BIỆN PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH MÔN HỌC CỦA SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC HỌC - Pdf 12

MỤC LỤC
1
2
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong những năm qua, sự nghiệp giáo dục và đào tạo đại học nước ta
đã có những chuyển biến tích cực, quá trình đổi mới dạy học đã và đang tiến
hành trong hầu hết các trường cao đẳng, đại học và đã đạt được những kết quả
quan trọng. Dạy học theo đổi mới đòi hỏi người học phải có khả năng tự học
cao, phải tự nghiên cứu, chủ động tìm tòi, sáng tạo và đặc biệt là có khả thích
ứng cao để bắt nhịp với yêu cầu đổi mới. Bên cạnh đó, phương thức học tập ở
trường đại học khác xa với phương thức học tập ở trường phổ thông. Để có
khả năng thích ứng nhanh với phương thức học tập ở trường đại học, đòi hỏi
người học phải có những thay đổi thói quen, nề nếp, cách thức học tập. Đây là
một điều khó khăn với hầu hết SV ở các trường đại học, đặc biệt với SV là
người DTTS.
Để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng giáo dục cho
các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa và con em các DTTS, việc nâng cao chất
lượng đào tạo giáo viên được xem là nhiệm vụ hàng đầu của các trường sư
phạm. Cùng với việc đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, vấn đề giúp
SV thích ứng nhanh với phương thức học tập ở đại học cũng là một nhiệm vụ
quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên của các trường sư
phạm. Thực tiễn giáo dục nhiều năm qua chỉ ra rằng, để ổn định và nâng cao
chất lượng giáo dục cho vùng sâu, vùng xa, con em các DTTS, việc đào tạo
“theo địa chỉ” giáo viên người dân tộc là một cách làm hiệu quả. Song do yếu
tố địa lí, mặt bằng văn hóa, phong tục tập quán, lối sống và ngôn ngữ khác
nhau nên phần lớn những SV người DTTS gặp rất nhiều khó khăn trong việc
thích ứng với hoạt động học tập ở trường sư phạm. Do vậy, nhiều SV người
DTTS, mặc dù rất miệt mài học tập, nghiên cứu, song kết quả học tập, rèn
luyện kĩ năng sư phạm còn rất nhiều hạn chế, nhất là SV ngành SPMN.
3

tìm ra nguyên nhân và xây dựng được biện pháp tác động phù hợp với đặc điểm
học tập của SV người DTTS sẽ góp phần nâng cao khả năng thích ứng với hoạt
động thực hành môn học này cho SV.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu giải quyết những nhiệm vụ sau:
5.1. Hệ thống hóa cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài: Vấn đề thích
ứng, thích ứng tâm lí, hoạt động học tập, thích ứng với hoạt động học tập và
hoạt động thực hành môn học của SV người DTTS.
5.2. Khảo sát thực trạng khả năng thích ứng với hoạt động thực hành
môn học PPTC HĐTH cho trẻ mầm non của SV SPMN người DTTS ở
Trường Đại học Phạm Văn Đồng Quảng Ngãi.
5.3. Đề xuất một số biện pháp tác động sư phạm nhằm nâng cao khả năng
thích ứng với hoạt động thực hành môn học PPTC HĐTH cho trẻ mầm non cho
SV SPMN người DTTS ở Trường Đại học Phạm Văn Đồng Quảng Ngãi.
5.4. Thực nghiệm sư phạm một số biện pháp nâng cao khả năng thích
ứng với hoạt động thực hành môn học PPTC HĐTH cho trẻ mầm non cho SV
SPMN người DTTS ở Trường Đại học Phạm Văn Đồng Quảng Ngãi.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu SV SPMN người DTTS thông qua
7 lớp SPMN đang theo học tại Trường Đại học Phạm Văn Đồng Quảng Ngãi.
6.2. Hoạt động học tập của SV SPMN tại Trường Đại học Phạm Văn
Đồng Quảng Ngãi gồm: học lý thuyết, học thực hành môn học tại phòng thực
hành và thực tập sư phạm tại các trường mầm non. Trong phạm vi đề tài,
5
chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu khả năng thích ứng với thực hành môn học
PPTC HĐTH cho trẻ mầm non của SV SPMN người DTTS.
7. Các phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Nhóm phương pháp này gồm các phương pháp thu thập, đọc, phân tích
và tổng hợp lí thuyết, phân loại và hệ thống hóa lí thuyết nhằm xây dựng cơ

thi của những biện pháp nhằm nâng cao khả năng thích ứng với hoạt động
thực hành môn học PPTC HĐTH cho trẻ mầm non của SV SPMN người
DTTS ở Trường Đại học Phạm Văn Đồng Quảng Ngãi do chúng tôi đề xuất .
7.3. Nhóm phương pháp xử lí số liệu
Sử dụng phần mềm SPSS (18.0) để xử lí số liệu, kết quả nghiên cứu
thực tiễn của đề tài.
8. Những đóng góp mới của đề tài
Đánh giá được thực trạng mức độ thích ứng với hoạt động thực hành
môn học PPTC HĐTH cho trẻ mầm non của SV SPMN người DTTS ở
Trường Đại học Phạm Văn Đồng Quảng Ngãi. Trên cơ sở thực nghiệm sư
phạm, đề xuất một số biện pháp tác động sư phạm phù hợp với đặc điểm tâm lí
của SV SPMN người DTTS nhằm nâng cao khả năng thích ứng với hoạt động
thực hành môn học PPTC HĐTH cho trẻ mầm non cho những SV này.
7
9. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm ba phần chính
Phần mở đầu: Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, khách thể và đối
tượng nghiên cứu, giả thuyết khoa học, nhiệm vụ nghiên cứu, phạm vi nghiên
cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài, cấu trúc luận văn.
Nội dung nghiên cứu: Gồm ba chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng biện pháp nâng cao khả năng thích ứng với hoạt
động thực hành môn học của SV người DTTS ngành SPMN
Chương 3: Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp nâng cao khả
năng thích ứng với hoạt động thực hành môn học PPTC HĐTH cho trẻ mầm
non của SV người DTTS ngành SPMN trường Đại học Phạm Văn Đồng
Quảng Ngãi
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

Các nhà tâm lí học Liên Xô (trước đây) cũng đã tiến hành nghiên cứu
thích ứng của học sinh, SV và những người mới vào nghề. Chẳng hạn:
Năm 1969, E.A. Emolaeva nghiên cứu “Đặc điểm thích ứng xã hội và
nghề nghiệp ở SV đã tốt nghiệp trường sư phạm”.
Sau đó B.Barisova và M. Brusev nghiên cứu mối quan hệ giữa thích
ứng học tập với động cơ chọn nghề của SV sư phạm. Theo họ, SV sẽ không
dễ dàng thích ứng với hoạt động học tập ở đại học nếu không có động cơ chọn
nghề đúng đắn.
D.A. Andreeva tiếp cận vấn đề thích ứng theo quan điểm nhân cách,
coi thích ứng là một vấn đề của nhân cách. Theo bà, thích ứng tâm lí khác biệt
về chất so với thích nghi sinh học. Thích ứng là một quá trình thích nghi đặc
biệt của con người với tư cách là chủ thể tích cực thâm nhập vào những điều
kiện sống mới. Khái niệm thích ứng học tập vì vậy được dùng với ý nghĩa là
quá trình tự học của SV.
B.P. Allen cho rằng, điều kiện cơ bản của sự thích ứng học tập của SV
là hình thành ở họ các nhóm kĩ năng: 1/ Sử dụng thời gian cá nhân. 2/ Các kĩ
năng của hoạt động học tập và các phẩm chất khác như tâm thế, sự lựa chọn
các hình thức, nội dung học tập, các thói quen học tập và nghề nghiệp.
Matthew J. Cook đã tiến hành nghiên cứu phong cách học của SV năm
thứ nhất và kết quả học kì I để đánh giá ảnh hưởng của phong cách học tập tới
việc thích ứng với học tập tốt hơn của SV. SV có phong cách học trầm ngâm
gặp khó khăn hơn SV ưa hoạt động, tích cực trong học tập và có thể căn cứ
vào phong cách học tập để dự báo việc thích ứng với hoạt động học tập tại
trường đại học của SV.
10
1.1.2. Tình hình nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động học tập của SV ở
Việt Nam
Ở Việt Nam cho đến nay, thích ứng với hoạt động học tập của học sinh,
SV luôn là vấn đề được quan tâm nghiên cứu.
- Năm 1994 - 1995, Vũ Thị Nho nghiên cứu ảnh hưởng của giáo dục

Thích ứng xuất phát từ tiếng La tinh là Adapto, trong tiếng Anh thích
nghi, thích ứng là: Adaptation.
Theo Từ điển tiếng Việt, “thích nghi” là có những biến đổi nhất định cho
phù hợp với hoàn cảnh, môi trường mới. Thích ứng là có những thay đổi cho phù
hợp với điều kiện mới, yêu cầu mới. Như vậy hai khái niệm này có sự tương đồng.
Theo Nguyễn Khắc Viện: Thích nghi, thích ứng là hiện tượng một sinh
vật sống trong một môi trường có nhiều biến động, đã điều chỉnh bằng cách
thay đổi phản ứng của bản thân hoặc tìm cách thay đổi môi trường. Bước đầu
là điều chỉnh những phản ứng sinh lí (như thích nghi với nhiệt độ cao hay
thấp, môi trường khô hay ẩm) sau là cách thay đổi ứng xử, đây là thích nghi
tâm lí. Thích nghi xã hội: Một cá nhân tiếp nhận được các giá trị của một xã
hội, hòa nhập được vào xã hội ấy [54].
Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: 1. Trong sinh học: thích nghi
là việc xuất hiện những tình trạng và đặc tính mà trong các điều kiện môi
trường hiện có là có lợi cho cá nhân hoặc quần thể. 2. Thích nghi bao gồm các
mức độ tâm lí và xã hội. Thích nghi xã hội là kết quả tác động qua lại giữa cá
thể hay tập đoàn xã hội với môi trường xã hội trong đó những đòi hỏi và sự
mong đợi của những thành viên tương hợp với nhau. Nhân tố quan trọng nhất
của sự thích nghi là sự tương hợp giữa sự tự đánh giá và kì vọng của chủ thể
với khả năng của chủ thể và thực tế môi trường xã hội, kể cả chiều hướng phát
12
triển của môi trường và chủ thể. Sự thích nghi tâm lí được quy định bởi tính
tích cực của cá nhân và biểu hiện như là sự thống nhất giữa sự thích ứng (nắm
bắt các quy tắc của môi trường) và sự đồng hóa (cải tạo môi trường ). Ở trình
độ xã hội, bản tính hoạt động tích cực của các chủ thể xã hội quy định sự thích
nghi. Về mặt môi trường xã hội, thích nghi là do mục đích hoạt động quy định.
Điều kiện quan trọng của sự thích nghi là sự phối hợp tối ưu hoạt động thích
nghi, sự phối hợp đó biến đổi tùy thuộc vào những tình huống cụ thể.
Thích nghi di truyền: sự thích nghi được hình thành trong quá trình
phát triển cá thể của các loài sinh vật mà không phụ thuộc vào hiện trạng của

Tâm lí học chức năng:
Đại diện cho trường phái tâm lí học chức năng là Herbert Spencer
(1820 - 1903) và W. Jemes (1842 - 1910). Theo H. Spencer con người sống
và hoạt động luôn luôn chịu sự chi phối của môi trường, họ phải thích nghi
với nó để tồn tại và phát triển. Việc làm rõ vấn đề thích ứng phải dựa vào mối
quan hệ giữa con người và môi trường sống. Từ đó, H. Spencer khẳng định
rằng, mối quan hệ giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài của con người mới
thực sự là đối tượng nghiên cứu của tâm lí học. Theo ông, bản chất sự thích
ứng của con người là thích nghi sinh học; tâm lí, ý thức chỉ là công cụ thích
ứng giữa cơ thể với môi trường sống. Quan niệm về sự thích ứng của H.
Spencer chưa đem lại những đóng góp tích cực cho thực tiễn đời sống con
người và những đòi hỏi của tâm lí học khách quan.
William Janes cho rằng: Tâm lí là sự mô tả và giải thích về các trạng thái
ý thức của con người. Ý thức có tính cá nhân, phản ánh kinh nghiệm của một cá
nhân, vì vậy không nên đi tìm các yếu tố chung cho mọi trí thông minh. Trong
quan niệm của ông, các yếu tố tinh thần được thích nghi trước với môi trường
14
sống. Mục đích của ý thức là giúp cá nhân thích nghi với môi trường sống, mục
đích của sự thích nghi là đảm bảo cho sự an toàn và thịnh vượng.
Như vậy, cả H. Spencer và W. Jemes đều cho rằng, ý thức có chức
năng thích ứng và là công cụ để con người thích ứng. Đây là những đóng góp
quan trọng cho việc nghiên cứu vấn đề thích ứng.
Tâm lí học hành vi:
V Watson (1878 - 1958) là nhà tâm lí học người Mỹ, coi mục tiêu của
tâm lí học là tiên đoán và kiểm soát hành vi. Ông là người sáng lập ra thuyết
hành vi với đối tượng nghiên cứu là hành vi cơ thể. Ông chia hành vi làm bốn
loại: Hành vi tập thành minh (bên ngoài) như nói, viết, chơi bóng; hành vi tập
thành mặc nhiên (bên trong) như sự tăng nhịp đập tim gây nên khi nhìn thấy
máy khoan của nha sĩ; hành vi tự động minh nhiên như nháy mắt, hắt hơi;
hành vi tự động mặc nhiên như sự tiết dịch và các biến đổi về tuần hoàn. Theo

(Superego). Cái ấy là cái đã có từ khi con người sinh ra và được quy định về
mặt cấu tạo giải phẫu sinh lí cơ thể. Cái Tôi được nảy sinh sau cái Ấy, do áp
lực thực tế, làm trung gian giữa cái Ấy và bên ngoài. Cái Siêu tôi là đạo đức
trong nhân cách con người, được hình thành từ cái Tôi. Mỗi thành phần có vai
trò và chức năng khác nhau đối với đời sống con người. Trong đó, cái Ấy
(chủ yếu là bản năng vô thức – bản năng tình dục) giữ vai trò quan trọng nhất,
là nguồn năng lực thúc đẩy con người sống và hoạt động. Tuy nhiên bản năng
này luôn luôn bị cấm đoán, bị kiểm duyệt bởi cái xã hội (cái Siêu tôi). Để tồn
tại, con người phải đạt được sự cân bằng, sự hài hòa giữa cái Ấy và cái Siêu
tôi – đó là sự thích ứng.
S. Freud đã có những đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu về
vấn đề thích ứng, nhưng ông đã nghiên cứu thích ứng trên con người thực với
16
nhu cầu thực để xác định được vai trò của yếu tố bản năng trong con người,
xác định được nguyên nhân của chứng nhiễu tâm là do con người không điều
hòa được giữa “ Cái Ấy” và “ Cái Siêu tôi” (tức là do không thích ứng được).
Tuy nhiên, vì xuất phát từ quan điểm sinh vật luận nên ông đã quá đề cao vai
trò của yếu tố bản năng (đặc biệt là bản năng tình dục), vì thế ông coi thích
ứng tâm lí ở con người như là sự thích nghi sinh học, phủ nhận vai trò của ý
thức, không thấy được bản chất xã hội của thích ứng tâm lí người.
Tâm lí học nhận thức:
Đại diện trường phái này là J. Piaget (1896 - 1980). Ông nghiên cứu
nhận thức của con người trong mối quan hệ với môi trường sống. Ông tin
rằng hầu như mọi kinh nghiệm của một con người đều bao gồm cả sự tiếp thu
lẫn thích nghi. Thích nghi là một sự cân bằng giữa hai cơ chế không thể tách
biệt được, đó là sự đồng hóa – asimilation và sự điều ứng – accomodation.
Đồng hóa là quá trình sử dụng hoặc thay đổi môi trường để nó có thể được đặt
vào các cấu trúc sẵn có. Điều ứng là quá trình thay đổi các cấu trúc nhận thức
để chấp nhận một yếu tố nào đó của môi trường. Theo ông sự phát triển tâm lí
là quá trình cải tổ, chuyển hóa các cấu trúc của các quá trình nhận thức vốn có

quan hệ cơ thể - môi trường phải mang nội dung mới. Ông cho rằng, thích
ứng theo nguyên tắc tín hiệu có chung ở người và động vật nhưng không phải
là phương thức thích ứng chủ đạo ở người. Phương thức thích ứng chủ đạo ở
người là thích ứng theo nguyên tắc dấu hiệu và nguyên tắc này không có ở
động vật. Quá trình tín hiệu hóa phản ánh mối quan hệ tự nhiên đảm bảo cho
cơ thể đáp ứng được các kích thích của môi trường. Còn việc dấu hiệu hóa
cho phép con người có khả năng tạo ra một loại cân bằng với môi trường có
18
thể làm biến đổi chính môi trường và biến đổi chính hành vi của bản thân
mình với tư cách là một chủ thể tích cực. Dấu hiệu cũng như công cụ vật chất
là khí quan xã hội, được hình thành trong lịch sử loài người. Đó là hành vi
đặc thù người được quy định bởi xã hội. Hành vi đó chính là hoạt động thực
tiễn của con người. Bằng việc phát hiện ra cơ chế hình thành và điều khiển
hành vi ở cá nhân, ông đã chỉ rõ sự khác biệt cơ bản giữa thích ứng tâm lí ở
người với sự thích nghi sinh học ở động vật. Đó là sự thích ứng có ý thức, chủ
động, tích cực của con người nhằm biến đổi, cải tạo môi trường sống, cải tạo
bản thân mình, sự thích ứng của con người khác xa về chất so với sự thích
nghi của động vật.
A.N. Leonchiev - Người đã kế thừa và phát triển quan điểm của
Vưgôtxki. Dựa trên những phương pháp luận mà Vưgôtxki nghiên cứu và đề
xướng, A.N. Leonchiev đã phân biệt rất rõ khái niệm thích nghi dùng cho
hành vi của động vật và khái niệm thích nghi của con người. Ông đứng trên
lập trường triết học mácxít để nghiên cứu đời sống tâm lí con người, đặc biệt
coi trọng yếu tố xã hội trong phản ánh tâm lí người.
A.N. Leonchiev đã vạch ra sự khác biệt về cơ chế của sự hình thành
hành vi của động vật và của người. Con người không chỉ đơn thuần thích nghi
với thiên nhiên mà còn tạo ra phương tiện để tồn tại. Vì vậy, khác với động
vật, con người dùng hoạt động của mình làm trung gian, điều khiển và kiểm
soát quá trình ấy. Sống trong xã hội, con người có những mối quan hệ với
những người khác và với thực tại đồ vật của loài người. Do đó sự thích ứng

tích luỹ được trong suốt chiều dài lịch sử.
20
Quá trình học tập, lĩnh hội kinh nghiệm xã hội, tri thức của nhân loại,
cá nhân có thể tiến hành bằng nhiều cách học khác nhau. Thông thường học
có hai dạng: học ngẫu nhiên và học có mục đích.
Học ngẫu nhiên: Đó là kiểu học được thực hiện một cách không chủ
định, nghĩa là người học lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm, hình thành kĩ năng, kĩ
xảo thông qua việc thực hiện các hoạt động khác nhau trong đời sống hằng
ngày. Kết quả của hoạt động này là những tri thức thu được rời rạc, không hệ
thống, chỉ là những tri thức ngẫu nhiên, tiền khoa học, mục đích của việc học
sẽ không trùng với mục đích của hoạt động.
Thực tiễn chỉ ra rằng, để tồn tại và phát triển, con người không thể chỉ
dừng lại ở việc tiếp thu, lĩnh hội những tri thức kinh nghiệm mà đòi hỏi phải
có những tri thức khoa học, phải hình thành những năng lực thực tiễn. Song
cách học ngẫu nhiên dựa trên cơ sở hoạt động sống hằng ngày không thể đáp
ứng được. Do vậy con người phải tiến hành hoạt động học tập dưới hình thức
khác có hiệu quả hơn - đó là học có mục đích.
Học có mục đích: Đó là một dạng hoạt động đặc thù của con người.
Người học chỉ có thể thực hiện được khi họ đã đạt được ở một trình độ nhất
định như có khả năng điều chỉnh được những hành động của mình bằng mục
đích đã được ý thức, khả năng này chỉ bắt đầu được hình thành vào lúc trẻ
khoảng 5 - 6 tuổi. Cách học này giúp chủ thể lĩnh hội tri thức một cách có hệ
thống, đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Hoạt động học diễn ra theo
kế hoạch, chương trình đã được vạch ra từ trước phù hợp với đặc điểm tâm
sinh lí lứa tuổi.
Như vậy chỉ có thực hiện hoạt động học theo đúng nghĩa là hoạt động
có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của con người thì mới có thể hình thành
ở người học những tri thức khoa học, hình thành hành vi tích cực, hình thành
cấu trúc tương ứng của hoạt động tâm lí và sự phát triển toàn diện nhân cách.
21

năng, kĩ xảo, những hình thức hành vi, những dạng hoạt động nhất định,
những giá trị” [54, tr.106]).
Nhìn chung, các tác giả chưa thực sự có sự thống nhất trong quan niệm
về hoạt động học tập, nhưng có cùng quan điểm cho rằng: hoạt động học tập
là hoạt động có mục đích tự giác, có ý thức và trong đó diễn ra các quá trình
nhận thức, đặc biệt là quá trình tư duy.
Từ những quan điểm chung đó ta có thể hiểu khái quát như sau: Hoạt
động học tập là hoạt động có mục đích của chủ thể nhằm tiếp tu, lĩnh hội
những tri thức, kinh nghiệm của xã hội loài người được đúc kết trong nền văn
hóa xã hội, qua đó giúp chủ thể phát triển và hoàn thiện nhân cách.
1.3.1.2. Bản chất của hoạt động học tập
Như chúng ta đã biết, hoạt động học tập là hoạt động đặc biệt của con
người, hoạt động học không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kĩ
năng, kĩ xảo mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản
thân hoạt động học. Hoạt động học muốn đạt kết quả cao, người học phải ý
thức được việc học và có khả năng điều chỉnh hành động của mình theo mục
đích ấy. Để đạt được như vậy, trẻ em phải phát triển đến một trình độ nhất
định (vào lúc 5 -6 tuổi). Thông qua hoạt động này sẽ hình thành ở cá nhân
những tri thức khoa học, cấu trúc tương ứng của hoạt động tâm lí. Như vậy,
cùng với khái niệm về hoạt động học tập và những phân tích trên đây, ta thấy
bản chất của hoạt động học tập được thể hiện ở mấy điểm cơ bản sau:
- Đối tượng của hoạt động học tập là những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
tương ứng với nó.
- Hoạt động học tập là hoạt động hướng chủ yếu vào làm thay đổi và
phát triển tâm lí của chủ thể học tập.
23
- Hoạt động học tập là hoạt động được điều khiển bởi mục đích có ý
thức nhằm tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo.
- Hoạt động học tập không chỉ hướng vào tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ
xảo mới (cái) mà còn tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động

việc lựa chọn nghề nghiệp sau khi đã kết thúc học tập ở trường phổ thông. Do
tuổi SV nằm trong giai đoạn thứ hai của tuổi thanh niên, nên ở họ luôn bộc lộ
sự nhiệt tình, sôi nổi khát khao lí tưởng, hăng hái hoạt động muốn khẳng định
mình và có sự chín muồi nhất định của tuổi trưởng thành, cùng với một loạt
các phẩm chất đặc trưng của SV được hình thành trong quá trình học tập, tu
dưỡng ở trường đại học và cao đẳng.
Tuổi SV là thời gian nở rộ nhất của sự phát triển nói chung và tâm lí nhân
cách nói riêng. Đây là lứa tuổi thuận lợi nhất cho sự hình thành và phát triển các
chức năng tâm lí quan trọng ở con người, đặc biệt là sự phát triển năng lực trí tuệ.
Đặc điểm quan trọng nhất của lứa tuổi SV là sự phát triển của tự ý thức,
hơn nữa đây là giai đoạn tự ý thức phát triển rất cao. Họ đã ý thức và biết đánh
giá về kết quả hoạt động của chính mình, biết đánh giá về tư tưởng, đạo đức và
động cơ của hành vi. Đây chính là sự đánh giá toàn diện về bản thân mình, về
vị trí của mình trong cuộc sống, trong xã hội của SV. Sự tự đánh giá này có ý
nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện và phát triển nhân cách của SV.
Thành phần quan trọng bậc nhất tạo nên sự phát triển tự ý thức của SV
là năng lực tự đánh giá, thể hiện thái độ đối với bản thân, biểu hiện các phẩm
chất và năng lực trong hoạt động, giao tiếp và tự giáo dục. Tự đánh giá là kết
quả đánh giá từ bên ngoài, hình thành nên lòng tự trọng của cá nhân, đảm bảo
cho tính tích cực của nhân cách được thể hiện trong đời sống, trong mối quan
hệ liên nhân cách. Tự đánh giá là thành phần không thể thiếu được, nó phản
ánh năng lực hiểu biết, kĩ năng điều khiển và điều chỉnh chính mình. Tuy
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status