MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Vấn đề đổi mới quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục - đào tạo thực chất là “Lấy người học làm trung tõm”, “lấy tự học, tự đào
tạo làm trọng tõm”, “lấy tự học làm cốt”. [36, tr 26]. Bởi vì, mọi cố gắng của
thầy chỉ đem lại kết quả khi trò phải tự thân vận động, tích cực chủ động tiếp
thu tri thức. Khâu học trờn lớp chỉ là điều kiện cần để học sinh lĩnh hội tri
thức, rèn luyện kĩ năng, còn muốn biến tri thức mà thầy truyền thụ trở thành
tri thức của mỗi cá nhân thì phải do khâu tự học mà có. Để làm tốt vai trò
chủ động, sáng tạo trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, đòi hỏi người học phải
có thời gian tự học, tự nghiên cứu một cách khoa học mới có thể biến những
tri thức mà người thày truyền thụ trở thành của mỡnh. Chớnh vì vậy, Bác Hồ
đã nói: “ Về cách học, phải lấy tự học làm cốt ”.
1.2. Đã từ lâu Đảng, Nhà nước và ngành Giáo dục và Đào tạo đã có
nhiều chỉ thị, Nghị quyết đề cập đến vấn đề nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo
dục như:
Nghị quyết TW 2 (khoá VIII) đó nờu: "Đảm bảo điều kiện và thời gian
tự học, tự nghiên cứu. Phát triển mạnh mẽ phong trào tự học tự đào tạo
thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên"[9, tr 41].Chỉ
thị 15/1999/CT-BGD&ĐT đề cập nhiệm vụ :"Đẩy mạnh hoạt động đổi mới
phương pháp giảng dạy và học tập, Các giảng viên coi trọng hướng dẫn
học sinh - sinh viên tự học "[4, tr 1- 2].Chỉ thị số 40/CT-TW ngày
15/6/2004 của Ban bí thư TW Đảng về việc xây dựng và nâng cao chất lượng
đội ngò nhà giáo đã đề cập đến nhiệm vụ: "Đặc biệt đổi mới mạnh mẽ và cơ
bản phương pháp giáo dục nhằm khắc phục kiểu truyền thụ một chiều, nặng
lý thuyết Ýt khuyến khích tư duy sáng tạo, bồi dưỡng năng lực tự học, tự
nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề, phát triển năng lực thực hành sáng tạo cho
người học đặc biệt cho sinh viên các trường cao đẳng và đại học" [8, tr 3]
1.3. Gần đây nhất, trường Cao đẳng Sơn La liên tục mở các buổi hội
thảo về Đào tạo tín chỉ cho sinh viên (SV) và hướng tới việc thực hiện mục
tiêu đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong những năm học tới. Vì vậy, vấn đề tự
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình quản lý hoạt động dạy học của khoa Tiểu học - Mầm non
trường Cao đẳng Sơn la.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên Khoa Tiểu học -
Mầm non trường Cao đẳng Sơn La.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài chỉ nghiên cứu hoạt động tự học và biện pháp quản lý hoạt động
tù học của sinh viên Khoa Tiểu học - Mầm non trường Cao đẳng Sơn la.
5. Giả thuyết khoa học
Các biện pháp quản lý hoạt động tự học cho sinh viên nếu được thực
hiện đồng bộ từ việc nâng cao nhận thức về vai trò của tự học đến việc trang
bị cho sinh viên các phương pháp học tập, nghiên cứu khoa học, tạo điều kiện
cơ sở vật chất thuận tiện cho hoạt động tự học thì sẽ nâng cao khả năng
cũng như hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Xác định cơ sở lý luận của việc quản lý hoạt động tự học của sinh
viên hệ cao đẳng.
6.2. Khảo sát và đánh giá thực trạng hoạt động tự học và thực trạng biện
pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên Khoa Tiểu học - Mầm non
trường Cao đẳng Sơn la.
6.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học cho sinh viên Khoa
Tiểu học - Mầm non trường Cao đẳng Sơn la. Khảo nghiệm các biện pháp.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đã nêu trên, đề tài cần sử dụng
các phương pháp cơ bản sau:
7.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
+ Phân tích và tổng hợp, khái quát hoỏ cỏc văn bản, tài liệu, các công trình
nghiên cứu có liên quan đến hoạt động tự học cho sinh viên và quản lý hoạt
động tự học.
HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN
1.1. Vài nét tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tự học là một vấn đề được quan tâm nghiên cứu từ lâu về cả lý luận và
thực tiễn, nhằm phát huy vai trò của người học và nâng cao chất lượng của
hoạt động tự học. Vấn đề tự học có tính truyền thống và tính phổ biến không
chỉ ở nước ta mà còn là vấn đề của thế giới. Song ở từng giai đoạn lịch sử
nhất định, ở mỗi quốc gia nhất định, vấn đề tự học được nghiên cứu đề cập
dưới nhiều khía cạnh khác nhau và đã được nhiều học giả nghiên cứu.
* Ở nước ngoài:
Ở phương Đông, ngay từ thời Trung Hoa cổ đại, nhà giáo dục lỗi lạc -
Khổng Tử (551 - 479, tr CN) đã sớm nhận thấy vai trò quan trọng của tự học,
ụng luụn quan tâm và coi trọng vai trò tích cực chủ động suy nghĩ của người
học. Ông cho rằng: Đồng thời với việc hướng dẫn của người thày, người học
phải tích cực suy nghĩ, tìm tòi khám phá để lĩnh hội tri thức. Ông đã dạy học
trũ: “Khụng khao khát vì không muốn biết thỡ khụng gợi cho, không cảm
thấy xấu hổ vì không rõ thì không bày vẽ cho. Vật có bốn góc, bảo cho biết
một góc mà không suy ra được ba góc kia thỡ khụng dạy nữa”.[31, Tr 6].
Theo ông, trong việc học người học không những phải tích cực chủ động
trong học tập, phải biết kết hợp học với nghĩ, biết phát huy năng lực sáng tạo
của bản thân mà người học còn phải học ở mọi nơi, mọi lúc: Học bất cứ ai,
học bất cứ nơi nào, lóc nào. Trong ba người đồng hành tất phải có một người
là thày ta. ”.[31, Tr 6]. Chính từ những quan điểm về học tập như thế nờn ụng
đó rất thành công trên con đường “dạy học” của mình.
Ở phương Tây, ngay từ thời cận đại, trong quá trình truyền thụ kinh
nghiệm xã hội cho thế hệ sau, các nhà khoa học đã rất quan tâm đến tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của người học. Nhà sư phạm lỗi lạc Tiệp Khắc
J.A.Comenxky (1592 -1670 ) - ễng tổ của nền giáo dục cận đại đã khẳng
định: “Khụng cú khát vọng học tập thì không thể trở thành tài năng, cần phải
làm thức tỉnh và duy trì khát vọng học tập trong học sinh” [31, Tr 6]. Như
vậy ụng đó đánh giá rất cao vai trò của tự học, sự tích cực, chủ động của
Hoành, Vũ Quốc Chung, Thái Duy Tuyên
Trong những năm gần đây, dưới sự hướng dẫn của các thày cô giáo
của trường Đại học sư phạm Hà Nội, có một số luận văn thạc sĩ đã quan tâm
nghiên cứu nhằm khai thác và vận dụng vào thực tiễn những biện pháp tổ
chức hoạt động tự học ở một số trường cao đẳng và đại học góp phần nâng
cao hiệu quả, chất lượng dạy học nói chung và quá trình tự học của sinh viên
nói riêng, tiêu biểu như: Nguyễn Thị Lý, Nguyễn Thị Mai Lan, Trịnh Khắc
Hậu, Nguyễn Thị Bích Phượng, Lê Thị Bích Mỗi tác giả đều có một cách
tiếp cận riêng về vấn đề tự học, song đều tập trung xoay quanh những khía
cạnh như: Tìm hiểu tình hình tự học của sinh viên, nâng cao hoạt động tự học
cho sinh viên, tăng cường hoạt động tự học cho sinh viên, nghiên cứu hoạt
động tự học của sinh viên Từ những góc độ khác nhau, các tác giả đều đề
cập đến vai trò, vị trí, tầm quan trọng của tự học; thực trạng của hoạt động tự
học và đưa ra các phương pháp và biện pháp để nâng cao hiệu quả của hoạt
động tự học và đã khẳng định rõ: Tự học có vai trò rất quan trọng trong quá
trình đào tạo. Đó là cách thức giúp người học phát huy tính độc lập, chủ động
sáng tạo để chiếm lĩnh tri thức khoa học.
Như vậy, vấn đề tự học, tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của người học đã được nhiều nhà khoa học, nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm ở các khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên ở góc độ quản lý
vấn đề tự học, quản lý hoạt động tự học Ýt được các tác giả quan tâm đến.
Chính vì vậy, chúng tôi nhận thấy rằng việc đi sâu nghiên cứu cơ sở lý
luận về tự học, biện pháp quản lý hoạt động tự học trên cơ sở đó đề ra các
biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên là vấn đề rất thiết thực. Đặc
biệt Khoa Tiểu học - Mầm non trường Cao đẳng Sơn La - Nhiệm vụ chủ yếu
là đào tạo giáo viên tiểu học và mầm non có trình độ trung cấp và cao đẳng
cho con em cỏc dõn tộc trong tỉnh thì chưa có công trình nào nghiên cứu. Do
vậy, chúng tôi lùa chọn nghiên cứu đề tài: "Biện pháp quản lý hoạt động tự
học của sinh viên Khoa Tiểu học - Mầm non trường Cao đẳng Sơn La" nhằm
góp phần thực hiện có hiệu quả việc đổi mới chương trình dạy học, giải quyết
quản lý nhằm đạt đến những mục tiêu đã xác định. Quản lý giáo dục là thực
hiện việc quản lý trong lĩnh vực giáo dục. Ngày nay, lĩnh vực xã hội được mở
rộng nhiều hơn so với trước. Đối tượng giáo dục từ thế hệ trẻ sang người lớn
và toàn xã hội. Tuy nhiên, giáo dục thế hệ trẻ vẫn là bộ phận nòng cốt.
Quản lý giáo dục gồm quản lý nhà nước về giáo dục, quản lý nhà
trường và các cơ sở giáo dục khác. Là một bộ phận của quản lý xã hội, quản
lý giáo dục dự cú những đặc điểm riêng biệt song cũng chịu sự chi phối của
quản lý xã hội. Sự khác biệt giữa QLGD và các lĩnh vực quản lý khác được
thể hiện trong cấu trúc của nã.
Cấu trúc của hệ thống QLGD bao gồm:
+ Chủ thể QLGD: là trung tâm thực hiện các tác động hướng đích,
trung tâm ra quyết định điều hành và kiểm tra hoạt động của toàn bộ hệ thống.
Chủ thể QLGD là các cán bộ ngành giáo dục, các nhà giáo có kinh nghiệm và
năng lực lãnh đạo được chuyên môn hoá trong lao động với tư cách cá nhân hay
một tập thể. Tập hợp các cán bộ QLGD tạo thành đội ngò CB QLGD.
+ Cơ chế QLGD: Là phương thức thực hiện sự tác động qua lại giữa
chủ thể và đối tượng quản lý. Cơ chế này bao gồm loại cơ chế chính thức và
cơ chế không chính thức. Cơ chế chính thức là những quy định đã thành văn
bản mang tính pháp lý được thực hiện nhằm duy trì quan hệ giữa chủ thể và
đối tượng. Đó là các văn bản do nhà nước ban hành, do Bộ Giáo dục & Đào
tạo và các cơ quan chức năng có thẩm quyền được Bộ Giáo dục & Đào tạo uỷ
quyền ban hành. Chẳng hạn chủ thể quản lý điều hành hoạt động của hệ
thống quản lý bởi kế hoạch chương trình dạy học, khi đó ta nói cơ chế quản
lý được thực hiện là quy chế chính thức. Cơ chế không chính thức là những
quy định không thành văn nhưng được chủ thể quản lý sử dụng nhằm duy trì
quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý. Những quy định này được mọi
thành viên trong hệ thống quản lý chấp nhận và được biến đổi dưới những tác
động đó một cách phù hợp với ý chí của chủ thể, phù hợp với quy luật khách
quan và mục tiêu mà chủ thể đã đặt ra.
+ Đối tượng QLGD: là những đối tượng chịu sự tác động của chủ thể
đời hành nghề một cách có hiệu quả". [12, tr 45]
Như vậy đào tạo có thể hiểu là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng
nghề nghiệp từ đầu, đồng thời giáo dục phẩm chất đạo đức thái độ cho người
học để họ trở thành công dân, người cán bộ, người lao động có chuyên môn và
nghề nghiệp nhất định nhằm thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của mỗi cá
nhân, đáp ứng yêu cầu của xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Quá
trình này diễn ra ở các cơ sở đào tạo như: Các trường đại học, cao đẳng, trung
học chuyên nghiệp, trường dạy nghề theo một kế hoạch, nội dung, chương
trình, thời gian quy định cho từng ngành nghề cụ thể nhằm giúp cho người học
đạt được trình độ nhất định trong hoạt động lao động nghề nghiệp.
Quản lý quá trình đào tạo là hệ thống những tác động có mục đích, có
kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý lên quá trình đào tạo (Theo nghĩa
hẹp chính là quá trình dạy và học) nhằm phát triển nhân cách (phẩm chất,
năng lực) của HS - SV theo mục tiêu đào tạo của nhà trường đã đề ra.
Đối tượng của quản lý quá trình đào tạo trong nhà trường là hoạt
động của GV, HSSV và các tổ chức sư phạm của nhà trường trong việc
thực hiện các kế hoạch và chương trình đào tạo nhằm đạt được mục tiêu
đào tạo đã quy định.
Quá trình đào tạo ở đây bao gồm quá trình dạy học và quá trình giáo
dục, là bộ phận cấu thành chủ yếu nhất trong toàn bộ hoạt động của nhà
trường (theo nghĩa hẹp). Do đó quản lý quá trình đào tạo là bộ phận chủ yếu
nhất trong toàn bộ công tác quản lý nhà trường. Sự phõn hoỏ của quá trình
đào tạo trong nhà trường chính là nền tảng để phõn hoỏ chức năng, xác định
cơ chế tổ chức quản lý và tổ chức chỉ đạo hoạt động đào tạo trong nhà
trường.
Quá trình đào tạo là do nhà trường tổ chức, quản lý và chỉ đạo nhưng
nó có quan hệ tương tác, liên thông với các tổ chức đào tạo khác hoặc các tổ
chức cơ quan khoa học, kỹ thuật công nghệ, văn hoá, nghệ thuật mà Sinh
viên cần phải có điều kiện tiếp cận.
* Quản lý quá trình đào tạo bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
đạt hiệu quả cao.
1.2.3. Hoạt động tự học.
* Tù học: Từ trước đến nay tự học là một vấn đề luôn được nhiều
người quan tâm và có nhiều quan niệm về vấn đề này.
Tự học là tự mình suy nghĩ, tự tìm kiến thức, là quá trình nỗ lực chiếm
lĩnh tri thức của bản thân người học bằng hành động của chính mình, hướng
tới những mục đích nhất định.
N.A.Rubakin đã nói: "Tự đi tìm lấy kiến thức - có nghĩa là tự học"[37].
Các nhà tâm lý học cho rằng: “Tự học là một quá trình lĩnh hội kinh
nghiệm xã hội, hoạt động lý luận và thực tiễn của cá nhân. Bằng cách thiết
lập các quan hệ mới cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu các mô hình
phản ánh hoàn cảnh hiện tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể. [15, Tr 12].
Theo giáo sư Lờ Khỏnh Bằng “Tự học là hình thức học tập hoàn toàn
tự lực của học sinh nhằm xử lý các thông báo khoa học mà học sinh nhận
thức được thông qua tất cả các hình thức dạy học khỏc”. [15, Tr 12].
Trong cuốn “Tự học - Mét nhu cầu của thời đại” Nguyễn Hiến Lờ đó
đưa ra cách hiểu: Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi để
hiểu biết thờm. Cú thày hay không, ta không cần biết. Người tự học hoàn
toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tuỳ ý, muốn học lúc nào cũng được,
đó mới là điều kiện quan trọng. [15, Tr 12].
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn và các cộng sự của ụng đó đưa ra khái
niệm tự học như sau: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các
năng lực trí tuệ (quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp
(khi phải sử dụng công cụ) cựng cỏc phẩm chất của mình rồi cả động cơ tình
cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí
tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng ham mê khoa
học ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó
thành sở hữu của mỡnh” [33, Tr 59].
Theo tác giả Lưu Xuân Mới: " Tù học là hình thức hoạt động nhận
xếp kế hoạch, huy động các điều kiện vật chất và năng lực bản thân để ôn tập,
củng cố, đào sâu, mở rộng và hoàn chỉnh kiến thức, hoàn thành nhiệm vụ học
tập mà giáo viên giao, lĩnh hội phần kiến thức mới. Đó là tự học dưới sự điều
khiển gián tiếp của giáo viên nhằm hoàn thiện nhiệm vụ dạy - học.
Trong quá trình học tập, sinh viên còn tiến hành hoạt động tự học
nhằm đáp ứng nhu cầu hiểu biết riêng, bổ xung và mở rộng tri thức ngoài
chương trình đào tạo đã quy định của nhà trường.
Như vậy, hoạt động tự học của sinh viên về bản chất là hoạt động
nhận thức độc lập. Nú cú phạm vi rất rộng, từ tự học trờn lớp dưới sự tổ
chức, điều khiển trực tiếp của giáo viên, tự học ở nhà dưới sự điều khiển
gián tiếp của giáo viên cho tới tự học hoàn toàn độc lập không có sự tổ
chức điều khiển của giáo viên.
* Hoạt động tự học xét dưới góc độ cấu trúc bao gồm:
- Động cơ: Là nhu cầu, hứng thó thu hót người học vào quá trình học
tập tích cực và duy trì tính tích cực đó trong mọi giai đoạn học tập, cho người
học thấy được ý nghĩa của việc học tập.
- Định hướng: Là mục đích của người học để xác định và ý thức được
hoạt động nhận thức của mỡnh, nú trả lời cho câu hỏi: Học để làm gì?
- Nội dung - phương pháp: Là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chủ
đạo cần chiếm lĩnh và các hình thức chiếm lĩnh chóng. Nó trả lời cho câu hỏi:
Học cái gì? Học như thế nào?
- Năng lực học tập: Là những khả năng tập trung chó ý, năng lực
trí tuệ và năng lực thực hành vốn có để phát huy quá trình tự học (chính
là thái độ học tập).
- Năng lực tự kiểm tra, tự đánh giá: Là hoạt động mà cá nhân tự đánh
giá kết quả học tập và hoạt động, làm cơ sở cho những hoạt động tiếp theo
của bản thân.
* Kỹ năng tự học:
Để hoạt động tự học đạt kết quả cao, người học có động cơ tự học
đúng đắn, có thái độ tự học tốt, có ý chí và có hứng thó với môn học khụng
thống hoá và khái quát hoá tài liệu
- Nhóm kỹ năng tự kiểm tra đánh giá: Nhóm này bao gồm những kỹ
năng xác định nội dung sẽ kiểm tra và đánh giá; xây dựng chuẩn tự kiểm tra,
đánh giá; sử dụng các thao tác tự kiểm tra, tự đánh giá như so sánh, đối
chiếu Tự kiểm tra là kỹ năng không thể thiếu được trong việc thực hiện mục
tiêu đã đề ra, giúp người học kịp thời phát hiện sai sót và điều chỉnh hoạt
động tự học để đạt kết quả học tập.
Như vậy, kỹ năng tự học là một yếu tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến
kết quả tự học. Việc huy động các kỹ năng tự học để thực hiện các mục tiêu
tự học là một trong những yếu tố giúp người học đáp ứng được nội dung,
chương trình đào tạo. Bởi vậy, việc rèn luyện kỹ năng tự học cho người học
là việc làm rất cần thiết của mỗi giáo viên và của chính bản thân người học.
1.2.4. Quản lý hoạt động tự học.
a. Khái niệm:
Quản lý hoạt động tự học là một trong những nội dung quản lý quá
trình đào tạo nói chung và quản lý hoạt động dạy - học nói riêng.
Mét trong những nội dung quản lý quá trình giáo dục đào tạo là quản
lý hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh,
sinh viên (HSSV) mà tự học là một bộ phận quan trọng trong học tập, rèn
luyện của HSSV.
Với ý nghĩa tự học là quá trình chủ động chiếm lĩnh tri thức của người
học dưới tác động của các nhân tố bên ngoài và bên trong và với ý nghĩa
quản lý là quá trình tác động tích cực của chủ thể quản lý đến đối tượng để
định hướng, giúp đỡ, tổ chức, thúc đẩy tạo điều kiện giám sát, kiểm tra,
hoạt động cuả đối tượng nhằm đạt đến mục đích. Ta có thể hiểu khái niệm
quản lý hoạt động tự học như sau:
Quản lý hoạt động tự học là quản lý các hoạt động học tập tích cực
nhằm nâng cao hiệu quả học tập của người học và hiệu quả đào tạo của cơ sở
giáo dục. Công tác quản lý hoạt động tự học ở sinh viên là kế hoạch hoá hoạt
động lãnh đạo, chỉ đạo của nhà trường nhằm điều khiển các tổ chức trong nhà
của họ sinh viên, vai trò tổ chức điều khiển của giáo viên, hoạt động phối hợp
trong kiểm tra, đôn đốc của cán bộ quản lý cũng như các điều kiện khác có
liên quan đến hoạt động tự học.
b. Nội dung quản lý hoạt động tự học.
* Xây dựng động cơ tự học cho sinh viên.
Mọi hoạt động của con người đều là hoạt động có mục đích, được thúc
đẩy bởi động cơ của hoạt động đó. Động cơ hoạt động là lực đẩy và nguyên
nhân trực tiếp của hành động duy trì hứng thó, tạo ra sự chú ý liên tục, giúp
chủ thể vượt mọi khó khăn đạt tới mục đích đã định. Vì vậy, động cơ của
hoạt động quyết định kết quả của hoạt động đó.
Đó có những nghiên cứu khẳng đinh vai trò của động cơ trong hoạt
động: Hoạt động nào diễn ra có hiệu quả hơn và cho kết quả chất lượng hơn
thì trong hoạt động đó cá nhân đều có động cơ rõ ràng sâu sắc, mạnh mẽ,
kích thích ý muốn hành động tích cực, cống hiến toàn bộ sức lực, vượt qua
trở ngại không tránh khỏi. [29, tr 23]
Hoạt động tự học của sinh viên bình đẳng như các hoạt động khác song
nó có tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân, điều này càng khẳng
định nó phải được thúc đẩy bởi hệ thống động cơ học tập nói chung và động
cơ tự học nói riêng. Động cơ tự học cũng có nhiều cấp độ khác nhau bắt đầu
từ sự phải thoả mãn nhu cầu, phải hoàn thành nhiệm vô tù học, tự khẳng định
mình, mong muốn thành thạo nghề nghiệp tương lai Cho tới cấp độ cao là
thoả mãn nhu cầu hiểu biết, lòng khát khao tri thức. Mọi động cơ đều có
nguồn gốc được hình thành từ những tác động bên ngoài và được cá nhân hoá
thành hứng thó, tâm thế, niềm tin, của mỗi cá nhân. Hình thành động cơ
hoạt động phải bắt đầu từ xây dựng các điều kiện bên ngoài cho phù hợp với
nhận thức, tình cảm cá nhân.
Xác định được động cơ học tập tức là ý thức được nhiệm vụ của mình
ở trường học, hoạt động học tập sẽ diễn ra hữu hiệu hơn nếu như sinh viên có
thái độ học tập đúng đắn, có hứng thó nhận thức, có nhu cầu lĩnh hội kiến
thức, kỹ năng, kỹ sảo. Vì vậy, cần bồi dưỡng cho sinh viên động cơ học tập
sâu và mở rộng sự hiểu biết, hoàn thành nhiệm vụ học tập được giao của từng
cá nhân sinh viên. Vì vậy, xây dựng kế hoạch tự học phải do chính cá nhân
người học thực hiện.
Xây dựng kế hoạch tự học là việc làm thể hiện tính khoa học, tính tích
cực chủ động nhằm giúp cho sinh viên bố trí thời gian công việc một cách
hợp lý, hoàn thành đúng tiến độ và chất lượng. Song việc thực hiện kế hoạch
một cách có hiệu quả và thường xuyên lại là một việc khó hơn. Đây là quá
trình biến những điều đã dự định thành hiện thực, là sự tiến hành trong thực
tiễn các hoạt động theo những phương thức đó lựa chọn. chính giai đoạn này
đòi hỏi sự kiên trì, mạnh mẽ và chủ động ở người học nhằm vượt qua những
khó khăn trong quá trình học tập. Hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện kế
hoạch tự học của sinh viên thông qua:
- Hướng dẫn, giúp đỡ sinh viên xây dựng và điều chỉnh, hoàn thiện kế
hoạch tự học, tự kiểm tra, đánh giá.
- Đảm bảo điều kiện phục vụ cho hoạt động tự học của sinh viên: Quỹ
thời gian, giáo trình, tài liệu tham khảo, các phương tiện phục vụ học tập.
- Gợi ý nội dung tự học, nhiệm vụ cần giải quyết và thời gian tự học
cho từng phần, từng môn học.
- Hướng dẫn cho sinh viên các phương pháp tự học, cách thức giải
quyết những tình huống nảy sinh trong quá trình tự học.
Từ đó quản lý việc xây dựng kế hoạch và quản lý việc thực hiện kế
hoạch tự học sẽ góp phần nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên.
* Quản lý nội dung tự học.
Để quản lý được nội dung tự học, hướng cho nội dung tự học phù hợp
mục tiêu, yêu cầu đào tạo, giảng viên phải hướng dẫn nội dung tự học cho
sinh viên. Nội dung tự học gồm:
- Hệ thống các nội dung tự học mang tính bắt buộc (sinh viên phải hoàn
thành) để nắm vững tri thức.
- Định hướng nghiên cứu đào sâu, mở rộng tri thức từ các vấn đề trong nội
dung học tập và hướng vận dụng nghiên cứu.
nhiệm vô tù học, phát hiện sai lệch giúp sinh viên điều chỉnh hoạt động tự học.
- Kiểm tra, đánh giá hoạt động và kết quả tự học là chức năng của giáo
viên và cán bộ quản lý. Đối với cán bộ quản lý đào tạo còn phải thực hiện cả
nội dung quản lý công tác kiểm tra đánh giá của giáo viên nhằm đảm bảo tính
khoa học, thống nhất và công bằng (qua việc làm tham mưu, hướng dẫn,
giám sát các hoạt động kiểm tra, đánh giá của giáo viên và chủ nhiệm líp đối
với hoạt động của sinh viên).
* Quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học của sinh viên.
Nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ học tập phải đảm bảo các điều kiện
cho hoạt động tự học của sinh viên trờn cỏc mặt sau:
- Quản lý cơ sở vật chất đảm bảo học tập trờn lớp, tự học, sinh hoạt tập
thể. Cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập góp phần nâng
cao hiệu quả dạy và học: Tu sửa, nâng cấp, hiện đại hoá phòng học, cải tạo hệ
thống chiếu sáng, cách âm, Những việc làm này không chỉ có ý nghĩa đảm
bảo chất lượng dạy - học, tự học mà còn có ý nghĩa kích thích hứng thó cho
sinh viên. Để tăng cường hoạt động dạy - học, tự học việc đầu tư hợp lý đảm
bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị cho dạy học, tự học là vấn đề cấp bách và
thiết thực.
- Quản lý giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo, phương tiện kỹ
thuật dạy học.