Phân loại:
Có nhiều tiêu chí để phân loại các hình thức của chính sách tài khóa. Mỗi tiêu
chí sẽ làm rõ hơn về bản chất cũng như hướng tác động của chính sách tài khóa đến
nền kinh tế.
Căn cứ theo tác động của CSTK đến tổng thể chi tiêu và các nguồn thu của ngân
sách đến ngân sách nhà nước, CSTK có thể được chia thành chính sách tài khóa cân
bằng, chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tài khóa thặt chặt.

trong thời kỳ tăng trưởng cao, thông qua các công cụ như bảo hiểm, thuế thu nhập, an
sinh xã hội...Loại hiệu quả ổn định này xuất phát từ nội tại của chính sách tài chính, có


8
thể tự phát huy tác dụng điều tiết, không cần có bất cứ tác động nào của chính phủ.
Tính tự ổn định của nó được thực hiện bởi hoạt động của cơ chế thị trường, làm cho
các nguồn tài chính được phân phối một cách tự do và nhanh chóng giữa các chủ thể
kinh tế khác nhau.
Tuy nhiên, trong một xã hội dân chủ, kinh tế không đảm bảo sự phân phối thu
nhập phối hợp với mục tiêu dân chủ, chính vì vậy cần có sự điều tiết của chính phủ. Ở
các nước đang phát triển thường ít có các công cụ bình ổn tự động. Bởi các khoản bảo
hiểm thất nghiệp còn hạn chế, các khoản chi chuyền nhượng chiếm một phần nhỏ trong
ngân sách. Chi tiêu chính phủ và tiền lương chiếm một phần lớn chi tiêu của quốc gia.
CSTK có sự điều chỉnh của nhà nƣớc là một loại chính sách tài chính mà bản
thân nó không thể tự phát huy tác dụng điều tiết nền kinh tế mà cần có tác động bên
ngoài. Tuy nhiên, sự điều tiết của Chính phủ cũng cần trong một giới hạn khuôn phép,
nếu điều tiết quá mức sẽ làm mất đi tác dụng điều tiết kinh tế vĩ mô.
Căn cứ theo hướng tác động vào chu kỳ phát triển của nền kinh tế: Chính sách
tài khóa thuận chu kỳ và nghịch chu kỳ:
Khi các nước tiến hành chính sách tài khóa mở rộng vào lúc có lạm phát hay
tiến hành chính sách tài khóa thắt chặt khi có suy thoái, thì người ta gọi các chính sách
tài khóa đó là theo chu kỳ hay thuận chu kỳ. Ngược lại là chính sách tài khóa phản chu
kỳ hay còn gọi là nghịch chu kỳ.
Các nước phát triển đạt được các chính sách ngược chu kỳ thông qua các công
cụ ổn định tự động. Bảo hiểm thất nghiệp và các khoản chuyển nhượng xã hội tăng lên
khi thất nghiệp cao. Đối với các nước đang phát triển thường không có khoản bảo hiểm
thất nghiệp, các khoản chuyển nhượng xã hội cũng chiếm phần nhỏ, cho nên các nước
đang phát triển thì chính sách tài khóa thường là ngược chu kỳ.


tục tăng lên. Chẳng hạn, thông tin chứa đựng trong giá cả và dịch vụ sẽ khó giải thích
hơn khi mức giá chung đều thay đổi, do vậy những người tiêu dùng, nhà kinh doanh và
Chính phủ trở nên rất khó ra quyết định chi tiêu của mình.
-

Tạo công ăn việc làm đầy đủ cho người lao động:

Tạo công ăn việc làm đầy đủ là mục tiêu của tất cả các chính sách vĩ mô trong
đó có chính sách tài khóa, cũng như chính sách tiền tệ. Việc làm nhiều hay ít, tăng hay
giảm, nói chung chủ yếu phụ thuộc vào tình hình tăng trưởng kinh tế. Khi nền kinh tế


10
được mở rộng và phát triển thì việc làm được tạo ra nhiều hơn, thất nghiệp giảm, và
ngược lại, khi nền kinh tế trì trệ thì công ăn việc làm giảm, thất nghiệp tăng. Tuy nhiên
cũng cần lưu ý rằng, khi tăng trưởng kinh tế đạt được do kết quả của cải tiến kỹ thuật
thì việc làm có thể không tăng mà còn giảm.
-

Cân bằng cán cân thương mại.

Đây cũng là mục tiêu mà các chính sách vĩ mô khác cần đạt được để điều tiết
kinh tế, hướng tới phát triển kinh tế bền vững và ổn định.
2.1.3 Công cụ của chính sách tài khóa:
Đề đạt được những mục tiêu của mình, chính sách tài khóa được thiết lập dựa
trên nhiều công cụ khác nhau, trong đó hai công cụ chính của CSTK là thuế và chi tiêu
chính phủ. Những thay đổi về mức độ của thuế và chi tiêu chính phủ có thể ảnh hưởng
đến tổng thể nền kinh tế thông các biến số tài chính: Tổng cầu và mức hoạt động kinh
tế, kiểu phân bố nguồn nhân lực, phân phối thu nhập.
Thuế: Là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà

Trong bài nghiên cứu, quan điểm của tác giả cho rằng tư duy của học thuyết
Keynes vẫn còn phù hợp để tìm hiểu về tác động của chính sách tài khóa trong việc
điều tiết nền kinh tế, theo đuổi những mục tiêu kinh tế vĩ mô. Học thuyết của trường
phái Keynes dựa trên tư tưởng ủng hộ, đề cao vai trò của vai trò của Chính phủ trong
việc điều hành nền kinh tế. Keynes cho rằng chính phủ nên sử dụng quyền hạn của
mình để tăng tổng cầu bằng cách tăng chi tiêu và tạo ra môi trường lưu thông tiền tệ dễ
dàng, từ đó kích thích kinh tế, tạo ra công ăn việc làm, tăng thêm của cải trong xã hội.
Tác động của chính sách tài khóa có thể ảnh hưởng rất sâu rộng đến nền kinh tế thông
qua các đại lượng như chi tiêu cá nhân, đầu tư của doanh nghiệp, tỷ giá hối đoái, mức
thâm hụt ngân sách, thậm chí là cả lãi suất - yếu tố mà được coi là chịu tác động mạnh
của chính sách tiền tệ.
Theo Keynes, chính sách tài khóa là công cụ chính điều chỉnh kinh tế, tất cả các
vấn đề quan trọng nhất của tái sản xuất mở rộng kinh tế được giải quyết trên quan điểm
cầu, trái ngược với các nhà kinh tế học tiền nhiệm cho rằng giải quyết cung mới là vấn
đề căn bản. J.M.Keynes cũng khẳng định, chi tiêu nhà nước là công cụ can thiệp cơ bản


12
của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế mang tính chu kỳ và khắc phục khủng hoảng.
Quy mô, cơ cấu của chi tiêu là yếu tố cực kì quan trọng và không thể tách rời với yếu
tố cầu. Cầu chính phủ sẽ góp phần phát triển các hoạt động kinh doanh, J.M.Keynes
phê phán nguyên tắc kinh tế chính trị học cổ điển về sự không cần thiết can thiệp của
nhà nước đối với Nhà nước.
Theo Jones (2008) thì lý thuyết của Keynses gồm ba trụ cột: sử dụng các đại
lượng tổng gộp, vai trò quyết định của tổng cầu, tầm quan trọng của sự kỳ vọng của
các tác nhân kinh tế. Thông điệp của Keynes là kêu gọi tính chủ động chính sách kinh
tế vĩ mô của chính phủ, thông qua chính sách tài khóa mở rộng hay thu hẹp, ổn định
nền kinh tế .
Tổng sản lượng hay tổng thu nhập của nền kinh tế nhờ vào thực hiện hóa những
quyết định chi tiêu chính là: Chi tiêu của hộ gia đình, chi tiêu cho đầu tư, mở rộng kinh

tế. Tuy nhiên, khi chính phủ vượt qua một ngưỡng cho phép, sẽ cản trở tăng trưởng
kinh tế do sự phân bổ nguồn lực một cách không hiệu quả.
Chi tiêu chính phủ với nhiều hạng mục với các chức năng khác nhau, như chi
cho tiêu dùng của chính phủ cung cấp hàng hóa và dịch vụ phi thị trường, chi tiêu cho
sản xuất của chính phủ cung cấp các hàng hóa thị trường (trường hợp các doanh nghiệp
nhà nước trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh) và chi tiêu cho đầu tư phản ánh vốn
đem lại lợi ích dài hạn như cơ sở hạ tầng, đường xá, trường trạm…
Hiện nay có quan điểm chính liên quan đến tác động của chi tiêu chính phủ đến
tăng trưởng kinh tế.
- Trường phái thứ nhất cho rằng chi tiêu chính phủ có tác động tích cực và thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc thực thi các chức năng pháp luật, cung cấp hàng
hóa và dịch vụ công, hàng hóa và dịch vụ có ngoại ứng tích cực, và những dịch vụ hỗ
trợ thị trường. Theo Knack và Keefer (1995), chi tiêu cho các hoạt động thực thi pháp
luật và trật tự sẽ tạo dựng môi trường kinh tế - xã hội ổn định tạo điều kiện phát triển
kinh tế. Bên cạnh đó, các chương trình chi tiêu của chính phủ cung cấp hàng hóa công


14
có giá trị như quốc phòng, công nghệ, truyền thông, cơ sở hạ tầng và hàng hóa ngoại
ứng tích cực như y tế và giáo dục đều là những yếu tố cơ bản quyết định cơ bản kinh tế.
- Quan điểm thứ hai cho rằng chi tiêu chính phủ lại có tác động tiêu cực, làm
giảm tốc độ tăng trưởng bởi các nguyên nhân như: chi tiêu chính phủ chèn lấn đầu tư
công, chiếm chỗ hoạt động của tư nhân, làm biến dạng phân bổ nguồn lực hay ức chế
sự đổi mới trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Khi chính phủ chi tiêu thì cần có
nguồn tiền được lấy từ nguồn khác hoặc những cách sử dụng khác như vay nợ. thuế
làm giảm hành vi sản xuất vì đánh vào thu nhập từ lao động, tiết kiệm, đầu tư hay
những hình thức khác. Lao động giảm dẫn đến giảm tổng cung trong giảm, dẫn đến
tổng cầu giảm. Thuế thu nhập doanh nghiệp làm giảm chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận
sau thuế của doanh nghiệp và dẫn đến tổng cung giảm.
- Trường phái thứ ba cho rằng tác động của chi tiêu chính phủ đến tăng trưởng

vậy chu kỳ kinh tế, đặc biệt là pha suy thoái sẽ khiến cả khu vực tư nhân lẫn khu vực
công cộng gặp nhiều khó khăn. Khi đó sản lượng giảm, thất nghiệp tăng cao, các thị
trường từ hàng hóa dịch vụ đến thị trường vốn thu hẹp dẫn đến những tiêu cực về kinh
tế xã hội.
Khi nền kinh tế suy thoái: biểu hiện tình trạng sản lượng quốc gia ở mức thấp
hơn mức sản lượng tiềm năng, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. Chính phủ áp dụng chính
sách tài khóa mở rộng bằng cách tăng chi ngân sách hoặc giảm thuế hoặc cả hai. Kết
quả là làm tổng cầu tăng lên, sản lượng tăng, tạo thêm nhiều việc làm và giảm thất
nghiệp.
Khi nền kinh tế có lạm phát cao: biểu hiện sản lượng quốc gia vượt quá mức
sản lượng tiểm năng, đồng thời chỉ số giá cũng tăng cao tác động xấu đến nền kinh tế.
Chính phủ cần áp dụng chính sách tài khóa thu hẹp, cụ thể giảm chi ngân sách, tăng
thuế. Kết quả là làm giảm tổng cầu, sản lượng giảm, lạm phát giảm và việc làm có xu
hướng giảm.
Như vậy hướng tác động của chính phủ chủ yếu tập trung vào yếu tố tổng cầu xã
hội. Phần nghiên cứu tiếp theo trình bày những lý thuyết về tổng cầu xã hội, sự tác
động của chi tiêu chính phủ đến các thành phần tổng cầu.


16
2.1.4.4 Phân tích tác động của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô:
-

Chính sách tài khóa và tổng cầu xã hội:

Trong điều kiện nền kinh tế mở sử dụng các khái niệm từ phân tích cung cầu,
Keynes phân tích tổng cầu nền kinh tế xã hội thành các yếu tố chi tiêu như sau :
AD=C+I+G+(X-M)
Trong đó:
AD: Tổng cầu nền kinh tế

Bảng 2.1 Tóm tắt Nội dung quản lý cầu của chính phủ
CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA THẮT CHẶT

THAY ĐỔI CÁC YẾU TỐ CỦA CẦU

Chính sách tiêu dùng

C↓

Chính sách đầu tư

I↓

Chính sách tài khóa

T↑;G↓ hoặc bội chi↓

Chính sách ngoại thương

M↑;X↓ hoặc bội chi↑

CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA MỞ RỘNG
Chính sách tiêu dùng

C↑

Chính sách đầu tư

I↑


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status