1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Sơn mài Việt Nam, một nét đẹp truyền thống của người Việt Nam, trải
qua hàng ngàn năm, nhờ chất sơn keo dính và bóng sâu thẳm đã tạo nên một
nét đẹp mang tính bản sắc truyền thống mà bất cứ người Việt Nam nào cũng
có quyền tự hào với vẻ đẹp lộng lẫy của ánh vàng son, óng ánh của trai trứng,
sâu thẳm của những sắc đỏ tươi và xanh thẳm dưới lớp sơn cánh dán vàng
trong, ở đó chứa đựng những gì vang lên âm thanh của ngàn xưa vọng lại bắt
nhịp vào cuộc sống ngày nay.
Cùng với thời gian sự tiếp thu những vốn quí nghề sơn của cha ông để
lại, được lớp lớp các nghệ nhân, hoạ sỹ đem đến cho sơn mài không chỉ là
những sản phẩm mỹ nghệ, mà còn những khả năng biểu cảm không kém gì
các chất liệu khác của hội hoạ và có phần độc đáo hơn, bởi chất liệu sơn ta
không chỉ bền chắc mà còn đẹp - một nét đẹp thầm kín nhưng cũng vô cùng
lộng lẫy, sâu thẳm nhưng cũng rất rực rỡ và trang trọng. Để tới ngày nay bảng
màu sơn mài càng phong phú hơn về phong cách thể hiện, cũng như nhiều
chất liệu mới được tìm ra trong quá trình lao động sáng tác nghệ thuật của các
nghệ nhân và hoạ sỹ.
Cho tới hôm nay, sơn mài Việt Nam nói chung có một vị trí danh dự và trên
thực tế nghệ thuật sơn mài không những không bị phôi phai mà vẫn giữ được cốt
cách, đặc thù vốn có và từng bước chuyển mình mang được tính thời đại.
Trong cuộc sống hiện đại hôm nay, nghệ thuật sơn mài ngày càng phát
huy hơn thế mạnh của chất liệu truyền thống, nhưng không bị lạc lõng giữa
nhu cầu cuộc sống đương đại, những hoà sắc lung linh ý nhị, là chất liệu quí
chắc, óng ả, trong trẻo, rạng rỡ sâu thẳm có sức ngân, sức rung, sức vọng theo
2
chiều sâu của các tác phẩm mỹ thuật, hay của các sản phẩm được đem vào
cuộc sống được thể hiện một cách hài hòa trong không gian sống hiện đại,
đưa đến sự hợp lý, không lỗi thời trong xu hướng thị hiếu hiện đại.
Khả năng biểu hiện của nghệ thuật sơn mài trong cuộc sống người Việt
Quốc. Xin lưu ý, kỹ thuật mài là điểm khác biệt lớn giữa đồ thủ công sơn mỹ
nghệ và tranh sơn mài Việt Nam.
Tranh sơn mài sử dụng các vật liệu màu truyền thống của nghề sơn như
sơn then, sơn cánh gián làm chất kết dính, cùng các loại son, bạc thếp, vàng
thếp, vỏ trai, v.v. vẽ trên nền vóc màu đen. Đầu thập niên 1930, những họa sĩ
Việt Nam đầu tiên học tại trường Mỹ thuật Đông Dương đã tìm tòi phát hiện
thêm các vật liệu màu khác như vỏ trứng, ốc, cật tre, v.v. và đặc biệt đưa kỹ
thuật mài vào tạo nên kỹ thuật sơn mài độc đáo để sáng tác những bức tranh
sơn mài thực sự. Thuật ngữ sơn mài và tranh sơn mài cũng xuất hiện từ đó.
Tranh có thể được vẽ rồi mài nhiều lần tới khi đạt hiệu quả mà họa sĩ mong
muốn. Sau cùng là đánh bóng tranh.
Người ta thường lưu ý rằng sơn mài có những điểm "ngược đời": muốn
lớp sơn vừa vẽ khô, tranh phải ủ trong tủ ủ kín gió và có độ ẩm cao. Muốn
nhìn thấy tranh lại phải mài mòn đi mới thấy hình.
4
II. VÀI NÉT VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHẤT
LIỆU SƠN MÀI:
1. Lịch sử phát triển sơn mài trên thế giới:
Ở Trung Quốc, khi khai quật những ngôi mộ đời Tây Chu(1075-770
trước Công nguyên) đã phát hiện ra những đò sơn có hai màu son và đen.
Ngoài ra, họ còn có kĩ thuật khảm đá, pha lê hoặc ốc. Theo cố họa sĩ Hoang
Tích CHù trong bài viết về lịch sử phát triển của chất liệu sơn mài ở các nước
Châu Á và Châu Âu thì Trung Quốc là nước đầu tiên khám phá ra sơn và phát
minh ra kĩ thuật làm sơn. Với Nhật Bản, kĩ thuật sơn truyền thống có khoảng
500 năm trước Công nguyên. Ngoài ra ở một số nước Châu á khác như Ấn
Độ… cũng có nghề sơn mĩ nghệ phát triển.
2. Lịch sử phát triển sơn mài ở Việt Nam:
Trong lịch sử dân tộc, nghề sơn xuất hiện khá sớm. Cư dân Việt cổ từ
khoảng 2.500 năm trước đã tìm thấy cây sơn mọc hoang dã và đã biết cách sử
dụng nhựa cây để trám thuyền hay dùng để phủ lên các vật dụng khác nhằm
họa sĩ Đằng Giao, loại sơn này đã được chính thức đi vào nghệ thuật nước
nhà kể từ khi lớp nghệ sĩ đầu tiên của Việt Nam được đào tạo từ trường Mỹ
Thuật Đông Dương đã đưa sơn mài vào những sáng tác nghệ thuật của họ.
Từ lúc khởi đầu đến khi hoàn tất được một bức tranh sơn mài đòi hỏi rất
nhiều công phu, có những bức phải mất cả nửa năm trời mới xong. Khi nói
đến nghệ thuật thì chắc chắn là phải có sáng tạo, nhưng ngay cả dến kỹ thuật
của tranh sơn mài, người nghệ sĩ cũng phải tự tìm tòi và sáng tạo rất nhiều,
6
giả tỉ như màu trắng trong tranh sơn mài phải tạo từ vỏ trứng gà hay trứng vịt
chẳng hạn.
Sự hấp dẫn của chất liệu độc đáo, vừa bền lại vừa có vẻ đẹp lộng lẫy
vàng sơn này đã thu hút các họa sĩ Việt Nam ra công nghiên cứu tìm tòi, khai
thác mọi khả năng biểu hiện của chất liệu sơn cổ truyền để áp dụng vào trong
nghệ thuật tạo hình hiện đại. Công cuộc cách tân trong nghệ thuật sơn mài
gắn liền với sự ra đời của trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương (nay là
trường Đại học Mĩ thuật Hà Nội).
Thực chất, giai đoạn mới mở trường (1925-1930) chính là giai đoạn đầu
tiên đánh dấu quá trình khám phá chất liệu sơn dầu châu Âu như một điểm
tham chiếu cho sự phát triển các loại hình, chất liệu á Đông.
Riêng về hội họa sơn mài, trên bình diện lịch sử, Claude Mahoudot cũng đã
có những lời nhận định khá chính xác:
“Trường Mỹ thuật Hà Nội bắt đầu hoạt động từ năm 1926. Khoá đầu tốt
nghiệp năm 1931. Mười lăm năm trong cuộc sống nghệ thuật của một nước
có ý nghĩa gì? Tuy nhiên, công việc làm được rất lớn. Một giáo sư,
Inguimberty, đã thực sự tạo ra được một phong trào hội họa, và đã đưa cái gọi
là “sơn ta” vào phục vụ các họa sĩ. Chất sơn sau này hình như sẽ có một vị trí
rất lớn trong lịch sử tương lai của nghệ thuật Đông Dương”.
Năm 1934, xuất phát từ những đòi hỏi của thực tế nghiên cứu và thực
nghiệm về “sơn ta” ngày càng trở nên nghiêm túc và có triển vọng, Trường
Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã “chính thức” mở xưởng kỹ thuật nghiên
vào hội họa.”
Đồng quan điểm với học giả người Pháp Claude Mahoudot, họa sĩ
Quang Phòng khẳng định:
“Người quan tâm đến vấn đề này (tức vấn đề chuyển hoá “sơn ta” vào
hội họa sớm nhất là họa sĩ Joseph Inguimberty (1896 - 1971), bắt đầu ngay từ
khi ông mới sang nhậm chức giảng viên môn trang trí Trường Cao đẳng Mỹ
thuật Đông Dương, năm 1925.”
Và dưới đây là một câu chuyện đã được họa sĩ Quang Phòng viết lại
trong cuốn sách, theo lời kể trực tiếp của họa sĩ Nguyễn Nam Sơn (1890 -
1973):
“ Nguyên một buổi được họa sĩ Nam Sơn hướng dẫn đi vẽ tại Văn Miếu
- Quốc Tử Giám, Joseph Inguimberty đã thực sự sửng sốt, bàng hoàng trước
các hoành phi, câu đối, đồ thờ sơn son thếp vàng lâu đời, lên nước thời gian,
ngả sang các gam màu vô cùng phong phú và kỳ lạ, ở nhà đại bái. Ông đã đề
xuất ngay ý kiến với hiệu trưởng Victor Tardieu để đưa sơn ta vào chương
trình nghiên cứu và thực tập Từ đó trở về sau, chất liệu sơn mài luôn luôn
và bao giờ cũng là niềm kỳ vọng về sự sáng tạo một ngôn ngữ nghệ thuật
riêng cho dân tộc của nhiều nghệ sĩ tài năng lớp trước ”
Sách “Lê Phổ”, với lời tựa nhan đề “Người họa sĩ tuyệt diệu” của
Waldemar George, xuất bản tại Paris, 1970, trong phần niên biểu cho biết:
“1930. Ông tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương, nhận những bản hợp
đồng đầu tiên: những bình phong lớn bằng sơn ta và tranh trang trí cho Dinh
Toàn quyền.
9
1931. Ông được Toàn quyền Đông Dương chỉ định làm phụ tá cho ông
Victor Tardieu, Giám đốc nghệ thuật Toà Angkor tại triển lãm thuộc địa
Paris. Thành viên ban giám khảo ngành mỹ nghệ do Jean Dunand - một
chuyên gia về đồ sơn phương Đông, người đã trang trí cho con tàu thủy chở
khách Normandie bằng những tấm sơn nổi danh - làm chủ tịch ”
Với bức hoành sáu tấm “Phong cảnh Bắc Kỳ”, sáng tác vào khoảng 1929-
Thiềng, sinh năm 1898 - mất 1977) đã được mời vào làm việc tại xưởng
nghiên cứu “sơn ta” (sơ khai) của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương,
bên cạnh Joseph Inguimberty - giáo sư phụ trách chuyên ngành trang trí.
“ Bác Thành kể lại cho tôi nghe cái việc tìm ra cách làm sơn mài - họa
sĩ Lê Quốc Lộc đã ghi trong bài “Gặp gỡ nghệ nhân sơn mài cao tuổi Đinh
Văn Thành” - Từ năm 1932, lớp sinh viên mỹ thuật thường sử dụng sơn ta để
vẽ bài trang trí. Các thứ sơn cánh gián, sơn cánh gián pha son, lúc đó đều có
pha dầu trẩu, gọi là sơn quang dầu. Vẽ xong, sơn khô là được, chứ không mài
để ra tranh. Cho nên mặt sơn có dầu thường bóng loáng, gợn nét vẽ, không
phẳng nhẵn, mịn màng như sơn mài về sau.
Có lần anh Trần Văn Cẩn vẽ hình con phượng bằng sơn then, rồi phủ sơn
son lên hình phượng, phủ bằng sơn không có dầu mà có nhựa thông khi sơn
khô bác Thành đem mài, hình phượng rõ ra, mặt tranh nhẵn phẳng. Sự tìm tòi
ra cách làm này mở đầu cho kỹ thuật mài sơn, khiến người giáo sư Pháp khi
11
xem quá mừng rỡ, đem đập vỡ hết các chai đựng dầu pha sơn. Ông ta cho
rằng đó là một khám phá quan trọng đối với nghề sơn.
Căn cứ vào cách làm mới như trên, các sinh viên mỹ thuật hồi đó bổ sung
thêm cho kỹ thuật, như gắn vỏ trứng, đắp sơn nổi, hoặc chế ra cát bạc, cát
vàng rắc chìm trong làn sơn còn ướt, cốt tạo ra thêm hòa sắc và các sắc độ
khác nhau.
Không phải là việc giản đơn, sự xuất hiện một sáng kiến vốn có quá trình
tìm tòi công phu. Từ thượng cổ chưa hề đem nhựa thông thay dầu trong sơn
cánh gián, nhựa chỉ có trong sơn then. Sáng kiến đó đem lại một tác dụng rất
tốt đẹp góp phần làm phong phú nền nghệ thuật của dân tộc sau này.
Bác Thành nhớ khá rõ, kể cho tôi nghe về các tác phẩm sơn không mài và có
mài vào những năm 1932-1937 của các sinh viên vẽ sơn ta ngày trước: ông
Nguyễn Đăng Bốn vẽ sơn ta không mài trên bình phong, cảnh chùa Láng; ông
Phạm Hữu Khánh vẽ sơn mài trên bình phong, cảnh đồng ruộng; ông Trần
Quang Trân vẽ sơn mài trên bình phong một cảnh thôn Kim Liên có bụi tre
tranh, cả đỏ, cả đen đều được. Từ đó một số anh em khác như được khích lệ
bởi kết quả của Trần Văn Cẩn, đã tìm thêm màu và thuật ngữ sơn mài ra
đời”
III. ĐẶC ĐIỂM CỦA CHẤT LIỆU SƠN MÀI:
1. Nền vóc sơn mài:
13
Chất liệu sơn mài không chỉ đặc biệt về kĩ thuật mà còn đặc biệt ở nền
tranh và màu sắc. Sơn mài được vẽ trên nền vóc. Vóc sơn là cốt gỗ được bọc
giấy hoặc vải, bó sơn và mài. Từ cốt gỗ trải qua từ 8 đén 10 lượt nước sơn
mới được tấm vóc đẻ làm tranh sơn mài. Cuối cùng phải quét vài nước sơn
sống đẻ ngâm chất hoặc pha them đất, hoặc đổ phù sa. Cũng vì quá trình đó
mà nền vóc có màu đen nhẵn bong và chắc chắn.
2. Màu sắc:
Nguyên liệu làm tranh sơn mài không giống với các chất liệu khác như
sơn dầu, thuốc nước, lụa Bảng màu của sơn mài cổ truyền bao gồm:
• Màu vàng của vàng ta.
• Mùa trắng của bạc, vỏ trứng, bột nhôm, bột thiếc.
• Màu đen của sơn then, của nền vóc.
• Màu nâu của sơn cánh gián.
• Màu đỏ: Chất bột son chế biến từ “thần sa” gồm son trai, son tươi, son thắm ,
son nhì.
Đến nay, bảng màu sơn mài đã phong phú hơn rất nhiều. Bên cạnh bảng
màu truyền thống gồm các màu đen, đỏ, vàng, trắng còn có them nhiều màu
lạnh, xanh tạo cho khả năng biểu đạt của sơn mài ngày càng đa dạng và sâu
sắc. Ngoài các nguyên liệu kể trên, các họa sĩ còn sử dụng một số loại màu
như bột trắng Ti-tan, bột màu xanh lam, nâu, bột xanh ve, vàng đất, bột vàng
Crom và một số phẩm nhuộm như phẩm cánh quế, phẩm hồ thủy, phẩm tím…
trộn với sơn để vẽ tranh.
4. Sự công phu khi làm tranh
14
độ sâu thẳm của tranh, do đó sau mỗi lần vẽ phải mài. Người xưa sử dụng lá
chuối khô làm giấy nháp. Đến nay, nguyên tắc đánh bóng tranh lần cuối chưa
có gì thay thế phương pháp thủ công vì loại tranh này không được phép phủ
dầu bóng. Đó chính là điểm độc đáo của tranh sơn mài. Sự thành công của
một bức tranh sơn mài phụ thuộc rất lớn vào công đoạn sau cùng. Có một số
thứ để mài và đánh bóng như: than củi xoan nghiền nhỏ, tóc rối, đá gan gà
v.v
3. Đặc tính của sơn mài
a. Tính hấp dẫn.
Tính hấp dẫn trước hết được thể hiện ở màu sắc lộng lẫy, trang nghiêm
và trang trọng của nó. Nhờ có đặc tính này mà sơn được phủ lên mọi cốt
nguyên liệu khác nhau đáp ứng nhu cầu đòi hỏi nội dung về mặt tín ngưỡng
và tnhs thẩm mỹ cao.
b. Tính hoành tráng và đa dạng
Những vật có cốt khác nhau sau khi đã phủ sơn làm thay đổi một cách
căn bản hình thức bề ngoài của nó, tạo tính liền khối đồ sộ, hoành tráng và đa
dạng. Bản thân những vật này nếu không có sơn thì khó có thể tạo ra được.
c. Tính kết dính và hoà hợp
Đặc tính của sơn có tính kết dính cao, chắc. Nhờ có tính chất này sơn ta
được sủ sụng và gắn kết các vật dụng thành khối cố định nhưng cũng khôgn
để mất đi tính thẩm mĩ.
16
d. Tính bền đẹp, giản dị.
Sơn mài có khả năng tồn tạ tốt trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt của
Việt Nam làm nhờ tính bền đẹp của nó.Có những vật phẩm sơn cách đây hàng
trăm năm vẫn tồn tại với màu sắc và nước sơn gần như mới.
e. Tính khái quát và chi tiết
Sơn mài không chỉ thể hiện tính khái quát vtrên vật thể mà khi cần vẫn
thể hiện tính chi tiết. Tính khái quát, ước lệ biểu hiện ở hình khối, sắc độ, tôn
thêm hiệu quả của chức năng biểu đạt của vật sơn. Sơn mài có thể biểu hiện
thể, không phải là ánh sáng tả như tự nhiên của tranh sơn dầu- là ánh sáng mhắt
một chiều- mà là ánh sáng phản chiếu từ những mảng bạc, mảng vàng, mảng vở
trứng Người hoạ sĩ đa dùng những mảng sáng ấy để cân bằng độ sáng - tối
trên bề mặt tranh, và cân đối về độ sáng - tối ở ngay các mảng, các chất.
Theo một quy luật tất yếu, có ánh sáng thì phải có bóng tối, nhưng tối ở
tranh sơn mài không phải là do hoạ sĩ mà tối là của chính chất liệu sơn then.
Chính vì thế khi xem tranh sơn mài truyền thống của các hoạ sĩ trường Mỹ
Thuật Đông Dương và các hoạ sĩ thời kì cách mạng ta thấy ánh sáng đó rất kì
lạ. Có khi miếng nóng sáng của vàng, của son lại làm ra bầu trời xa tít, còn
những màu lạnh, đen thì lại là mật ở gần.
18
Một thứ ánh sáng nữa trong tranh sơn mài là ánh sán nhân tạo, là thứ ánh
sán phát ra từ xung quanh các hình thể. Các hoạ sĩ đã vẽ những đường viền
bắng vàng vào xung quanh các hình thể trong tranh, tạo được ra thứ ánh sáng
loé ra từ đó.
Ánh sáng tả thực trong tranh sơn mài không phải là không có chỗ đứng,
nhưng vì nó không phải là thế mạnh của chất liệu này nên đa số các hoạ sĩ đi
theo lối ánh sáng ước lệ trên.Điển hình cho sự thành công của thứ ánh sáng tả
thực này ta nên kể tới tác phẩm: "Học đêm" của Nguyễn Sáng, "Bình minh
trên nông trang" của Nguyễn Đức Nùng Ánh sáng hắt từ một chiều được
các tác giả diễn tả không kém gì sự biểu đạt của sơn dầu.
c. Không gian trong tranh sơn mài
Mõi chất liệu vẽ tranh đều có mọt không gian riêng. Không gian trong
tranh lụa, tranh giấy dó là không gian nhoè mờ; trong sơn dầu là không gian
tả thực thì tranh sơn mài có một không gian rất riêng, đó là không gian ước lệ
mang tính tôn giáo và tâm linh nhiều hơn các tranh khác. Nó khước từ không
gian tả thực mà đi vào một không gian biểu trưng, không gian ấn tượng cao
nhất của tính ước lệ, rất hợp với các xu thế của các thể loại tranh hiện đại trên
thế giới. Cũng có khi nó lại sang không gian tranh cổ điển, song đây không
phải thế mạnh của nó. Vậy nói đơn giản, không gian trong tranh sơn mài là
xem là người đi đầu trong việc chuyển những bức tranh sơn mài từ trang trí
thành những tuyệt phẩm nghệ thuật và từ đó ông đã được mệnh danh là "Vua
20
sơn mài"Từ khi ông mất,ngôi "Vua sơn mài" vẫn còn bỏ trống và rất khó có ai
có thể "lên ngôi" thay thế ông được. Sinh thời,Bùi Xuân Phái rất ngưỡng mộ
tài năng và phẩm chất kiên dũng trước bạo quyền của Nguyễn Gia Trí,và xem
ông như bậc đàn anh đáng kính nhất trong làng hội họa Việt Nam.
Ông Nguyễn Gia Trí là một trong những họa sĩ nổi tiếng đi đầu trong việc tạo
ra một khuynh hướng nghệ thuật mới cho Việt Nam, với những đường nét vẽ
thanh lịch và những tư tưởng mới về nghệ thuật sơn mài. Ông phối hợp lối in
khắc với những phương thức sơn mài mới, đồng thời áp dụng các nguyên tắc
cấu trúc tranh vẽ phương Tây, để tạo nên những bức họa hiện đại mang đầy
tính dân tộc. Những tác phẩm của ông có thể tìm thấy trong Viện Bảo Tàng
Mỹ Thuật Việt Nam tại Hà Nội và Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật tại Sài Gòn. Tác
phẩm của Nguyễn Gia Trí đã được chỉ định là Bảo Vật Quốc Gia. Vì thế,
những tác phẩm của ông đã không được phép rời khỏi Việt Nam.
Họa sĩ Nguyễn Gia Trí thường làm tranh không hết hợp đồng, hầu hết là
những đại gia có máu mặt đặt tranh, đó là những tỷ phú Nam Phi, Nam Mỹ.
Họ đến xin ông vẽ những tranh khổ lớn và không yêu cầu về nội dung hay
hình thức nghệ thuật, tùy ông muốn và không có chuyện tham gia góp ý kiến
vào tác phẩm của ông. Tranh ông bán đo bằng ca-rê (phân vuông,tranh kích
thước càng lớn thì giá tiền cứ theo đó mà nhân lên). Ở VN các họa sĩ trong
lịch sử Hội họa hiện đại có duy nhất danh họa Nguyễn Gia Trí bán tranh tính
bằng ca-rê và luôn phải từ chối đơn đặt hàng của khách.Trường hợp này đúng
với nguyên tắc : phải có khách hàng lớn mới có nghệ sĩ lớn.
Họa sĩ Nguyễn Gia Trí lúc sinh thời đã có nguyện vọng giữ lại ba bức tranh :
"để cho thế hệ mai sau nghiên cứu". Đó là 3 bức tranh sơn mài khổ lớn lưu tại
Thư viện quốc gia TP Hồ Chí Minh mà vợ Ngô Đình Nhu mua định tặng
Nhật Hoàng, nhưng ông yêu cầu phải để lại trong nước. Những năm đỉnh cao
của năng lực sáng tạo, tài chính của ông lên tới hàng nghìn cây vàng. Nhưng
vậy, ông đã tạo cho bức "Dọc mùng" một vẻ đẹp lộng lẫy, có chiều sâu bí ẩn,
đưa kĩ thuật sơn mài lên đỉnh cao, khẳng định tầm quan trọng của chất liệu
hội hoạ này trong nền mỹ thuật Việt Nam, đồng thời, đánh dấu sự khởi đầu
cho khuynh hướng sáng tác đưa sơn mài vào nghệ thuật của Nguyễn Gia Trí
những năm sau này.
"Dọc mùng" được hoạ sĩ trình bày theo dạng bức sơn mài kiểu bình
phong có kích thước lớn thể hiện tranh ở hai mặt. Ở bức "Thiếu nữ trong
vườn" là vườn hoa muôn sắc màu, trong đó các cô gái đang vui đùa, chạy
nhảy, giá trị hiện thực toát lên từ hình khối, động tác. Sắc vàng kim được dát
trên nền trời, trên những tấm áo điểm xuyết vỏ trứng, những vệt vàng lộng lẫy
trên từng đường lượn như tôn vẻ đẹp thanh tân thiếu nữ.
23
Có thể nói, ở những bức tranh sơn mài có kích thước lớn, Nguyễn Gia
Trí luôn mở rộng tầm nhìn thẩm mỹ, đặt cái cổ kính bên cạnh cái tân kỳ, cái
lộng lẫy sang trọng cạnh sự giản dị mộc mạc, ý tưởng hy vọng đặt bên cạnh
sự hoài niệm Đó cũng là cách xử lý khi thể hiện mặt bên kia của bức bình
phong mang tên "Phong cảnh" có cách vẽ khoẻ khoắn, những mảng vỏ trứng,
hình cây điển hình được viền bằng những mảng mầu to rộng, nét chắc khoẻ
gợi về sự gần gũi chân quê của vùng nông thôn Bắc Bộ.
Sau 70 năm xuất hiện, cùng với những "biến thiên" của lịch sử và di
chuyển suốt chiều dài đất nước, giờ đây "Dọc mùng" - Bức tranh sơn mài đẹp
nhất Việt Nam của cố hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí được đặt trang trọng tại Bảo tàng
Mỹ thuật Việt Nam tại Hà Nội, đó cũng là một kỷ niệm không bao giờ phai
nhòa trong cuộc đời hoạ sĩ, nhà điêu khắc Nguyễn Thiện - người có vinh dự
đưa bức tranh của người hoạ sĩ tài danh trở về cùng mùa xuân chiến thắng của
dân tộc./.
24
Một số tác phẩm khác:
Đám cưới nhà quê
Đêm