tiểu luận đai học sư phạm Hình tượng rồng trong nền mỹ thuật Việt Nam thời kỳ phong kiến - Pdf 26

Bài thi học phần Nguyễn Thị Ngọc
Anh

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong Mỹ thuật Việt Nam chúng ta thường gặp hình tượng bốn con vật
thiêng mà người Việt gọi là tứ linh đó là Long, Lân, Quy, Phụng. Trong đó con
rồng là thường gặp hơn cả và là đề tài không thể thiếu ở bất kỳ công trình kiến
trúc nào của nền Mỹ thuật phong kiến Việt Nam
Con rồng đầu tiên mang bản sắc Việt Nam đầu tiên ra đời (rồng thời Lý)
không những khẳng định được đẳng cấp và sự độc lập trong nghệ thuật biểu hiện
của Mỹ thuật Việt Nam mà còn là bước ngoặt trong lịch sử Việt Nam, lịch sử
1000 năm văn hiến với kinh đô đầu tiên Thăng Long. Con rồng Việt Nam là trang
trí kiến trúc, điêu khắc và hội họa mang bản sắc riêng theo trí tưởng tượng của
người Việt.
Rồng là một hình tượng có vị trí đặc biệt trong văn hóa tín ngưỡng người
Việt Nam, rồng là tượng trưng cho quyền uy tuyệt đối của các đấng thiên tử (Bệ
rồng, mình rồng). Dân tộc ta có truyền thuyết về con rồng từ rất sớm bởi nó gắn
với mây, mưa, với việc trồng lúa nước, vơi sự tích con rồng cháu tiên.
Qua thời kỳ Bắc thuộc dài đằng đẵng con rồng Việt Nam xuất hiện rõ nét
dưới thời Lý, hình ảnh “rồng bay lên” Thăng Long tượng trưng cho khí thế vượt
lên của dân tộc được đem đặt cho đất đế đô. Rồng thời Lý tượng trưng cho mơ
ước của cư dân trồng lúa nước nên luôn luôn được tạo trong khung cảnh của nước
của mây cuộn.
Từ nền tảng con rồng thời Lý qua các thời kỳ khác Trần, Lê Sơ, Nguyễn.
Hình tượng rồng càng phát triển trên cơ sở kế thừa tạo nên một con rồng hùng
mạnh vững vàng, hùng dũng như chính con người Việt Nam vậy. Vì vậy, đề tài
rồng luôn là nguồn cảm hứng dồi dào bất tận, khơi dậy trí tim tòi nghiên cứu bất
cứ ai yêu thích và biết về nó.
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội

Nội
2
Bài thi học phần Nguyễn Thị Ngọc
Anh

5. Dự kiến đóng góp của đề tài
Các kết quả nghiên cứu của tiểu luận trước hết là đóng góp và kho tàng hoa
văn Việt Nam – phục vụ cho công tác giảng dạy, làm tài liệu tham khảo
6. Cấu trúc của tiểu luận
I. Lịch sử hình tượng con rồng trong nền mỹ thuật Việt Nam
II. Rồng thời Lý
III.Rồng thời Trần
IV. Rồng thời Lê Sơ
V. Rồng thời Mạc, Trịnh – Nguyễn, Nguyễn
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
3
Bài thi học phần Nguyễn Thị Ngọc
Anh

B. PHẦN NỘI DUNG
I. LỊCH SỬ HÌNH TƯỢNG CON RỒNG TRONG NỀN MỸ THUẬT VIỆT
NAM
Tương truyền rằng: Lạc Long Quân là con của Long Nữ, tự xưng mình
thuộc nòi rồng, lấy Âu Cơ sinh được trăm con, nhưng vì kẻ ở trên cạn người sống
dưới nước nên phải chia đôi số con nửa theo cha xuống biển, nửa theo mẹ lên núi,
chỉ để người con trưởng lại làm vua gọi là Hung Vương. Cư dân Hùng Vương
sinh hoạt trên địa vực đồng lầy dưới chân núi khi xuống nước hay bị “giao long”
làm hại. Hùng vương mới bảo thần dân của mình rằng “ta với em ta đều thuộc
giống rồng, rồng có tính yêu đồng loại, vậy nên dùng mực vẽ hình rồng vào

Các vị thần này lại đặc biệt đáng chú ý có thân mình hình con rồng lớn và tính khí
thất thường khi thì đem lại mùa màng bội thu nhưng có lúc lại gây ra những nạn lụt
khủng khiếp, hoặc để lại hạn hán khô cháy. Hạnh phúc và tai họa của con người do
đó đều phụ thuộc vào các vị thần này. Đấy cũng chính là một suy nghĩ khác không
kém phần quan trọng trong hình tượng hình con rồng, nó phản ánh ước mơ của cư
dân nông nghiệp cày cuốc muốn được mưa thuận gió hòa.
Khi nhà nước phong kiến dân tộc độc lập được xác lập ở nước ta, các vua
chúa đứng đầu bộ máy thống trị đã gán con rồng dân gian cho mình. Vì thế nhà Lý
nhiều lần dâng điềm rồng vàng xuất hiện để thống nhất nhân tâm, đề cao nhà vua.
Nhà Trần còn giải thích việc xăm hình rồng để nhớ đến tổ tiên, tỏ ra không bao
giờ vong bản. Với tất cả những ý nghĩa trên, hình ảnh con rồng đã ăn sâu trong
đời sống tinh thần của nhân dân ta từ rất sớm, và trong điêu khắc, nó là một loại
hình tượng được trang trí rất phổ biến.
Dựa vào một sinh vật cơ bản nào đó, rồi tưởng tượng kết hợp nhiều yếu tố
của các con vật khác nhau, rồng trở thành một con vật cụ thể, nhưng quá trình
phát triển của nó cũng có sự biến dạng liên tiếp.
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
5
Bài thi học phần Nguyễn Thị Ngọc
Anh

Thời kỳ văn hóa Đông Sơn, trên một số công cụ sản xuất, vũ khí và đồ đựng
như rìu lưỡi xéo Đông Sơn (Thanh Hóa), qua núi Voi (Hải Phòng), thạp Đào
Thịnh (Yên Bái) ta luôn gặp một loại trùng mình dài, có chân và có vảy, tựa như
con cá sấu. Ở qua núi Voi chỉ có một con đang bò dài, còn ở rìu Đông Sơn và thạp
Đào Thịnh, chúng xuất hiện trong cặp đôi có thể giao cấu, úp chân vào nhau, hai
đuôi khi dán sát lại (thạp Đào Thịnh), khi cuộn thành hai vòng tròn tiếp giáp nhau
(rìu Đông Sơn) như cặp cá ngựa.
Hình 1: Hình khắc trên thạp đồng Đào Thịnh và trên quạ đồng Núi Voi

dân tộc, để khi lật nhào được ách thống trị của ngoại xâm, ngay trong giai đoạn
đầu của thời kỳ độc lập, con rồng Việt Nam đã xuất hiện phổ biến. Và nếu có du
nhập yếu tố bên ngoài thì vẫn mang đậm đà bản sắc dân tộc.
Con rồng đã đi vào lịch sử mỹ thuật Việt Nam như thế đấy, con rồng Việt
gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước, gắn liền với quá trình phát triển của
lịch sử Việt Nam. Rồng Việt phát triển cùng lịch sử, gắn liền với các triều đại
phong kiến như Lý, Trần, Lê sơ, Nguyễn… được xem như biểu tượng quyền uy
của giai cấp quý tộc.
II. RỒNG THỜI LÝ (1009-1225)
Năm 1009 Nhà Lý lên ngôi đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử đất
nước Việt Nam, thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc chấm dứt bắt đầu bước vào thời kỳ
phong kiến, nhà nước đầu tiên ra đời với kinh đô Thăng Long. Cùng với bước
chuyển văn hóa đó là sự ra đời của hình tượng con rồng – con rồng Việt Nam
mang bản sắc Việt Nam mà con rồng làm nền móng đầu tiên là rồng thời Lý.
Ở thời Lý, trong nền văn hóa phát triển rực rỡ, một trong những hình tượng
phát triển phổ biến nhất chính là con rồng. Suốt triều đại này, con rồng luôn được
thể hiện với một sự hào hứng hồn nhiên, một tính cách độc đáo, rất riêng biệt của
dân tộc ta. Ở Thăng Long (tức Hà Nội) Phật Tích và Dạm (Bắc Ninh) Chương
Sơn (Nam Định) và Long Đọi (Hà Nam) hay Quỳnh Lâm (Quảng Ninh) … thể
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
7
Bài thi học phần Nguyễn Thị Ngọc
Anh

hiện theo bất cứ đồ án và kiểu dáng gì, con rồng vẫn thống nhất một phong cách
chung, cả ở quan niệm tư duy của các nghệ sĩ về sáng tạo nghệ thuật cũng như về
phương pháp kỹ thuật. Có người còn gọi đó là “rồng giun” nhưng thực ra nó
mang nhiều nét của rắn, và còn tiếp thu nhiều họa tiết của các con vật khác, để có
thể biểu hiện đầy đủ ý nguyện của dân tộc ta ở thời ấy mà ngày nay còn lưu lại

bởi những đường cong xếp chồng nhau phập phồng gây ra ấn tượng về nguồn
nước, lại cùng với những văn dạng xoắn ốc cùng chiều và ngược chiều như hình
chữ S (từng thấy phổ biến trên gốm và trống trong thời đại đồ đồng) là cái dấu hy
vọng về mây mưa, mà dân tộc cày cuốc luôn mong ước. Bốn chân nhỏ nhắn,
thanh và dẻo với những móng cong và nhọn sắc như móng chim, lúc nào cũng
như đang bơi giữa không gian.
Bản thân con rồng đã được cấu tạo bởi những thành phần uốn lượn sinh
động từ to đến nhỏ, nó lại tung hoành giữa những đám mây cũng lượn sóng nhẹ
nhàng như thế.Một trong những hình tượng được chạm phổ biến ở thời Lý có trên
nhiều chùa tháp lớn, là con rồng. Nó xuất hiện hàng loạt nhưng ở trong mỗi đồ án
thường có một hoặc hai con rồng. Rồng đơn có thể nằm gọn trong các ô hình tròn
(ở hình tròn trang trí tháp Chương Sơn) hình vuông chéo thành hình thoi (sườn
bia tháp chùa Đọi) hình chữ nhật (bệ tượng phật tháp Chương Sơn) hình nửa lá đề
(mặt tháp Chương Sơn). Rồng đôi thường chầu nhau hoặc đuổi nhau trong ô hình
cánh hoa sen (Ở chân cột chùa Phật Tích) hình chữ nhật (bệ tượng phật chùa Phật
Tích)và hình lá đề (trang trí chùa Phật Tích và chùa Chương Sơn) và trên những
di vật lớn như cột chùa Dạm, đế bia ở chùa Đọi và Chương Sơn, những cập rồng
khổng lồ cũng chầu nhau nhưng thân quấn quýt đăng đối.
Hình 3: Hình tròn trang trí tháp Chương sơn
Hình 4: bệ tượng trang trí hình rông thời lý
Hình5: Bệ tượng phât chùa Phật Tích
Hình 6: cột chùa Dạm (Bắc Ninh)
Hình 7: Đôi rồng ở chùa Dạm được làm lại bởi chất liệu xi măng
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
9
Bài thi học phần Nguyễn Thị Ngọc
Anh

Hình 8: Bia đá tạo rồng ổ- đặc trưng thời Lý


rồng, tất cả đều cùng thống nhất ổn định, chuẩn mực đến quy phạm. Những hạt
tròn có khi không gắn với mây mà tách ra độc lập và cùng chuyển động như tinh
tú giữa vũ trụ.
Con rồng thời Lý được sáng tạo theo trí tuệ của nghệ nhân Việt Nam, nó thể
hiện tâm hồn, ước mơ và nguyện vọng của cả dân tộc, mang đậm những sắc thái
Việt Nam riêng biệt. Vì những lẽ đó, người xưa chú ý đến con rồng với sự suy
nghĩ đặc biệt, và do đấy trong suốt thời Lý con rồng trở thành hình ảnh trang trí có
ý nghĩa chặt chẽ.
Rồng thời Lý ra đời và được lịch sử mỹ thuật Việt Nam nói riêng với lịch sử
Việt Nam nói chung ghi nhận như một mốc son lịch sử với những đặc tính riêng
của rồng Việt. Rồng thời Lý còn được lịch sử nhắc lại cùng với bốn công trình lớn
“tứ đại khí” của Đại Việt là Tháp Báo Thiên, Phật Quỳnh Lâm, Chuông Quy Điền
và Vạc Phổ Minh.
III. RỒNG THỜI TRẦN (1225-1400)
Nhà Trần bắt đầu lên ngôi từ năm 1225-1400. Nhà Lý phát triển Thịnh trị
vào đời vua Lý Nhân Tông và sau đó bắt đầu đi vào con đường suy yếu. Quyền
lực rơi vào tay những kẻ hại dân hại nước. Năm 1211 ba dòng họ phong kiến lớn
đã nổi dậy, đó là họ Đoàn ở Hải Dương, Hải Phòng; Họ Trần ở Thái Bình, Nam
Định, và nam Hưng Yên; Họ Nguyễn ở Hà Tây. Triều đình Lý chỉ kiểm soát được
Thăng Long và các vùng lân cận. Trong khi đó vua Lý Huệ Tông không có con
trai. Năm 1225 ông đã nhường ngôi cho con gái thứ là Chiêu Thánh còn mình là
Thái Thượng Hoàng. Lúc này Lý Chiêu Hoàng mới 7 tuổi. Vì vậy mọi quyền hành
của triều đình rơi vào tay viên quan điện tiền Trần Thủ Độ. Dòng họ Trần lúc này
chiếm giữ một vị trí trọng yếu trong triều đình. Cuối cùng ngày 12 tháng chạp
năm Ất dậu dưới sự chỉ đạo của Trần Thủ Độ Lý Hoàng tuyên bố nhường ngôi
cho Trần Cảnh. Trần Cảnh lên ngôi lấy hiệu là Trần Thái Tông. Nhà Trần đã thay
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
11

Nội
12
Bài thi học phần Nguyễn Thị Ngọc
Anh

Hình 11;12;13: Rồng ở chùa Bối Khê
Từ Lý chuyển sang Trần, hình tượng con rồng đã có nhiều thay đổi. Đó hoàn
toàn không chỉ là sự thay đổi đơn thuần của Phong cách, đem cái đẹp của lối tạo
hình mập mạp, chắc khỏe thay thế cho cái đẹp của lối tạo hình trau chuốt, tinh tế
và thanh mảnh. Mà còn là một sự thay đổi của một quan niệm về một hình tượng.
Chính sự bành trướng của Nho giáo cùng với sự lớn mạnh hơn nữa của chế độ tập
quyền thời Trần đã làm cho hình tượng con rồng thời kỳ này tiến thêm một bước
trên con đường phong kiến hóa. Nếu thời Lý còn mang ý nghĩa theo tín ngưỡng
dân gian cổ xưa của cư dân nông nghiệp thì ở thời Trần đã dần được thay đổi bởi
ý nghĩa khác theo bởi một ý nghĩa khác theo quan niệm phong kiến.
So với thời Lý, ở thời Trần hình tượng con rồng được thể hiện cũng đa dạng
hơn. Ngay nhiều tượng rồng của khu lăng mộ ở An Sinh huyện Đông Triều, Quảng
Ninh, mặc dù được sáng tác trong khoảng cùng một thời gian, nhưng về mặt chi tiết
đã có nhiều chỗ khác nhau. Không ngạc nhiên khi bắt gặp ở những tượng rồng này
khi thì có dạng đuôi thẳng và nhọn, khi lại có dạng đuôi xoắn tròn như văn dạng xoắn
ốc; hoặc khi có vẩy như dạng hình hoa, khi lại có vẩy chỉ là nét võng cung chạm kép,
thậm chí chỉ chạm đơn; hoặc nữa, khi thì văn dạng chữ S nổi lên rõ rệt trên trán, khi
thì mất đi hoặc biến thành những hình đường cong khác.
Theo nghiên cứu hiện nay những tượng rồng của thời Trần thuộc loại có niên
đại sớm (khoảng nửa đầu thế kỷ XIV) là những tượng được tìm được ở khu lăng
mô An Sinh mà điển hình là đôi tượng lớn nhất (dài 1m70) ở vị trí thành bậc
chính giữa của lăng vua Trần Anh Tông. Và có niên đại muộn (năm 1397) là đôi
tượng rồng ở thành nhà Hồ (trừ cái đầu đã bị gãy phần còn lại dài 3m62)
Hình 14: Rồng lăng vua Trần Anh Tông
Hình 15;16: Đôi tượng rồng Thành Nhà Hồ

ốc đuôi kết hợp và đối chiếu nhau thành một thể liên hoàn.
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
14
Bài thi học phần Nguyễn Thị Ngọc
Anh

Chúng ta sẽ không tìm thấy bất cứ tượng rồng nào khác đang được nói tới ở
đây hơn là đôi tượng này, sự trở lại gần gũi hơn cả với truyền thống của hình con
rồng thời Lý.Và sự xuất hiện đặc biệt hơi có vẻ lạc lõng đó của chúng giữa buổi
suy tàn của vương triều nhà Trần khiến chúng ta không thể không đánh dấu hỏi.
Ngoài ra, truyền thống vẽ rồng lên thân thể vốn có từ thưở dựng nước, ở thời
Trần càng phát triển mạnh đến nỗi người Trung Quốc gọi là “Thái long” (rồng vẽ)
và mang theo một ý nghĩa mới, chẳng những để hòa lẫn với thiên nhiên mà còn
như lời Trần Nhân Tông nói “Xăm hình rồng vào vế đùi là có ý tỏ ra không bao
giờ vong bản”. Và thời Trần phát triển tiền với quy định theo thể trang trí:
Giấy vẽ rong: 10 đồng, vé sóng : 30 đồng, vẽ mây: 1 tiền, vẽ rùa: 2 tiền, vẽ
lân: 3 tiền, vẽ phượng: 5 tiền, vẽ rồng: 1 quan. (hình 15b)
Rồng thời Trần tuy được kế thừa hình tượng rồng thời Lý nhưng thực sự nó
đã tạo ra cho mình những đặc điểm riêng khỏe khoắn, mạnh bạo như chính thời
đại sản sinh ra nó, mang tính chất hết sức đặc thù của một con rồng của chế độ
phong kiến thời Trần.
IV. RỒNG THỜI LÊ SƠ (cuối thế kỷ XVI)
Năm 1400 Hồ Quý Ly trút ngôi nhà Trần tự xưng vua lấy hiệu là Thánh
Nguyên, đổi tên nước là Đại Ngu. Ngày 19 tháng 11 năm 1406 nhà Minh vượt
qua biên giới đánh về Thăng Long. Ngày 20/01/1407 thành Đa Bang thất thủ
tuyến phòng ngự chống quân Minh của nhà Hồ bị phá vỡ. Quân Minh chiếm được
Thăng Long. Tháng 6/1407 cuộc kháng chiến của quân nhà Hồ hoàn toàn thất bại,
nước ta rơi vào tay quân xâm lược nhà Minh. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê
Lợi lãnh đạo đã thu hút nhiều sĩ phu yêu nước và nhân dân kéo dài trong 10 năm

năm, hình con rồng ở bia chùa làng Nghi Tàm (1445), tuy vẫn có mào lửa và bờm
tóc như đang rung, song thân mình lại được uốn khúc một cách khá tự do, đặc
biệt, cái đuôi rồng thì vắt lên trông đến tinh nghịch. Đến con rồng ở chùa làng
Thúy Lai (1470), nó vẫn có một số dáng riêng của con rồng chùa Nghi Tàm,
nhưng những chi tiết quen thuộc của con rồng truyền thống trước kia đã bị mất
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
16
Bài thi học phần Nguyễn Thị Ngọc
Anh

hẳn. Có thể nói từ đây khái niệm mới về hình ảnh con rồng đã xuất hiện: bờm
thưa, ria mép dài, mảnh, sừng rất dài, mũi như mũi thú…
Với những hình rồng truyền thống được tái hiện vào thời Lê Sơ, nghệ thuật
trang trí Việt Nam đã được khẳng định thêm ở sự bố cục chặt chẽ, hình mẫu tròn
vẹn, sự linh hoạt và thanh tú về đường nét…
Nhưng bên cạnh hình ảnh con rồng truyền thống khá nổi bật và phát triển
khá rộng rãi, ta lại thấy ở bia lăng Lê Thái Tổ, chính giữa trán lại là một hình rồng
lạ, mang ảnh hưởng của con rồng phương Bắc rất rõ nét: Con rồng ấy với mắt
nhìn thẳng với vẻ dữ tợn,thân mình vặn khúc, mang một dáng đe dọa. Nó được bố
cục gọn lỏn trong hình tròn và hình tròn ấy lại được nằm gọn trong một hình
vuông. Phải chăng, hình tròn và vuông ở đây là tượng trưng cho giai cấp thống trị,
đang muốn bành trướng thế lực khắp khoảng trời đất mà nó muốn chiếm quyền.
Nhưng cho đến thế kỷ XV, từ ở bia lăng Lê Thánh Tông, lăng Ngô Thị Ngọc
Giao, lăng Lê Hiến Tông…, dù ở trong một bố cục nào, con rồng cũng có dáng dữ
tợn, mắt đe dọa các chân đều xòe ra với đủ năm móng gân guốc như muốn quặp
và cấu xé bố cục, hình rồng được biểu hiện với nhiều chiều hơn, cái đầu rồng
được biểu hiện với nhiều chiều hơn, cái đầu rồng được biểu hiện ở một góc nhìn
chếch nghiêng, thấy rõ một bên má đầy đặn. Một mắt rồng ở phía bên kia lại xoay
trên sống mũi, khiến cho mắt rồng được lộ ra đàu đủ cả hai miệng, mũi, ria mép

trên bia thời Lý hay thời Trần, cũng hiếm thấy ở các bia sau thời Lê Sơ. Cho nên,
có thể xem lối bố cục trán bia theo lối chạm đôi rồng chầu vào một con rồng khác,
là thể thức nổi bật ở lăng các vua và lăng hoàng hậu thời Lê Sơ.
Hình 17: Bia ở chùa Quỳnh Lâm
Hình 18; 19 Bia Vĩnh Lăng, bia chùa Vạn Phúc
Đặc biệt trang ở trán bia chùa Thúy Lai, đã mở đầu cho một lối trang trí có
bố cục hoàn toàn mới: Đôi rồng chầu và mặt trời tỏa ra nhiều tia sáng. Có thể nói,
hình thức rồng chầu mặt trời được chạm trên bia đá trước thời Lê Sơ hoàn toàn
chưa thấy. Đến thời Lê Sơ, hình thức này bắt đầu xuất hiện nhưng cũng chỉ mang
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
18
Bài thi học phần Nguyễn Thị Ngọc
Anh

tính chất là bước thí điểm cho một thẩm mỹ mới. Phải từ thời Mạc trở đi nó mới
hoàn toàn thắng thế và dần trở thành lối trang trí trán bia duy nhất.
Ở một số bia thời Lê Sơ, mà tiêu biểu là ở bia lăng Lê Thái Tổ hình rồng còn
được chạm nối nhau thành dãy dài, trang trí cho diềm bia (diềm đứng dọc theo hai
canh bia và diềm ngang chia trán bia và thân bia). Lối trang trí này chúng ta đã
thường gặp trên một số bia thời Lý, như bia chùa Đọi (Hà Nam Ninh), bia chùa
Quỳnh Lâm (Quảng Ninh) và ở thời Trần như bia chùa Hàn (Hải Hưng). Những
hình rồng ở các diềm bia từ thời Lý đến thời Lê Sơ đều được chạm theo một cách
nằm khá giống nhau trong hình nửa chiếc lá đề, ngực giãn xuống, đầu ngóc cao,
cái đuôi vắt lên phía trên đầu, uốn lượn.
Nhưng ở diềm bia thời Lý và thời Trần, hình con rồng trước và con rồng sau
nối sít nhau, còn ở diềm bia ở lăng Lê Thái Tổ, con rồng cuộn trọng một ổ riêng
cách quãng chạm hoa dây. Lối trang trí hình diềm bia bằng hình nửa lá đề ổ rồng,
sau thời Lê Sơ không còn thấy nữa.
Về hình rồng trang trí, chúng ta còn gặp ở mặt sườn của bia. Lối trang trí

đáo cho hình tượng rồng. Lối tạo hình rồng, mây lửa và hoa lá cách điệu được lặp
lại lần nữa khi xây dựng điện Lam Kinh ở Thanh Hóa.
Rồng Thời Lê Mang phong cách riêng biệt và đọc đáo , hình thành một
mạch nguồn xuyên suốt các thời kỳ lịch sử và biểu hiện trong nhiều dáng vẻ sống
động, hiện thực khác nhau của từng thời kỳ. Sự chuyển biến từ mỹ thuật Lý , Trần
sang Lê Sơ là hợp quy luật phát triển. Phong cách Lê Sơ có thể nói bắt đầu định
hình rõ nét trên các tác phẩm của thời kỳ Lê Thánh Tông và cang về cuối phong
cách đó càng bộc lộ rõ.
V . RỒNG THỜI MẠC, TRỊNH - NGUYỄN, NGUYỄN
(thế kỷ XVII, XVIII, thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX)
Nếu phần lớn các công trình nghệ thuật thời Lê Sơ chúng ta được thấy
nhưng điêu khắc và dấu vết của kiến trúc phục vụ cuộc sống của lớp người thống
trị, thì những công trình nghệ thuật thời Mạc còn tồn tại đến ngày nay gần như
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
20
Bài thi học phần Nguyễn Thị Ngọc
Anh

đều là của dân các làng xã nên con rồng dân gian lại được hiện ra với phong thái
Việt Nam mới. Điều ấy rõ ràng nhất là ở Đình Tây Đằng (Hà Tây) di tích duy nhất
tương đối nguyên vẹn của thế kỷ XVI – con rồng ở đây từ bỏ hẳn vẻ quyền quý
nghiêm trang và chỉnh trệ trong ý thức tượng trưng cho giai cấp thống trị, nó xuất
hiện rất thoải mái và tự nhiên theo khuôn khổ của mảng gỗ thuộc bộ phận nào đó
trong kiến trúc, được nghệ sĩ chạm ra để trang trí cho vui. Vì vậy tỷ lệ giữa các
thành phần cơ thể có thể rất chênh lệch, thậm chí không cần phải thể hiện trọn vẹn
cả con đủ chạm phần nào thì chỉ chạm phần ấy.
Đình làng ngoài ý nghĩa tôn giáo: là nơi thờ cúng vị thần chung được cả cộng
đồng thừa nhận là “thành hoàng” bao giờ cũng diễn ra các sinh hoạt tập thể của dân
làng xã. Loại kiến trúc này ta thấy nhiều từ nửa cuối thế kỷ thứ XVII trên một loạt

từ cái râu loăn xoăn rồi vun vút đã bị gò theo hoa văn nền gấm hình bát giác rất
phổ biến, nên chỗ xoắn cũng như ngọn râu đều bị khuôn thành góc hẳn hoi.
Hình 23: Rồng ở Đình Bảng
Từ khoảng giữa thế kỷ 18, nhất là trong đời Cảnh Hưng (1740-1786), con
rồng dù chạm trên gỗ hay trên đá, đều bị thể hiện yếu ớt, mảnh khảnh đi vào công
thức cân đối khô khan kết hợp với chạm nông nên hình bẹt và cứng, lại còn bị
biến dạng rắc rối. râu rồng thường bố trí đều đặn, duôi cong xoắn lại hình xoắn
ốc. Ở nhiều mảng sửa trong các đình Nhân Lý và Thạch Lỗi (Hải Dương), nhiều
mảnh chạm trong đình Hoành Sơn và đình Trung Cần (Nghệ An), nhiều bia đá
muôn nhất ở Văn Miếu (Hà Nội)… con rồng vốn rất thực trong nghệ thuật, bị
biến thành những con rồng bí hiểm, khó nhận theo kiêu “ mây hóa” ,“ tre hóa”, “
hoa hóa” ,“ lá hóa” ,thật cầu kì.
Hình 24;25: Rồng Văn Miếu
Cũng trong thời gian này một loại rồng mới rất phổ biến trong chạm gỗ và đá,
từ kiến trúc đến ngai thờ, hương án, chop của bia khối hộp… là mặt rồng hổ, dáng
dữ tợn, nhìn thẳng nghiêm nghị : trán to, mắt lồi, miệng rộng, các chi tiết giữa hai
nửa mặt đối xứng giống hệt nhau, tất cả toát ra tính phô trương và quyền uy.
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
22
Bài thi học phần Nguyễn Thị Ngọc
Anh

Thời Tây Sơn vẻn vẹn chỉ có 14 năm (1788-1802), nhưng nghệ thuật tạo
hình được hun đúc, chuẩn bị, âm ỷ từ nhiều năm trước nay gặp điều kiện thuận lợi
đã trổ hoa rực rỡ với nhiều tác phẩm chiếm đỉnh cao chót cùng của nghệ thuật tạo
hình Việt Nam xưa, là tượng các vị tổ ở chùa Tây Phương (Hà Tây). Trong sự tập
chung ấy những hình rồng chạm trên gỗ của lớp nhà thứ hai của chùa làng Nghi
Tàm và Tây Phương dựng lại vào năm 1792 và 1794, cũng sống lại với nhiều nét
hiện thực đúng đăn, bình di: con thì bò lổm ngổm, con thì lượn lách thoải mái

Bài thi học phần Nguyễn Thị Ngọc
Anh

C. KẾT LUẬN
Từ xa xưa con rồng đã xuất hiện trong tâm thức của các cộng đồng dân cư
Đông Nam Á nói chung và cư dân Việt nói riêng. Trong mỹ thuật hình tượng con
rồng đã hiện diện suốt chiều dài lịch sử qua các triều đại phong kiến và được xem
như là một điển hình về kiểu thức trang trí chủ đạo. Có thể nói, từ một con vật
không có thật trong đời sống, nhưng hình tượng con rồng đã góp phần tạo nên niềm
tin về cội nguồn dân tộc và thể hiện được sức mạnh uy quyền của các triều đại quân
chủ. Hình tượng con rồng cũng thay đổi theo dòng lịch sử qua các thời đại.
Rồng tượng trưng cho sự phồn vinh và sức mạnh của dân tộc, nhanh chóng
trở thành hình tượng biểu hiện uy quyền của Nhà nước phong kiến, chỉ dùng nơi
trang trọng nhất của cung vua, hay những công trình lớn của quốc gia. Đã có thời
triều đình phong kiến chạm khắc hình rồng trên nhà cửa hay đồ dùng gia đình.
Nhưng sức sống của con Rồng còn dẻo dai hơn khi nó vượt ra khỏi kinh thành,
đến với làng quê dân dã. Nó leo lên đình làng, ẩn mình trên các bình gốm, cột
đình, cuộn tròn trong lòng bát đĩa hay trở thành người gác cổng chùa. Rồng còn
có mặt trong những bức tranh hiện đại phương Đông, biểu hiện một mối giao hòa
giữa nền văn hóa xa xưa bằng những ý tưởng mới mẻ kỳ lạ. Rồi con Rồng lại trở
về với niềm vui dân dã trên chiếc bánh trung thu của mọi nhà.
Nền mỹ thuật phong kiến đi qua để lại cho kho tàng văn hóa vật thể phi vật thể
to lớn thành công của hình tượng con rồng. Và con rồng đó mãi mãi tồn tại và phát
triển theo dòng lịch sử của đất nước Việt Nam với Thủ đô ngàn năm văn hiến.
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status