MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CĐ
Cao đẳng
CĐSL
Cao đẳng Sơn La
DTTS
Dân tộc thiểu số
ĐH
Đại học
HS
Học sinh
HT
Học tập
KK
ra một cách bức thiết, bởi vì đây là nguồn nhân lực chủ yếu để đưa đất nước
phát triển. Mặt khác, tốc độ phát triển thông tin như hiện nay đòi hỏi SV phải có
những kỹ năng và phương pháp học tốt để có thể tự học và tự trau dồi kiến thức
cho mình. Khác với cách học ở phổ thông, học tập ở Cao đẳng đòi hỏi ở SV phải
có kỹ năng, phương pháp học tập mới để có thể tiếp nhận một lượng kiến thức
lớn. Hoạt động học tập của SV là đi sâu, tìm hiểu những môn học, những
chuyên ngành khoa học cụ thể, hoạt động này mang tính độc lập, tự chủ và tính
sáng tạo cao. Vì thế, vấn đề đặt ra ở đây là bản thân họ phải luôn tích cực và chủ
động để có thể hoà nhập và tự hoàn thiện chính bản thân.
Bên cạnh đó, không phải SV nào cũng có điều kiện thuận lợi như nhau
trong quá trình HT và nghiên cứu. Đối với những SV có nền tảng tốt từ phổ
thông (được tiếp cận với các phương tiện hiện đại, với những đội ngũ giáo
viên có chất lượng cao,...) thì việc học tập ở CĐ trở nên dễ dàng hơn. Còn đối
với SV người dân tộc thiểu số, phần lớn họ đến từ những vùng cao, vùng sâu,
xuất thân từ những gia đình khó khăn, họ HT ở môi trường phổ thông với
điều kiện không thuận lợi. Vì thế, trình độ đầu vào của những SV này không
cao, nhiều em tiếng phổ thông chưa thạo, chưa có sự mạnh dạn trong giao lưu
học hỏi...,chính những yếu tố này đã gây không ít những khó khăn tâm lý cho
SV trong quá trình HT. Đứng trước những KKTL đó nếu không có những
cách thức khắc phục KK thì sẽ dễ làm cho SV chán nản, bỏ bê, từ đó tạo cho
họ sự trì trệ, buông xuôi, phó mặc và không có động lực để phấn đấu.
1.2. Về mặt thực tiễn
Các nghiên cứu đã cho thấy rằng, dù ở cấp học nào thì người học cũng
có những KKTL trong HT. Nghiên cứu của tác giả Vũ Ngọc Hà (2009) cho thấy
đa số HS đầu lớp 1 có KKTL trong học tập, sinh hoạt, giao tiếp với bạn, HS nam
ít KK hơn nữ [25]. Tác giả Vũ Thị Khánh Linh, Đinh Thị Duyên (2011), nghiên
1
cứu cho thấy có 100 % SV tự nhận thấy bản thân đang gặp stress trong học tập
7. Phương pháp nghiên cứu
3
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
7.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
7.3. Phương pháp phỏng vấn
7.4. Phương pháp quan sát
7.5. Phương pháp nghiên cứu trường hợp
7.6. Phương pháp thực nghiệm
7.7. Phương pháp thống kê toán học
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HỌC
TẬP CỦA SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu khó khăn tâm lý trong học tập của sinh viên.
Tổng quan những công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học ở trong
và ngoài nước về KK và KKTL của HS, SV. Chúng tôi nhận thấy các tác giả đã
quan tâm đến nhiều vấn đề liên quan đến KK, KKTL, KKTL trong HT của HS,
SV. Trong mỗi vấn đề nghiên cứu, các nhà tâm lý học đã có những mối quan
tâm, có những cách nhìn nhận khác nhau về KK, KKTL của HS, SV.
1.1.1. Những nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong học tập của sinh viên ở nước ngoài
Vấn đề KKTL của SV đã được nhiều tác giả ở nước ngoài nghiên cứu. Tùy
theo cách tiếp cận của mình, mỗi tác giả đã xem xét những khó khăn này dưới các
mặt khác nhau. Tuy nhiên, trong lĩnh vực này phần nào các tác giả cũng đã có những
điểm khá thống nhất. Có thể tổng hợp những công trình nghiên cứu về vấn đề này
vào ba hướng chính là những nghiên cứu về biểu hiện KKTL, các nguyên nhân gây
- Không hiểu đặc điểm của đối tượng trong giao tiếp;
- Thụ động trong giao tiếp;
- Có tâm trạng lo lắng, sợ hãi;
- Lúng túng khi điều khiển trạng thái tâm lý bản thân trong giao tiếp
- Mối quan hệ qua lại chưa được xây dựng linh hoạt, bắt chước máy móc
cách ứng xử của người giáo viên khác [8]
Xinyin Chen - Trường Đại học Tây Ontario, Canada và Bo-hu-li - Trường
Đại học Sư phạm Thượng Hải, Trung Quốc, (2000) bằng phương pháp tự thuật,
qua đánh giá của bạn bè, GV và hồ sơ tại trường đã nghiên cứu ảnh hưởng tâm
trạng thất vọng tới sự thích ứng trường học của trẻ em Trung Quốc trong vòng
hai năm trên trẻ 12 tuổi và đi đến kết luận, tâm trạng thất vọng của các em HS
này ổn định qua hai năm học. Hơn nữa, sự thất vọng tác động âm tính tới các kết
quả học tập và tác động dương tính tới việc tăng các khó khăn thích ứng. Các
kết quả này cho thấy rằng, tâm trạng thất vọng là một tín hiệu có ý nghĩa trong
sự phát triển tâm lý - xã hội của trẻ em Trung Quốc và vì vậy, nó cần được các
bậc cha mẹ, các thầy, cô giáo và các nhà giáo dục quan tâm [96].
Các tác giả Nick Ialongo, Gail Edelsohn, Lisa Werthamer-Larsson, Lisa
Crockett, Sheppard Kellam đã tiến hành nghiên cứu trên 1197 HS lớp 1 và cho
thấy, sự lo lắng của HS lớp 1 ảnh hưởng có ý nghĩa tới việc học đọc của các em.
Sự lo lắng này có các triệu chứng lâm sàng. Các tác giả cũng khuyến cáo rằng,
cần có nghiên cứu sâu hơn nữa trước khi rút ra kết luận. [92].
6
Edward Hallowell (2003) khi nghiên cứu rối loạn học tập của trẻ em có
đặt ra câu hỏi: Bao nhiêu trẻ em được chẩn đoán, được mô tả là bị rối loạn về
việc học? và đã trả lời: Theo đánh giá thận trọng thì cứ 10 em có 1 em bị rối
loạn loại này, trong đó 5% bị chứng đọc khó, 4% bị rối loạn thiếu tập trung và
1% bị các rối loạn khác. Những hình ảnh về các chứng rối loạn học tập rất khó
xác định vì các tiêu chí được dùng để minh định những rắc rối về học tập thay
Schwarzer (1981) cho rằng, ở tất cả các lớp học đều có một số HS hay lo sợ.
Khi có những yêu cầu về thành tích, chúng nhanh chóng cảm thấy bị đe doạ ghê
gớm và thường phản ứng lại bằng các trạng thái tâm lý bực dọc và hành vi nhận thức
sai. Người ta thấy luôn tương quan nghịch giữa một bên là sự lo sợ chung, sợ trường
học và sợ thi và một bên là những đòi hỏi thành tích nhận thức cao. [64]
Việc HS lo sợ kiểm tra là nhân tố cá nhân ảnh hưởng đến thành tích ở nhà
trường đã được nhiều tác giả nghiên cứu (Helmke, 1983a,b; Pekrun, 1991a,b;
Pekrun & Helmke, 1991). Lo sợ kiểm tra được hiểu là hiện tượng cá nhân luôn
luôn phản ứng với một khuôn mẫu đặc trưng của các quá trình vận động, trải
nghiệm - chủ quan và sinh lý trong những tình huống được cảm nhận là có vấn đề
về thành tích. Kết quả nghiên cứu cho thấy nỗi lo sợ kiểm tra thường làm cho hoạt
động trí tuệ gặp trở ngại với những nhiệm vụ khó khăn và phức tạp. [64, tr 365]
Trong cuốn "Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm" A.V. Petrovxki
(1982) đã chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến khó khăn ở trẻ lớp 1. Đó là: Thiếu
những thói quen cần thiết để đáp ứng được những yêu cầu của chế độ học tập mới
mẻ. Theo tác giả, những thói quen đó bao gồm: thức dậy đúng giờ, không bỏ học,
trong giờ học phải ngồi yên lặng, phải thực hiện đúng hạn những bài tập cho về nhà
v.v...Tác giả cho rằng, thiếu những thói quen cần thiết làm trẻ sẽ rất mệt mỏi, sẽ
thất bại trong học tập và sẽ vắng mặt trong những buổi học quy định. [59]
Các nhà tâm lý học Mỹ (Egeland B., Sroufe L.A., Pettit G.S., Dodge
K.A., Brown M.M., Kreutzer T.) đã nghiên cứu ảnh hưởng của kinh nghiệm gia
đình trẻ đến khả năng thích nghi trường học sau này của trẻ. Các tác giả này
phát hiện rằng, những kiểu mẫu hành vi xã hội được trẻ lĩnh hội ở gia đình đóng
vai trò then chốt trong sự phát triển các thói quen hành vi xã hội và tạo lập qui
chế xã hội giữa các bạn đồng lứa (Kupersmidt và cộng sự). [85], [86], [87], [88].
Bianka Zazzo (1990) cùng 12 cộng sự ở trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em
thuộc Đại học Paris 10 đã nghiên cứu bước chuyển từ mẫu giáo lên lớp 1 của trẻ
em. Có thể nói, đây là một trong những công trình nghiên cứu tiêu biểu về HS lớp
1. Theo tác giả, khó khăn lớn nhất của trẻ khi chuyển từ mẫu giáo lên lớp 1 là sự
thay đổi môi trường hoạt động một cách triệt để. Ở mẫu giáo trẻ vừa học vừa chơi,
HS lớp 1 thích khám phá môi trường và tích cực tiếp cận với người khác sẽ tích
lũy được nhiều nguồn xã hội hỗ trợ và kiến thức chung về môi trường để tăng
cường năng lực thích ứng của mình. Theo các tác giả, nhân cách tự cường có
quan hệ tới thành tựu học tập của các em. [94].
Ronan Van Rossem (2002) nghiên cứu trên 1241 trẻ từ 6 -7 tuổi ở 71 lớp
của 49 trường về những khác biệt trong sự thích ứng trường học và thích ứng
học tập của HS. Kết quả cho thấy, các đặc điểm của lớp học và cấu trúc xã hội
của lớp như sự hòa nhập và cởi mở là các yếu tố tạo nên sự khác biệt trên. Như
9
vậy, các mối quan hệ trong lớp có thể tạo ra khó khăn hay thuận lợi trong việc
thích ứng trường học, thích ứng học tập của HS lớp 1. [91].
P.Zettergren, khoa Tâm lý học, trường Đại học Stockholm, Thuỵ Điển
nghiên cứu trẻ vị thành niên 10-11 tuổi (2003) và thấy rằng, thành tích học tập
và mức độ thông minh của những em bị bạn bè hắt hủi là kém hơn so với các
nhóm HS khác. Điểm số của những em được bạn bè yêu quý đạt chuẩn cao. Có
dấu hiệu cho thấy rằng, những HS nữ bị bạn bè ghét bỏ có thái độ tiêu cực với
trường học và các nhiệm vụ ở trường. Tỷ lệ bỏ học giữa chừng ở HS nam bị
ghét bỏ cao hơn nhiều so với các nhóm HS nam khác. Những trẻ bị bạn bè hắt
hủi là những em có thể gây rắc rối ở trường và khi lớn lên. Vì vậy, cần phải
quan tâm đặc biệt tới những trẻ này [95].
Trong những nghiên cứu này, các tác giả cũng cho thấy rằng “có rất nhiều
nguyên nhân gây ra KKTL trong HT cho HS khi đi học, trong đó những nguyên
nhân như do thay đổi môi trường học tập, do chậm phát triển các chức năng tâm
lý, do sự khác biệt tâm lý, do kém thích nghi trường học hoặc nguyên nhân từ
phía gia đình là những nguyên nhân đáng chú ý”.
Bên cạnh đó, để ngăn ngừa những khó khăn học đường cho trẻ khi đi học,
các tác giả Guimard Philippe, Florin Agnès (2000) đã đưa ra một biện pháp tâm
nhất định, bị căng thẳng ở một mức độ nhất định. Nói đến khó khăn là nói đến
sự chịu đựng hơn so với bình thường của chủ thể trong hoàn cảnh đó. Những
KKTL thường xuất hiện trong những hoạt động chủ đạo của trẻ vị thành niên và
tương ứng với những đặc điểm phát triển tâm lý và nhân cách của lứa tuổi này.
Nhìn chung, bước vào tuổi vị thành niên phần lớn các em đều gặp phải những
khó khăn trong hầu hết các lĩnh vực hoạt động của mình như trong học tập,
trong quan hệ với bạn bè, với thầy cô giáo...nhưng nổi bật nhất là mâu thuẫn nảy
sinh trong mối quan hệ qua lại giữa cha mẹ với các em. [23]
Nghiên cứu về những KKTL của sinh viên học viện Cảnh sát nhân dân,
các tác giả Đỗ Thị Hạnh Phúc và Triệu Thị Hương (2007) cho rằng, “hầu hết
sinh viên đều gặp tất cả các KKTL trên tất cả các lĩnh vực của cuộc sống” với
tần số "đôi khi"; những khó khăn xuất hiện với tần số "thường xuyên" có tỷ lệ
thấp hơn và tập trung chủ yếu vào những nội dung: tình bạn khác giới, điều kiện
sinh hoạt, giao tiếp trong cuộc sống, quy định của trường, ngành. Để giải quyết
những khó khăn này sinh viên đã sử dụng nhiều cách ứng phó khác nhau. Một số
sinh viên đã sử dụng biện pháp hướng vào bản thân hoặc âm thầm chịu đựng và
những cách giải quyết này chưa thực sự mang lại hiệu quả. [62].
Nghiên cứu về KKTL và nhu cầu tham vấn của HS trung học phổ thông,
nhóm tác giả Dương Thị Diệu Hoa - Vũ Khánh Linh - Trần Văn Thức (2007)
cho rằng, những trạng thái tiêu cực, căng thẳng, lo âu sẽ tạo ra ở cá nhân các khó
11
khăn, rào cản tâm lý, ảnh hưởng xấu đến hoạt động và phát triển của cá nhân. Vì
vậy, sự xuất hiện và tồn tại của các trạng thái tâm lý tiêu cực là một chỉ báo sự
tồn tại hay không tồn tại của những KKTL. [35]
Tác giả Nguyễn Thị Vân Thanh, Nguyễn Sinh Phúc (2007) nghiên cứu
ở 2 trường Tiểu học ở Hà Nội trên 48 khách thể được chẩn đoán là rối nhiễu
tăng động giảm chú ý (sau khi sàng lọc từ học sinh hai trường tiểu học), cho
khi giải quyết khó khăn. Có 68,8% học sinh cho rằng các cách giải quyết hiện
tại mang lại hiệu quả, còn 31,2 % cho rằng các cách giải quyết hiện tại của
mình không mang lại hiệu quả. Nghiên cứu cũng khảo sát nhu cầu tham vấn
trong nhà trường của học sinh, trong đó có 55,4% các em cho rằng việc tiến
hành tham vấn thường xuyên trong trường học là rất cần thiết. Nội dung các
em mong muốn nhận được sự tham vấn là: (1) nghề nghiệp; (2) học tập, rèn
luyện; (3) sự phát triển bản thân; (4) quan hệ với bạn bè; (5) quan hệ gia đình;
(6) sự đánh giá từ người khác; (7) quan hệ với thầy cô giáo. [36]
Nghiên cứu “cách ứng phó với KKTL của học sinh THPT” của tác
giả Đinh Thị Hồng Vân và Nguyễn Phước Cát Tường (2009) đã tiến hành
khảo sát trên 622 học sinh cho thấy có 6 lĩnh vực học sinh THPT thường
gặp khó khăn, đó là: (1) học tập; (2) quan hệ ứng xử với giáo viên; (3)
quan hệ ứng xử với bạn bè; (4) quan hệ ứng xử với bạn khác giới; (5) quan
hệ ứng xử với bố mẹ và người thân; (6) hướng nghiệp. Nghiên cứu cũng đề
cập đến cách ứng phó với KKTL mà học sinh thường sử dụng đó là: (1)
trao đổi, tâm sự với bạn bè mà mình tin cậy; (2) thư giãn như nghe nhạc, đi
dạo,…; (3) trao đổi, xin ý kiến của bố mẹ, người thân. Bên cạnh những
cách ứng phó mang tính tích cực ở trên thì học sinh còn sử dụng những
cách ứng phó khá tiêu cực như: “âm thầm chịu đựng, để cho vấn đề tự qua
đi", “tự đổ lỗi cho bản thân”, “khóc buồn bã”. [80]
Tác giả Vũ Ngọc Hà (2009), nghiên cứu về khó khăn tâm lý của học
sinh đầu lớp 1 (trên 547 HS ở Hà Nội, Hà Tây, Cà Mau, Trà Vinh) cho
thấy: đa số HS đầu lớp 1 có khó khăn tâm lý trong học tập, sinh hoạt, giao
tiếp với bạn, HS nam ít khó khăn hơn nữ; 5,7% - muốn về nhà – an toàn;
4,6% - khóc 1 – 2 lần/tuần vì nhớ nhà, mệt, bạn trêu, đi vệ sinh; 6,3% giấc ngủ không ngon…mơ, sợ,…; 1,8% - đau không rõ nguyên nhân. [25].
Tác giả Vũ Thị Khánh Linh, Đinh Thị Duyên (2011), nghiên cứu trên
125 sinh viên của trường ĐHSP Hà Nội (60 SV khoa TLGD – 30 SV nhất và
30 SV năm thứ tư, 65 SV khoa Hoá học – 30 SV năm thứ nhất và 35 SV năm
thứ ba) cho thấy: có 100 % SV tự nhận thấy bản thân đang gặp stress trong
học tập cũng như trong cuộc sống ở mức độ khác nhau; có 92,8% SV tự nhận
không có việc làm khi ra trường, chiếm 63,2 %). Khó khăn tâm lý trong học
tập (áp lực điểm số thi cử chiếm 56,6%); hứng thú học tập (chiếm 54,2%). Khó
khăn trong giao tiếp ứng xử (khó diễn đạt ý kiến của mình chiếm 43,9%); khó
khăn trong kỹ năng nói chuyện với mọi người chiếm 42,5%. Khó khăn trong
14
quan hệ với cha mẹ, người lớn (cha mẹ ra yêu cầu quá cao chiếm 35,9%); tiếp
theo đó là “không được cha mẹ, người thân hiểu”, “mâu thuẫn, bất hoà với gia
đình”. Khó khăn tâm lý trong quan hệ tình bạn khác giới, tình yêu (khó khăn
trong việc từ chối tình yêu của bạn khác giới chiếm 36,8 %). Cũng theo nghiên
cứu này thì đa số sinh viên mong nhận được sự trợ giúp tâm lý chuyên nghiệp
(68,9%) và mong muốn nhà trường có phòng hỗ trợ tâm lý cho sinh viên. [70]
Những khó khăn của sinh viên xuất hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau:
học tập, quan hệ bạn bè, quan hệ với cha mẹ, xác định nghề nghiệp khi ra
trường, tình yêu và hôn nhân,…Đặc biệt có một tỷ lệ không nhỏ sinh viên
trải nghiệm stress có hại, các hiện tượng khác như trầm cảm, lo âu, tự ti
cũng chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong sinh viên. [70] Dù ở giai đoạn phát
triển nào, trẻ em – thanh thiếu niên cũng có thể gặp khó khăn tâm lý.
Những khó khăn này khác nhau ở mỗi giai đoạn lứa tuổi, nhưng nhìn
chung đều thuộc một số khía cạnh chủ yếu, đó là: (1) phát triển tâm sinh lý
của bản thân; (2) học tập; (3) quan hệ với bạn bè, thầy cô và cha mẹ; (4)
định hướng nghề; (5) tình bạn khác giới/tình yêu; (6) cám dỗ của tệ nạn xã
hội/phương tiện truyền thông, trò chơi điện tử, phim ảnh thiếu lành mạnh;
(7) những khó khăn, rối nhiễu tâm thần cụ thể khác có liên quan tới một
trong các khía cạnh trên: lo âu, stress, trầm cảm,.v.v. [70]
Qua những nghiên cứu về khó khăn tâm lý nói chung ở Việt Nam.
Các tác giả đều cho rằng, “phần lớn HS, SV đều gặp KKTL. Những KKTL
ở các khía cạnh như: học tập, quan hệ ứng xử với giáo viên, quan hệ ứng
xử với bạn bè, phát triển tâm sinh lý, định hướng nghề nghiệp, thiếu tự tin
Nguyễn Xuân Thức (2003) cho rằng, trẻ em khi đi học lớp 1 có gặp và gặp nhiều
KKTL cản trở hoạt động của trẻ ở nhà trường tiểu học, những KKTL này nhìn
một cách khái quát là sự không phù hợp giữa đặc điểm tâm lý và hành vi ứng xử
của nhân cách trẻ với nội dung, đối tượng, hoàn cảnh mới mẻ của trẻ được biểu
hiện ở các dấu hiệu: nhận thức - xúc cảm và hành vi ứng xử với trẻ em khi đi
học lớp 1. KKTL không chỉ thể hiện ở một dạng hoạt động mà thể hiện ở các
dạng hoạt động khác nhau của trẻ trong nhà trường tiểu học: hoạt động học tập,
hoạt động giao tiếp, hoạt động vui chơi, hoạt động lao động và các hình thức
hoạt động xã hội tập thể khác. Trong đó hoạt động học tập là chủ yếu. [73]
Tiến hành khảo sát 45 HS lớp 1 năm học 2002 - 2003 về KKTL mà các
em gặp phải khi đi học lớp 1, tác giả Nguyễn Xuân Thức kết luận, KKTL mà HS
lớp 1 gặp phải rất đa dạng và ở tất cả các dạng hoạt động, trong đó nhiều nhất và
khó khăn nhất là ở hoạt động học tập và thấp nhất là trong hoạt động xã hội tập
thể, các KKTL này thể hiện ra bên ngoài bằng các biểu hiện đa dạng khác nhau
về sinh học cơ thể, tâm lý và xã hội.
16
Tác giả cũng cho rằng, nhận thức đúng và đủ các KKTL mà HS lớp 1 gặp
phải khi đi học sẽ là điều kiện cần thiết để giúp trẻ vượt qua được trở ngại tâm lý
trong hoạt động, đặc biệt là hoạt động học tập, nhằm nâng cao hiệu quả của sự
thích ứng với hoạt động học tập cho các em. [74].
Tác giả Đỗ Thị Hạnh Phúc (2005) khi tìm hiểu một số KKTL của thiếu niên
và nhu cầu tham vấn của các em đã cho rằng những thay đổi của điều kiện kinh tế,
văn hóa, xã hội đã làm cho thiếu niên gặp không ít khó khăn trong học tập. Sự quá
tải của nội dung và chương trình giáo dục trong nhà trường, sức ép của những kì
thi, sự kỳ vọng của gia đình về con cái hoặc ngược lại, sự thiếu quan tâm của gia
đình do một số cha mẹ còn bận kiếm sống, những mâu thuẫn trong gia đình...đã tạo
nên sức ép tâm lý khiến nhiều thiếu niên rơi vào trạng thái băn khoăn, lo lắng, ảnh
hưởng không thuận lợi đến sự phát triển của các em. [60]
các em gặp nhiều khó khăn về quan hệ giao tiếp với thầy (cô) và với các bạn
cùng trang lứa.
- Ngày đầu đi học, đại bộ phận trẻ em 6 tuổi đã sõi tiếng Việt (tiếng phổ
thông), nhưng cũng còn một bộ phận khá đông trẻ em thuộc con em các dân tộc
ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa còn chưa nói được tiếng phổ thông.
- Khá nhiều trẻ em ở thành phố, thị xã, ở những nơi có điều kiện kinh tế xã hội phát triển đã học trước chương trình lớp 1, ngày khai giảng năm học mới
các em đã biết đọc, biết viết và làm các phép tính cộng, trừ đạt trình độ như HS
cuối lớp 1.
- Một bộ phận trẻ em khi vào lớp 1 đã có kỹ năng đọc, viết, cộng, trừ đạt
mức quy định ở cuối học kỳ I lớp 1.
- Hàng năm nước ta có khoảng 1 triệu bảy trăm nghìn trẻ em vào lớp 1 thì
có khoảng vài trăm nghìn trẻ em thiệt thòi, không được bình thường lành lặn về
sinh lý (những trẻ em khuyết tật ở những mức độ, những loại hình khác nhau,
những trẻ em bị ảnh hưởng của chất độc màu da cam) ảnh hưởng đến việc học
của mỗi em.
Như vậy đủ thấy thực trạng đầu vào lớp 1 của ta hiện nay còn nhiều khó khăn
vì nó quá đa dạng về tính cá thể, vì điều kiện học tập ở các địa phương dành cho các
em còn rất khác nhau mà đầu ra lại phải đạt chuẩn mực nhất định. [33, tr 5].
Tác giả Đặng Thị Lan (2008) khi nghiên cứu về KKTL trong hoạt động học
ngoại ngữ của sinh viên những năm đầu ở trường ĐHNN – ĐHQG Hà Nội đã cho
thấy rằng, phần lớn SV những năm đầu đều gặp KKTL trong hoạt động học ngoại
ngữ. Trong các mặt biểu hiện về KKTL, SV gặp khó khăn về nhận thức và kỹ năng
học ngoại ngữ hơn là khó khăn về thái độ học tập. Sinh viên có học lực khác nhau
gặp KKTL trong hoạt động học ngoại ngữ không như nhau. Sinh viên có học lực
giỏi và học lực khá gặp KKTL ít hơn so với SV có học lực trung bình trở xuống...
[48; tr 58]
18
Tác giả Đỗ Văn Bình (2008) khi nghiên cứu về KKTL trong HĐHT của sinh
thấy, việc thực hiện phép tính không hề là KK thực sự của học sinh tiểu học
trong việc giải bài toán có lời văn. [69]
19
Cũng theo tác giả, có 2 nguyên nhân đáng chú ý là: (1) giáo viên khi dạy
thường nhấn mạnh những từ khoá làm học sinh luôn nhớ từ khoá đó gắn với một
công thức (ví dụ “nhiều hơn” là gắn với phép cộng) mà không hiểu yêu cầu bài
toán để vận dụng đúng công thức; (2) giáo viên khi dạy học sinh không chú ý
cách phát triển, mở rộng bài toán sau khi giải xong. Kết quả này được chính
nhóm giáo viên được điều tra công nhận. Trong nghiên cứu này tác giả mới chỉ
ra những nguyên nhân từ phía giáo viên giảng dạy mà chưa chỉ ra những nguyên
nhân từ phía học sinh. [69]
Tác giả Nguyễn Thi Thu Hiền (2014) cho rằng, ngoài việc phải chiến đấu
với vấn đề HT, trẻ có KK trong HT gặp rất nhiều rắc rối với những kỹ năng cần
thiết cho các mối quan hệ xã hội. Một số thay đổi có tính chất cảm xúc hay xã
hội được xem như rào cản đối với sự thành công của trẻ KK trong HT. [34]
Những kỹ năng và xúc cảm xã hội quan trọng như thế nào đối với trẻ KK
trong học tập cũng đã xem đến “những yếu tố thúc đẩy hay ngăn chặn sự thành
công của các cá nhân KK về học là gì ?” và câu trả lời kỹ năng xã hội và cảm
xúc lành mạnh là những chỉ số thành công phù hợp nhất với trẻ KK học, thậm
chí nó hơn cả những yếu tố học thuật. Nó bao gồm: sự tự nhận thức, tính chủ
động, sự kiên trì, tình cảm ổn định, thiết lập mục tiêu, kỹ năng đương đầu và khả
năng thiết lập mối quan hệ có ý nghĩa với bạn bè của đứa trẻ, sử dụng hiệu quả
hệ thống hỗ trợ sẽ tác động tích cực không chỉ ở hiện tại mà còn trong suốt cuộc
đời của trẻ. Bởi trẻ KK trong HT thường có những khó khăn về kỹ năng và xúc
cảm xã hội sau: (1) khó khăn trong việc thích nghi với các tình huống xã hội
mới; (2) không biết làm thế nào để tìm kiếm sự giúp đỡ; (3) không độc lập trong
ý kiến của bản thân, có xu hướng phụ thuộc vào phản ứng của các bạn trong lớp;
(4) mất đi sự nhạy cảm xã hội hoặc gặp rất nhiều rắc rối với những tín hiệu phi
xây dựng môi trường tiếng Việt cho học sinh ở trường Tiểu học [81].
Điểm qua các công trình nghiên cứu cho thấy, “cũng có nhiều các nghiên
cứu trong nước về khó khăn tâm lý ở những khía cạnh khác nhau, tuy nhiên khó
khăn tâm lý trong học tập với SV người dân tộc thiểu số thì ít tác giả quan tâm
nghiên cứu".
1.2. Một số vấn đề lý luận về khó khăn tâm lý trong học tập của sinh viên
người dân tộc thiểu số.
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm khó khăn tâm lý trong học tập của sinh viên
người dân tộc thiểu số
Ở phần này chúng ta sẽ tìm hiểu hai khái niệm cơ bản là KKTL và KKTL
trong HT của SV người DTTS.
1.2.1.1. Khó khăn tâm lý
Trong từ điển Anh - Việt [41; tr 278] từ “difficulty” được dùng để chỉ sự khó
khăn, sự gay go, sự khắc nghiệt đòi hỏi nhiều nỗ lực để khắc phục. Người ta hay dùng
21
từ “shock” để chỉ sự khó khăn, sự sốc, sự choáng váng trước một môi trường mới.
Theo từ điển Pháp - Việt thì từ “difficulté” chỉ sự khó khăn, sự việc gây trở ngại
[18; tr 335]. Theo Nguyễn Như Ý (2008) trong từ điển tiếng Việt thông dụng thì
khó khăn có nghĩa là có nhiều trở ngại làm mất nhiều công sức [83; tr 357]. Một
số từ điển tiếng Việt khác hiện nay cũng cho rằng, KK có nghĩa là có nhiều trở
ngại, thiếu thốn, đòi hỏi nhiều nỗ lực [30].
Như vậy, có thể hiểu "khó khăn là những trở ngại cản trở hoạt động, đòi hỏi
con người phải nỗ lực vượt qua để không đi chệch hướng mục tiêu đã đề ra".
Trong cuộc sống thường ngày, khái niệm "khó khăn" thường được sử
dụng với ý nghĩa nêu trên, vậy nội hàm của khái niệm "khó khăn" có liên quan
gì với khái niệm "khó khăn tâm lý" trong TLH? Trong tâm lý học, một số tác giả
sử dụng thuật ngữ "hàng rào tâm lý, cản trở tâm lý, ngăn cản tâm lý...” cùng để
chỉ khó khăn tâm lý. Theo Từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng (2000) chủ
với dân tộc Kinh) hiện nay. Phần lớn họ đến từ những vùng sâu, vùng xa, vùng có
điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Chính những yếu tố về mặt điều kiện địa lý, điều
kiện sinh hoạt, việc tiếp cận thông tin, tập quán sinh hoạt…nên SV DTTS cũng có
những đặc điểm tâm lý được cho là đặc thù của họ”.
1.2.1.2.1. Một số đặc điểm tâm lý chủ yếu của sinh viên dân tộc thiểu số
Khi vào các trường học nghề, hầu hết sinh viên (bao gồm cả SV DTTS) đều có
kịch bản riêng cho mình về đường đời sẽ đi. Đó là sự kỳ vọng về tương lại gần và viễn
cảnh cuộc đời. Từ đó vạch ra kế hoạch chi tiết nhằm đạt được kỳ vọng đó. Xuất phát
từ các định hướng giá trị khác nhau, mỗi sinh viên xây dựng cho mình một kịch bản
riêng. Có người nghĩ đến việc sau khi học xong đại học sẽ trở thành nhà khoa học để
thực hiện các mơ ước sáng tạo đang ấp ủ; có người dự định về một công việc trong
tương lai và tích cực chuẩn bị để đáp ứng các yêu cầu của nó; cũng có người tưởng
tượng ngay sau khi ra trường sẽ kết hôn và xây dựng gia đình hạnh phúc...Đa số SV sử
dụng kịch bản như một bản kế hoạch để tổ chức các hành động của mình trong quá
trình học tập, thậm chí thay đổi cả định hướng giá trị nghề cũng như các hoạt động
khác. Nhiều sinh viên đã cố gắng vượt qua khó khăn để thực hiện kịch bản của mình.
Tuy nhiên, không ít SV bỏ dở cuộc chơi. [37]
Trong quá trình xây dựng kịch bản đường đời, sinh viên thường xuyên đặt cho
mình các câu hỏi và tự trả lời hoặc trao đổi với bạn bè hay người thân: tương lai của
tôi sẽ như thế nào ? có nên lấy vợ (chồng) ngay sau khi ra trường không ? con đường
sự nghiệp sẽ như thế nào ?...Chính trong quá trình trao đổi như vậy, nhiều sinh viên có
cơ hội làm sáng tỏ hoặc chính xác hóa hơn bản kế hoạch của mình. [37; tr 218 – 219].
Lứa tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất về tình cảm đạo đức, trí tuệ
và thẩm mĩ, là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách. Trong giai đoạn này, sinh
viên có sự biến đổi mạnh mẽ về động cơ, về thang và định hướng giá trị xã hội có liên
23