Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nói đến nền văn minh cổ đại Trung Quốc thì quả là rộng lớn
biết bao hệ t tởng xuất hiện và tồn tại mãi cho đến ngày nay. Từ
thuyết âm dơng ngũ hành, học thuyết của Lão Tử, Khổng Tử Thế
nhng trong các học thuyết ấy, không ai có thể chối cãi đ ợc rằng học
thuyết Nho gia, mà ngời khởi xớng là Khổng Tử có vị trí quan trọng
hơn hết trong lịch sử phát triển của Trung Quốc nói chung và các n ớc
Đông Nam á nói riêng. Kể từ lúc xuất hiện từ vài thế kỷ tr ớc công
nguyên cho đến thời nhà Hán (Hán Vũ Đế) Nho giáo đã chính thức
trở thành hệ t tởng độc tôn và luôn luôn giữ vị trí đó cho đến ngày
cuối cùng của chế độ phong kiến. Điều đó đã minh chứng rõ rằng;
Nho giáo hẳn phải có những giá trị tích cực đặc biệt, nếu không sao
nó có thể có sức sống mạnh mẽ đến nh vậy.
Đại cách mạng văn hoá, Trung Quốc đã tiến hành loại trừ di
sản Nho gia ra khỏi đời sống tinh thần xã hội, song lịch sử cho thấy,
đó là một sai lầm nghiêm trọng. Gần đây, Trung Quốc đã đánh giá
lại giá trị văn hoá xã hội to lớn của Nho gia. Giới khoa học ph ơng
Đông và cả phơng Tây đều quan tâm nghiên cứu. Nhiều cuộc hội
thảo mang tính quốc tế đợc tổ chức, nhiều sách báo xuất bản để bàn
về Nho giáo.
Đối với nớc ta đã chịu ảnh hởng của Nho gia khá sớm, có lúc
giai cấp phong kiến nớc ta đã lấy hệ t tởng thống trị xã hội. Mặc dù
có nhiều mặt hạn chế, song có thể nói có nhiều t tởng của Nho gia đã
trở thành di sản văn hoá của dân tộc ta.
Nho gia là một học thuyết triết học chính trị xã hội, tôn giáo
lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc và một số quốc gia khác. Từ thế
kỷ 2 trớc công nguyên đến 1911, Nho gia đợc giai cấp phong kiến
lấy làm hệ t tởng thống trị xã hội phong kiến Trung Quốc và một số
nớc phơng Đông trong đó có Việt Nam. Đây là một vấn đề có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn trong lịch sử cũng nh trong xã hội
luận với thực tiễn.
5. Kết cấu của đề tài.
Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài
có 2 chơng với 6 tiểu mục.
2
Nội dung
Chơng 1:
T tởng đạo đức chính trị của Nho gia
1.1. Khái quát đặc điểm lịch sử xã hội Trung Quốc thời
Xuân Thu Chiến Quốc.
Sự phát triển rực rỡ của triết học Trung Quốc cổ đại cũng là lúc
xã hội Trung Quốc bớc vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, thời kỳ tan
rã của chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến sơ kỳ đang lên.
* Kinh tế: Thời Xuân Thu, nền kinh tế Trung Quốc đang
chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt. Việc dùng bò kéo
cày đã trở thành phổ biến. Trong sách Quốc ngữ có viết: Đồng Thau
để đúc kiêm kích, sắt để đúc quả cân phát minh mới về kỹ thuật
khai thác và sử dụng đồ sắt đã đem lại những tiến bộ mới trong việc
cải tiến công cụ và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp. Diện tích đất đai
canh tác nhờ đó đợc mở rộng, kỹ thuật trồng trọt đợc cải tiến. Mặt
khác nhờ công cụ sản xuất bằng sắt phát triển và thuỷ lợi mở mang,
ruộng đất do nông nô vỡ hoang biến thành ruộng t ngày một nhiều
bọn quý tộc có quyền thế cũng chiếm dần ruộng của công xã làm
ruộng t. Chế độ tỉnh điền ruộng đất của công xã dần tan rã. Sau đó,
chế độ t hữu ruộng đất còn đợc pháp luật Nhà nớc thừa nhận và bảo
vệ.
Triệu, Ngụy. Khi đó Trung Quốc bớc vào thời kỳ Chiến Quốc.
Thời Chiến Quốc đã có bớc mạnh mẽ về kinh tế. Nghề luyện
sắt đạt tới trình độ khá cao, hình thành trung tâm luyện sắt nh Hàm
Đan nớc Triệu, Đờng Khê nớc Hàn, Lâm Truy nớc Tề Tiền tệ bằng
kim loại ra đời. Thơng nghiệp và các Trung tâm buôn bán trao đổi
hàng hoá hng thịnh. Đô Thành các nớc và một số Thành ấp lập nên
những tục lộ giao thông trọng yếu đã biến thành những thành đô sầm
uất nh Hàm Dơng nớc Tần, Thọ Xuân nớc Sở Tuy nhiên chiến tranh
tàn khốc trên qui mô lớn và liên tục giữa các n ớc Ch hầu đã làm cho
đời sống nhân dân lao động ngày càng cùng cực hơn. Mạnh Tử đã
viết: Đánh nhau tranh thành, giết ngời thây chết đầy thành; Đánh
nhau giành đất, giết ngời thây chết đầy đồng (Mạnh Tử, Ly Lâu thợng).
Nh vậy, thời Xuân Thu ngời ta gọi cục diện ngũ bá (5 nớc lớn
tranh giành nhau quyền bá chủ: Tề, Tần, Tấn Sở, Tống sang thời
Chiến Quốc thêm hai nớc Ngô, Việt). Trong xã hội tầng lớp địa chủ
có t hữu tài sản, có địa vị kinh tế xã hội (hiển tộc) họ là những con
ngời do tài năng, sản xuất kinh doanh mà giàu có nh ng không có
quyền, họ chỉ có địa vị kinh tế, cha tham gia chính quyền. Họ mâu
thuẫn giai cấp đại quí tộc, thị tộc nhà Chu đang cầm quyền, mâu
thuẫn lớp quí tộc nhà Chu đang chuyển sang giai tầng mới với lớp
quí tộc bảo thủ của nhà Chu.Mâu thuẫn quí tộc nhỏ với tầng lớp mới
lên và giai cấp đại quí tộc thị tội đang nắm quyền. Mâu thuẫn tầng
lớp sản xuất nhỏ, thợ thủ công, thơng nhân với giai cấp quí tộc, thị
4
tộc nhà Chu luôn luôn giữ xã hội ở trạng thái thống trị kiểu nhà Chu.
Mâu thuẫn nông dân các công xã thuộc các tội bị nhà Chu nô dịch
với nhà chu và tầng lớp mới lên đang ra sức bóc lột tận dụng sức lao
động của họ. Những mâu thuẫn này cần giải quyết đó là điều kiện
Hán Nho
Tống Nho
5
Nho Minh Thanh
* Nho Nguyên Thuỷ: đợc tính từ khi xuất hiện đến năm 224 trớc công nguyên (giai đoạn đầu tiên). Tiêu biểu là các doanh nho,
Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử nhng nổi trội nhất là Khổng Tử vói
thuyết nhâ định thắng thiên, học thuyết lễ dùng nhân trị. Đặc biệt
ông muốn tạo ra bớc ngoặt trong cai trị, những ngời đó có đủ khả
năng giải quyết đợc những yêu cầu của xã hội, những ngời đó là
những ngời có năng lực, tri thức để giải quyết vấn đề đó. Sau này ng ời ta gọi ông là vạn thế sự (thầy muôn đời).
Mạnh Tử: duy tâm hơn Khổng Tử Tất cả có ở trong ta ta
muốn biết chỉ cần thành tâm, thành tâm hiểu đợc vũ trụ. Ông quan
niệm bản chất con ngời là thiện Nhân tri sơ tính bản thiện. Nhân,
lễ, nghĩa, trí tín có sẵn trong con ng ời. Mạnh Tử tiến bộ hơn Khổng
Tử. Ông nêu ra quan điểm xây dựng nền chính trị hợp lòng dân.
Trong t tởng Mạnh Tử ít nhiều đề cập đến vai trò kinh tế vật chất,
thực hiện t tởng hằng sản để hằng tâm (tạo ra tài sản nhỏ để ng ời ta
yên tâm).
Tuân Tử ở giai đoạn vua Triệu. Ông là ng ời theo học thuyết của
Khổng Tử đề cao nhân, nghĩa, lễ nhạc, chủ trơng chủ nghĩa chính
danh trọng vơng kinh bá, nhng lại tơng phản với t tởng của Khổng
Tử và Mạnh Tử cả về thế giới quan lẫn triết học chính trị xã hội.
T tởng của Tuân Tử vừa dùng nhân trị và pháp trị. Khi nói về con ng ời quan điểm của Tuân Tử ngợc với quan điểm của Mạnh Tử cho
rằng: bản chất con ngời là ác Nhân tri sơ tính bản ác. Ông cho
rằng con ngời hám lợi nên phải dùng pháp để trị.
Đây là giai đoạn đầu tiên quan điểm của Nho mang tính nhân
đạo còn mềm mại, uyển chuyển:
Khổng Tử khi nói quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ nh : quân
mình. Nhng t tởng Nho giáo vẫn ảnh hởng sâu đậm trong xã hội
Trung Quốc.
1.3. Nội dung t tởng đạo đức chính trị của Nho gia.
* Quan niệm về chính trị: Đạo Khổng Tử cốt lấy đạo nhân làm
gốc; lấy hiếu - đế, lễ nhạc làm cơ bản cho sự giáo hoá để gây
thành đạo nhân; lấy chính trị làm cái công dụng của đạo nhân mà thi
thố ra ở đời. Ngài nói rằng: Nhân đạo mãn tính tại nhân: Thủ nhân
dĩ thân, tu thân dĩ đoạ, tu đạo dĩ nhân cái nhanh thành hiệu của đạo
ngời là việc chính trị, cái nhanh thành hiệu quả đạo đất là sự mọc
cây cối. ấy việc chính trị cũng nh ây lau, cây sậy vậy. Cho nên làm
việc chính trị cốt ở dùng ngời hiều; Sửa mình mà dùng ngời hiền, lấy
đạo mà sửa mình, lấy nhân mà sửa đạo. Có sửa đ ợc mình cho ngay
chính thì những kẻ hiền tài mới theo giúp mình, có ngời hiền tài giúp
mình thì việc thực hiện rất chóng có công hiệu. Đạo nhân vốn là cái
gốc của việc chính trị, cho nên thánh hiền cần phải sửa mình cho đến
7
bậc nhân để đem cái đạo của mình mà thi hành ra khắp thiên hạ. Đây
ta phải biết rằng quan niệm Nho giáo về đờng chính trị cho sự trị
loạn trong xã hội do ngời hành chính, chứ không phải chính thể. Ngời hành chính mà có tài, có đức, thì nớc đợc trị; Ngời hành chính
không có tài, không có đức, thì nớc phản loạn. Bởi thế, cho nên Nho
giáo muốn rằng lúc nào ngời cầm quyền hành chính cũng phải kính
cẩn, lo sửa mình cho ngay chính để dùng ngời hiếu mà làm việc nớc,
việc dân.
Việc chính trị là việc khó, ngời có trách nhiệm trị nớc trị dân
cần phải lấy sự kinh nghiệm làm trọng. Phải xem xét cái đạo của
thánh hiền đời trớc là thế nào, rồi mới có thể theo mà sửa đổi mọi
việc đợc. Vì rằng thánh hiền là bậc rất thông minh, hiểu rõ thiên lý,
đạt đợc nhân sự, biết lấy điều nhân nghĩa, lễ, trí mà trị dân trị n ớc. Những công việc của các bậc ấy tích luỹ đã lâu đời và đã có kinh
thấy ấy. Ông vua chỉ là một phần trong toàn thể vì có tài, có đức làm
đợc cái địa vị tôn quí để giữ cho toàn thể đợc điều hoà yên ổn. Hễ
ông vua làm điều gì trái với lòng dân, tức là trái với mệnh trời
Thành thử ra ông vua tuy đối với trời đ ợc thay quyền trời nhng đối
với dân lại phải chịu hết cả trách nhiệm. Mà dân thì tuy phải chịu
quyền ông vua cai trị nhng vẫn có quyền bắt vua phải theo điều lành
mà làm vì rằng Thiên căng vu dân, dân tri sở dục, thiên tất tòng
chi: Trời thơng dân, dân muốn điều gì, trời cũng theo (Th: Thái Thệ
Thợng). Xem nh thế thì chính thể của Khổng giáo tuy là chính thể
quân chủ, nhng cái quyền ông vua đối với dân không khác gì cái
quyền ngời cha đối với các con. Ngời làm vua trong nớc phải có
nhân có đức, lo cho dân phải an c lạc nghiệp, đợc cờng thịnh vẻ vang
nh cha lo cho con vậy.
Phần những ngời làm vua làm quan mà biết làm những điều
nhân nghĩa đạo đức thì tự nhiên thiên hạ ngời ta theo về mình mà
trông vào mình mà bắt chớc. Khổng Tử muống lấy đức mà hoá ngời
hơn là dùng hình pháp mà trị ngời. Ngài nói Đạo chi dễ chính, tề
chi dễ hình, dân miễn chi vơ sỉ; đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ
thả cách: dùng chính trị mà khiến, dùng hình pháp mà tề nhất thì dân
khỏi tội, nhng không có lòng hổ thẹn mà lại cố làm điều hay (Luận
ngữ: vi chính, II).
Hễ bao giờ dùng đức mà không hoá đợc, thì mới dùng đến
hình.Nhng dùng hình là bất đắc dĩ để trừng trị những kẻ không thể
hoá đợc, chứ cái mục đích là cốt không dùng đến hình.
Ngời quân tử làm việc chính trị không những là cần phải có
đức để hoá dân mà thôi, nhng lúc nào cũng kính cẩn, làm việc gì
cũng vụ lấy việc giản dị. Trị dân mà lấy việc giản dị để khiến dân thì
không phiền dân, không nhiễu dân, dân đợc an c lạc nghiệp, vui lòng
mà theo ngời trên sai khiến việc chính trị có ba điều hệ trọng là: làm
cho dân nhiều, làm cho dân giàu và dạy cho dân biết lễ nghĩa. Việc
khiến cho không có điều gì chếch lệch. Trung dung là cái thể trung
bình ở vào thái độ nào cũng giữ đợc cái điều hoà, cái bình hành. Cao
đến đâu cũng có trung dung, không ở vào cảnh ngộ nào mà không có
trung dung. Song muốn cho đúng lẽ trung dung, không ở vào cảnh
ngộ nào là không có trung dung. Song muốn theo cho đúng cái cao,
cái thấp, rồi mới phân biệt cái điều hoà giữa mà theo Đạo Trung
dung tức là cái trật tự điều hoà của trời đất.
Nói tóm lại đạo của Khổng Tử là đạo trung dung của quân tử,
tuy không huyền diệu, siêu việt nhng cũng cao minh lắm mà lại rất
10
thích hợp với chân lý. Thật là cái đạo xử thế rất hay, rất phải ai cũng
có thể theo đợc và có thể thi hành ra đời nào cũng đợc. Đạo ấy tóm
lại rất rõ trong mấy lời sau: Tôn đức tính, chuộng học vấn, rất
quảng đại mà không sót cái tinh vi, cực cao minh mà nói theo Trung
Dung, ôn lại những điều cũ và biết thêm điều mới, đôn đốc cái hậu
tình mà sùng thợng lễ nghi (Trung dung).
11
Chơng 2:
ảnh hởng của Nho gia đối
với hệ t tởng Việt Nam thời kỳ phong kiến
2.1. Sự du nhập Nho giáo vào Việt Nam.
Nho giáo du nhập vào Việt Nam thời Bắc thuộc không còn là
Nho giáo Khổng Mạnh Nguyên Thuỷ mà là Nho giáo đã đ ợc Hán
nho cải tạo cho thích hợp với chế độ phong kiến trung ơng tập quyền
tập quán, nhân dân ta không thể không phản ứng lại hệ t tởng thống
trị do kẻ xâm lợc đa vào nhng dân tộc ta lại biết tiếp thu những tinh
hoa văn hoá của nớc ngoài làm phong phú nền văn hoá vốn có của
dân tộc.
2.2. ảnh hởng của Nho giáo ở Việt Nam từ thế kỷ X đến thế
kỷ XIV.
Từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV bên cạnh sự thịnh trị của Phật
giáo, kể đến là Đạo giáo, Nho giáo tuy cha đợc thực sự coi trọng, nhng đã tiếp tục phát triển và dần khẳng định chỗ đứng của mình trong
xã hội Việt Nam.
Nếu trong hơn một nghìn năm Bắc thuộc và một thế kỷ sau
ngày đất nớc ta giành đợc độc lập, Nho giáo vẫn cha có vai trò gì
trong xã hội Việt Nam, thì đột nhiên từ thời Lý, Trần, Nho giáo đ ợc
coi trọng, và có điều kiện phát triển mạnh mẽ, cho đến thời Lê Sơ thì
giành đợc địa vị độc tôn.
Dới các triều đại Ngô Đinh Lê trong buổi đầu của việc xây
dựng Nhà nớc phong kiến, Nho giáo cha thịnh. Khi đó, trên lĩnh vực
t tởng chính trị và xã hội ở nớc ta, Nho giáo cha có vai trò ảnh hởng
đáng kể.
Sang thời kỳ nhà Lý, tình hình chính trị trong nớc ổn định lâu
dài cùng với nhu cầu củng cố chính quyền, duy trì trật tự xã hội
phong kiến đào tạo tuyển lựa quan lại, Nho giáo có điều kiện phát
triển. Để xây dựng Nhà nớc quân chủ tập quyền và củng cố chế độ
phong kiến chỉ có thể dựa vào Nho giáo. Những căn cứ lý luận và bài
học kinh nghiệm của công việc tổ chức, quản lý Nhà n ớc trong giáo
lý, kinh điển của Nho giáo đã ghi dấu ấn trong các bài chiếu, chế,
biểu, hịch của những ngời cầm đầu bộ máy Nhà nớc phong kiến Việt
Nam. Trong chiếu rời đô viết: Ngày xa nhà Thơng đến đời Bàn Canh
năm lần dời đô, nhà Chu đến Thành Vơng ba lần rời đô, há phải các
vua đời tam đại ấy theo ý riêng tự rời đô xằng bậy đâu. Làm nh thế
2.3. ảnh hởng của Nho giáo đối với hệ t tởng phong kiến
Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX.
* Thời Lê Sơ: Nho giáo chi phối hầu hết mọi lĩnh vực, tr ớc hết
là giáo dục từ địa phơng đến triều đình. Lê Thánh Tông cho lập bia
tiến sĩ ở Quốc Tử Giám. Thời Lê Sơ, Nho giáo làm hệ t tởng chủ đạo.
Để minh hoạ điều này ta đi sâu vào một nhà t tởng tiêu biểu là
Nguyễn Trãi. Vấn đề con ngời trong t tởng Nguyễn Trãi đợc tập
trung ở khái niệm nhân nghĩa và đạo làm ngời. Nhân nghĩa ở ông là
một đờng lối chính sách cứu nớc trong kháng chiến chống giặc cũng
nh trong xây dựng hòa bình: Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy
trí nhân để thay cờng bạo. T tởng nhân nghĩa còn thể hiện ở việc lên
án chiến tranh, yêu hoà bình: Đồ binh khí là thứ hung bạo, đánh
nhau là việc nguy hiểm, thánh nhân bất đắc dĩ mới dùng đến. T tởng
nhân nghĩa của ông còn thể hiện ở t tởng lấy dân làm gốc Chở
thuyền lật thuyền cũng là dân. Đạo làm ngời của ông là phải vơn tới
14
mẫu ngời quân tử, hào kiệt, đại trợng phu phải có ba đức tính: Nhân,
trí, dũng. Đạo làm ngời của ông đợc phát triển từ đạo là ngời của
Nho.
Lê Thánh Tông về thế giới quan cũng nh Nho giáo, ông đa ra t
tởng mệnh trời để lý giải mọi hiện t ợng. Ông là ngời chủ trơng độc
tôn Nho giáo, ông đứng trên lập trờng dân tộc để tiếp thu Nho giáo,
nghĩa là ông chỉ tiếp thu kế thừa có chọn lọc những cái có lợi cho
thực tiễn xây dựng đất nớc lúc bấy giờ mà bỏ qua tính hệ thống, nền
tảng của Nho giáo Trung Quốc. Chẳng hạn ông nói đến tam cơng ngũ
thờng nhng lại không đề cập đến Thiên nhân t ơng cảm của Đổng
Trọng T. Đóng góp quan trọng của Lê Thánh Tông là xây dựng đợc
đờng lối trị có thể đáp ứng đợc đòi hỏi của phát triển xã hội lúc bấy
Nói tóm lại, Ngũ luân là trung tâm là tam c ơng, ngũ thờng là
nền tảng đạo đức triều Nguyễn, Trung hiếu là quan trọng nhất trong
ngũ luân. Nhìn chung thế giới quan và nhân sinh quan thời Nguyễn,
đặc biệt là tầng lớp trên nh vua quan trí thức là thế giới quan và nhân
sinh quan của Nho giáo đợc ứng dụng, cải biên, cụ thể hoá vào trong
xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX.
16
Kết luận
Nho giáo ra đời cùng với khát vọng đa xã hội trở lại thời kỳ
thanh bình thịnh trị của thời đại Nghiêu, Thuấn. Vì thế có thể nói
luân lý và đạo đức của Nho giáo bao trùm lên toàn bộ cuộc sống của
con ngời từ chính trị đến vấn đề văn hoá - xã hội. Cũng giống nh học
thuyết chính trị, học thuyết luân lý và đạo đức của Nho giáo lấy đạo
nhân làm gốc. Theo đạo đức và luân lý của Nho giáo thì cái đạo làm
ngời thông thờng trong thiên hạ có năm bậc. Nó phản ánh năm mối
quan hệ vua tôi, cha con, chồng - vợ, anh em và bầu bạn kết
giao. Để xử lý tốt năm mối quan hệ đó, con ngời cần phải có năm cái
đức thông thờng đó là: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Với hơn hai nghìn
năm Nho giáo đã có mặt trên đất nớc ta, trong đó trên năm trăm năm
đợc coi là hệ t tởng thống trị trong kiến trúc thợng tầng của xã hội
phong kiến. Vì lẽ đó, Nho giáo đã có đủ thời gian và điều kiện để
thấm sâu, bám rễ và ảnh hởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của dân
tộc ta. Năm tháng qua đi, chế độ phong kiến Việt Nam không còn
nữa, nhng t tởng Nho giáo vẫn còn lu lại trong con ngời và lối sống
ngày nay. Thái độ của chúng ta cần khắc phục những ảnh h ởng tiêu
cực, lạc hậu của Nho giáo, đồng thời chọn lọc, kế thừa, cải tạo những
yếu tố tích cực, hợp lý của nó để bổ sung, phát triển làm phong phú
Phân viện báo chí và tuyên truyền
Tiểu luận
Môn: lịch sử triết học trung quốc
chủ yếu của đời sống xã hội
Đề tài:
Tìm hiểu t tởng đạo đức chính trị
của Nho gia và ảnh hởng của nó đối với
hệ T tƯởng Việt Nam thời kỳ phong kiến
ôn Tẫn
Giáo viên hớng dẫn
Sinh viên thực hiện
Lớp
: Thầy giáo Lê Ngọc Cờng
: Vũ Thị Kim Tuyết
: Triết học - K24B
Hà Nội, 2005
19
20
Mục lục
Trang