LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Luận văn
có trích dẫn, tham khảo nội dung của một số tài liệu tham khảo và kết quả
nghiên cứu là trung thực.
Hà Nội ngày 25/8/2014
Vũ Thị Hoa Sen
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
-
CCHC: Cải cách Hành chính
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
CQĐP: Chính quyền địa phương
DTTS: Dân tộc thiểu số
HCNN: Hành chính Nhà nước
HĐND: Hội đồng nhân dân
ISO: Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn chất lượng
ISO 9000: Bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng
KCN: Khu công nghiệp
KH&ĐT: Kế hoạch và đầu tư
KT – XH: Kinh tế - xã hội
NĐ - CP: Nghị định Chính chủ
NN XHCN: Nhà nước xã hội chủ nghĩa
NQ – CP: Nghị quyết Chính phủ
NQ-UBTVQH: Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
Nxb: Nhà xuất bản
QĐ – TTg: Quyết định Thủ tướng Chính phủ
QĐ: Quyết định
QH: Quốc hội
1.3.1. Khái niệm chất lượng ban hành quy chế.....................................................................................25
1.3.2. Quan điểm đánh giá chất lượng Quy chế của UBND cấp tỉnh.....................................................29
1.3.3. Tiêu chí đánh giá chất lượng ban hành quy chế của UBND cấp tỉnh...........................................31
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1............................................................................................................................... 34
CHƯƠNG 2............................................................................................................................................. 35
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG BAN HÀNH QUY CHẾ....................................................................................35
CỦA UBND TỈNH LÀO CAI........................................................................................................................ 35
2.1. MỘT SỐ NÉT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI CỦA TỈNH LÀO CAI VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA UBND
35
2.1.1. Một số nét về điều kiện tự nhiên - xã hội của tỉnh Lào Cai..........................................................35
2.1.2. Hoạt động quản lý nhà nước của UBND tỉnh Lào Cai..................................................................42
2.2. THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG BAN HÀNH QUY CHẾ CỦA UBND TỈNH LÀO CAI
45
2.2.1. Các quy chế đã được UBND tỉnh Lào Cai ban hành giai đoạn 2009-2013...................................45
2.2.2. Thực trạng thực hiện quy trình ban hành quy chế của UBND tỉnh Lào Cai.................................48
2.2.3. Thực trạng về chất lượng nội dung và hình thức của quy chế....................................................54
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BAN HÀNH QUY CHẾ CỦA UBND TỈNH LÀO CAI
56
2.3.1. Ưu điểm........................................................................................................................................56
2.3.2. Hạn chế........................................................................................................................................58
2.3.3. Nguyên nhân................................................................................................................................59
TỈNH
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2............................................................................................................................... 63
TRONG QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ, CHÚNG TÔI ĐÃ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUY
TRÌNH BAN HÀNH QUY CHẾ CỦA UBND TỈNH LÀO CAI CẢ VỀ CHẤT LƯỢNG NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CỦA
QUY CHẾ. TRÊN CƠ SỞ ĐÓ CHỈ RA NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ, ĐỒNG THỜI CHỈ RA NGUYÊN NHÂN
KHÁCH QUAN VÀ CHỦ QUAN CỦA THỰC TRẠNG BAN HÀNH QUY CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA CỦA UBND TỈNH
LÀO CAI.................................................................................................................................................. 63
CHƯƠNG 3............................................................................................................................................. 64
tỉnh ngày càng phải trực tiếp điều tiết hàng loạt vấn đề liên quan đến quản lý nhà
nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng và an ninh,
thông qua việc ban hành quy chế hoạt động để điều chỉnh mối quan hệ phối hợp
công tác với các ngành, các cơ quan, đơn vị. Có thể nói, hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước của UBND tỉnh phụ thuộc một phần quan trọng vào chất lượng và
hiệu quả của việc ban hành quy chế, vì quy chế có vai trò là phương tiện quan
trọng trong công tác lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà
nước, là cơ sở pháp lý để xác định được đầy đủ, toàn diện về tổ chức, hoạt
động, về lề lối làm việc, thủ tục, trình tự và các mối quan hệ công tác của cơ
quan, tổ chức. Do đó, việc quan tâm đúng mức đến vấn đề nâng cao chất
lượng ban hành quy chế sẽ góp phần tích cực vào việc tăng cường hiệu lực,
hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước của UBND tỉnh.
Xuất phát từ thực tiễn trong chỉ đạo, điều hành, UBND tỉnh Lào Cai đã
ban hành các loại quy chế khác nhau. Các quy chế này quy định về nguyên
tắc, chế độ trách nhiệm, lề lối làm việc, trình tự giải quyết công việc và quan
hệ công tác của UBND tỉnh Lào Cai; điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc
phạm vi, thẩm quyền quản lý của UBND tỉnh.
Yêu cầu nâng cao chất lượng ban hành quy chế của UBND tỉnh Lào
Cai đã trở thành đòi hỏi khách quan trước những yêu cầu: “Tiếp tục đẩy mạnh
việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm
1
Nhà nước ta thực sự là của dân, do dân, vì dân, do Đảng lãnh đạo; thực hiện
tốt quản lý kinh tế, quản lý xã hội... Nâng cao năng lực quản lý và điều hành
của Nhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ
luật, kỷ cương [5, 256 - 247] . Việc ban hành quy chế của UBND tỉnh Lào Cai
ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh.
Tuy nhiên, chất lượng xây dựng quy chế vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót và
hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước trong bối
Quy trình ban hành VBQPPL ở các cấp chính quyền nói chung, ở
UBND cấp tỉnh nói riêng thời gian gần đây cũng thu hút sự quan tâm của một
số luận văn cao học chuyên ngành Quản lý hành chính công: Bùi Mình Hoàng
(2010), Đánh giá chất lượng ban hành văn bản quản lý nhà nước của UBND
các huyện miền núi ở tỉnh Lào Cai; Đặng Thanh Tuyền (2000), Hoàn thiện
việc ban hành VQPPL của HĐND và UBND TP. Hồ Chí Minh; Đỗ Đức Hồng
Quang, (2007), Nâng cao chất lượng ban hành văn bản quản lý nhà nước của
UBND pường trên địa bàn thành phố Hà Nội; Hà Quang Thanh (2008), Luận
án tiến sĩ, Hoàn thiện quy trình ban hành và thực hiện văn bản quy phạm
pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh; Hồ Văn Năm (2001), Ban
hành VBQPPL của các cơ quan quản lý nhà nước tại tỉnh Đồng Nai; Khúc
Năng Hoàn, (2009), Nâng cao chất lượng soạn thảo và ban hành văn bản
của UBND cấp huyện thuộc tỉnh Sơn La; Nguyễn Lương Bằng, (2003), Hoàn
thiện quy trình xử lý văn bản của UBND quận/huyện (Từ thực tiễn thành phố
Hồ Chí Minh);Nguyễn Thị Chiên, (2013), Nâng cao chất lượng đội ngũ công
chức xã là người dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai; Nguyễn Thị Phương Anh
(2010), Đánh giá chất lượng văn bản Quy phạm pháp luật của UBND huyện
(Qua thực tiễn huyện Đông Anh); Vũ Đình Lãm, (2012), Nâng cao chất
lượng ban hành văn bản quản lý nhà nước của UBND cấp huyện thành phố
Hà Nội;... [20].
3
- Các công trình nghiên cứu về xây dựng, ban hành và thực hiện quy
chế: Lê Văn In, (2003), Phương pháp xây dựng quy chế và điều lệ của một tổ
chức trong : Mẫu soạn thảo văn bản dùng cho các cơ quan - chính quyền địa
phương, đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức kinh tế, NXB Chính trị Quốc
gia; Nguyễn Minh Phương, (2007), Một số vấn đề về biên soạn và ban hành
quy chế, quy định làm việc ở các cơ quan hiện nay, trong: Kỷ yếu hội thảo
- Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng ban hành quy chế của Ủy ban nhân
dân tỉnh Lào Cai.
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2009 đến 2013.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn khảo sát việc xây dựng và ban hành
quy chế tại UBND tỉnh Lào Cai và một số sở thuộc UBND tỉnh với tư cách là
các cơ quan tham mưu và trình UBND tỉnh ban hành quy chế.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận chung là chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, có sử dụng các phương pháp
phân tích - tổng hợp, phương pháp thống kê - so sánh, phương pháp hệ thống, phương
pháp kết hợp lôgíc và lịch sử.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận về chất lượng ban hành quy chế;
- Phân tích thực trạng và đánh giá chất lượng rút ra những ưu điểm,
nhược điểm trong ban hành quy chế của UBND tỉnh Lào Cai;
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng ban hành quy chế
của UBND tỉnh Lào Cai.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về ban hành quy chế của UBND cấp tỉnh
Chương II: Thực trạng chất lượng ban hành quy chế của UBND tỉnh
Lào Cai
Chương III. Giải pháp nâng cao chất lượng ban hành quy chế của UBND
tỉnh Lào Cai.
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BAN HÀNH QUY CHẾ
địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù
hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc
biệt do luật định.
Chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và
pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương do luật định;
chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên. Nhiệm vụ, quyền hạn
của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền
giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính
quyền địa phương. Trong trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương được
giao thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điều
kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó.
Về tổ chức bộ máy, ở mỗi cấp CQĐP đều tổ chức thành HĐND và
UBND: "Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại
diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân địa phương, do
Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và
cơ quan nhà nước cấp trên" [22, 29]; “Uỷ ban nhân dân ở cấp chính quyền địa
phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng
nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước
Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên” [22, 29].
Địa vị pháp lý của UBND cấp tỉnh được xác định là “cơ quan chấp
hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương,
chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở
địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan
nhà nước cấp trên.
7
UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các
văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng
nhân dân cùng cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp
nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 03/12/2004; Căn cứ Quyết định số
53/2006/QĐ-TTg ngày 08/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy
chế làm việc mẫu của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Căn cứ
Quyết định số 62/2011/QĐ-UBND Lào Cai về việc hành Quy chế làm việc
của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai nhiệm kỳ 2011 - 2016, UBND có chức
năng, niệm vụ, quyền hạn:
Về chức năng:
Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của
Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách
nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên; chịu
trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp
trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp nhằm bảo đảm thực hiện
chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh
và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn. Đồng thời, Uỷ ban nhân dân
thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ
đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới
cơ sở. Ngoài ra, UBND còn chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng
cấp và cơ quan nhà nước cấp trên; chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của
cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp
nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội,
củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn;
thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự
chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung
ương tới cơ sở.
9
Về nhiệm vụ, quyền hạn:
Trong lĩnh vực kinh tế: Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế
- xã hội trong phạm vi quản lý của tỉnh trình Hội đồng nhân dân thông qua để
trên địa bàn tỉnh theo thẩm quyền; tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra việc
thực hiện các chương trình, dự án phát triển công nghiệp, xây dựng và phát
triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế theo quy hoạch đã được
phê duyệt; tổ chức thực hiện việc bảo vệ tài nguyên khoáng sản chưa khai
thác ở địa phương; tổ chức và kiểm tra việc khai thác tận thu ở địa phương.
Trong lĩnh vực giao thông vận tải: Chỉ đạo, kiểm tra việc xây dựng và
thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới giao thông của tỉnh phù
hợp với tổng sơ đồ phát triển và quy hoạch chương trình giao thông vận tải
của trung ương; tổ chức quản lý công trình giao thông đô thị, đường bộ và
đường thuỷ nội địa ở địa phương, thực hiện việc kiểm tra, giám định kỹ thuật
an toàn các loại phương tiện cơ giới đường bộ, đường thuỷ nội địa; kiểm tra,
cấp giấy phép lưu hành xe, các phương tiện giao thông đường thuỷ nội địa và
giấy phép lái xe, đảm an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh theo quy định theo
quy định của pháp luật.
Trong lĩnh vực xây dựng, quản lý và phát triển đô thị: Tổ chức việc lập,
trình duyệt hoặc xét duyệt theo thẩm quyền các quy hoạch xây dựng vùng,
xây dựng đô thị trên địa bàn tỉnh, thực hiện các chính sách về nhà ở, đất ở;
quản lý quỹ nhà thuộc sở hữu nhà nước do Chính phủ giao; quản lý kiến trúc,
xây dựng, đất xây dựng theo quy hoạch đã được duyệt theo thẩm quyền.
Trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ và du lịch: Lập quy hoạch, kế
hoạch phát triển mạng lưới thương mại, dịch vụ, du lịch; hướng dẫn, sắp xếp
mạng lưới thương mại, dịch vụ, du lịch trên địa bàn; tham gia hợp tác quốc tế
về thương mại, dịch vụ, du lịch theo quy định của pháp luật; Cấp, thu hồi giấy
phép kinh doanh du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, khách sạn, lữ hành nội địa
của tỉnh theo quy định của pháp luật;
11
Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo: Quản lý nhà nước đối với các loại
hình trường, lớp được giao trên địa bàn tỉnh; cho phép thành lập các trường
thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn đo
lường và chất lượng sản phẩm; an toàn và kiểm soát bức xạ; sở hữu công
nghiệp; việc chấp hành chính sách, pháp luật về khoa học, công nghệ, bảo vệ
lợi ích của người tiêu dùng.
Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội: Bảo
đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng lực lượng Công an
nhân dân; chỉ đạo công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, chống
tham nhũng, chống buôn lậu và gian lận thương mại; bảo vệ bí mật nhà nước,
xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội; quản
lý và kiểm tra việc vận chuyển, sử dụng vũ khí, chất nổ, chất dễ cháy, chất
độc, chất phóng xạ; quản lý các nghề kinh doanh đặc biệt theo quy định của
pháp luật; thực hiện các biện pháp xây dựng lực lượng vũ trang và quốc
phòng toàn dân; chỉ đạo công tác giáo dục quốc phòng toàn dân trong nhân
dân và trường học ở địa phương, xây dựng lực lượng dự bị động viên và huy
động lực lượng khi cần thiết, đáp ứng yêu cầu của địa phương và cả nước;
thực hiện việc kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc
phòng, an ninh; tổ chức quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân
sự trên địa bàn tỉnh.
Trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo: Tổ
chức, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện pháp luật và chính sách dân tộc; tổ
chức, chỉ đạo thực hiện biện pháp bảo đảm các điều kiện cải thiện đời sống
vật chất và tinh thần, nâng cao dân trí của đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng
sâu, vùng xa và vùng có khó khăn đặc biệt; bảo đảm thực hiện quyền bình
đẳng giữa các dân tộc, giữ gìn, tăng cường đoàn kết và tương trợ, giúp đỡ lẫn
nhau giữa các dân tộc ở địa phương; xử lý hành vi xâm phạm tự do tín
ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và
chính sách của Nhà nước theo quy định của pháp luật.
13
thức bỏ phiếu. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thường đồng thời là một Phó Bí
thư Tỉnh ủy. Chủ tịch Ủy ban nhân dân của hai thành phố trực thuộc trung
ương lớn nhất là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh sẽ đồng thời là Ủy viên
Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Bộ máy giúp việc của
chính quyền địa phương cấp tỉnh gồm Văn phòng UBND và các sở, ban,
ngành, các khối (Thực chất việc phân chia thành các khối xuất phát từ thực
tiễn kinh nghiệm quản lý, điều hành của lãnh đạo UBND tỉnh; phân công lãnh
đạo tỉnh phụ trách các mảng công việc):
- Khối tổng hợp: Văn phòng UBND, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nội vụ
(trước kia là Ban Tổ chức chính quyền).
- Khối nội chính: Sở Tư pháp, Thanh tra. Ngoài ra, các cơ quan sau đây
chịu sự chỉ đạo theo ngành dọc, mà không trực thuộc UBND: Công an tỉnh,
Tòa án Nhân dân, Viện Kiểm sát Nhân dân, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh.
- Khối lưu thông phân phối: Sở Công Thương, Sở Tài chính (trong đó
có Kho bạc Nhà nước). Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành chịu sự chỉ
đạo theo ngành dọc, mà không trực thuộc UBND.
- Khối nông lâm nghiệp: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở
Tài nguyên và môi trường
- Khối công nghiệp: Sở Xây dựng, Sở Giao thông vận tải, Sở Thông tin
và Truyền thông, Sở Khoa học và công nghệ (trong đó có Chi cục Tiêu chuẩn,
đo lường, chất lượng).
- Khối văn hóa xã hội: Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Văn hóa - Thể thao
& Du lịch, Sở Y tế, Sở Lao động, Thương binh & Xã hội
Số lượng Sở, ban thuộc UBND cấp tỉnh là 19, trong đó cơ cấu cứng là
18 Sở, ban, bao gồm các Sở: Nội vụ, Tư pháp, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính,
Công thương, Giao thông vận tải, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Xây
dựng (Quy hoạch và Kiến trúc), Tài nguyên và Môi trường, Thông tin và
15
Quy chế là hình thức văn bản được dùng để đặt ra các quy phạm pháp
luật phụ (pháp quy phụ) quy định về quyền và nghĩa vụ pháp lý cho từng đối
tượng trong một lĩnh vực nhất định như trong quản lý, trong tuyển sinh đối
với học sinh...; quy định cụ về thể lệ làm việc, quan hệ công tác của các cơ
quan trong bộ máy nhà nước. Quy chế là toàn bộ những quy định về nghĩa vụ
và quyền hạn của toàn thể thành viên trong một cơ quan, tổ chức trong hoạt
động thực thi nhiệm vụ. Tô Tử Hạ, trong cuốn Từ điển Hành chính do NXB
Lao động xã hội xuất bản năm 2003 cho rằng: Quy chế hoạt động cần quy
định cụ thể chế độ phân công, phân cấp trách nhiệm, quy trình làm việc và các
mối quan hệ công tác để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được quy định trong
điều lệ về tổ chức và hoạt động của cơ quan, tổ chức. Quy chế có thể được thể
hiện bằng những văn bản có tên loại khác nhau như quy chế, quy định...
Quy chế là văn bản được ban hành kèm theo quyết định để quy định
đầy đủ và toàn diện về tổ chức và hoạt động, về lề lối làm việc, thủ tục, trình
tự và các mối quan hệ công tác của cơ quan, tổ chức nói chung hay của một
hoạt động nào đó. "Quy chế là một văn bản hay toàn thể các văn bản xác định
những đảm bảo cơ bản đối với một tập thể, một ngạch"[25, 149]; "Quy chế
(danh từ) chỉ những quy định đã thành chế độ để mọi người tuân theo; Hay "
Quy chế tổng thể nói chung những điều quy định thành chế độ để mọi người
thực hiện trong những hoạt động nhất định nào đó" [27, 1289]. Thuật ngữ Hành
chính: "Quy chế là thuật ngữ được sử dụng để chỉ một hay những văn bản về
quy tắc xử sự do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc tuy không
ban hành nhưng dược thừa nhận hợp pháp của quy chế đó. Quy chế có hiệu
lực bắt buộc mọi người liên quan trong một cộng đồng (Một cơ quan, một tổ
chức, tại một địa điểm, một vùng) phải tuân theo" [8, 272] .
Tóm lại, từ những phân tích trên đây, chúng tôi hiểu: Quy chế là văn
bản được ban hành kèm theo quyết định để quy định đầy đủ và toàn diện về tổ
chức và hoạt động, về lề lối làm việc, thủ tục, trình tự và các mối quan hệ
công tác của cơ quan, tổ chức nói chung hay của một hoạt động nào đó.
17
Ví dụ: quy chế tổ chức và hoạt động của Khoa Quản trị kinh doanh, quy chế
tổ chức và hoạt động của Phòng Hành chính - Tổ chức, quy chế làm việc của
uỷ ban nhân dân...
Quy chế cũng được ban hành để quy định về thủ tục, trình tự tiến hành
một hoạt động, trách nhiệm, thẩm quyền thực hiện một hoạt động nhất định.
Ví dụ: Quy chế quản lý các khu công nghiệp, quy chế công tác văn thư, quy
chế tuyển sinh, quy chế thi nâng ngạch, quy chế tiếp công dân và giải quyết
khiếu nại, tố cáo...
1.2.2. Phân biệt quy chế với quy định
Theo Nghị định 09/2010/NĐ-CP ngày 08/02/2010 của Chính phủ sửa
đổi, bổ sung một số điểu của Nghị định 110/2004/NĐ - CP về công tác văn
thư, các hình thức văn bản hành chính hình thành trong hoạt động của cơ
quan, tổ chức có quy chế và quy định.
Như vậy, về nguyên tắc, mỗi một hình thức văn bản trên phải có nội
hàm khác nhau và được sử dụng trong những tình huống khác nhau. Tuy
nhiên, cho đến nay chưa có giải thích chính thức trong văn bản của Nhà nước
về khái niệm các hình thức tên gọi văn bản nói trên. Nhiều giáo trình, tài liệu
có đưa ra định nghĩa nhưng không nhất quán và các định nghĩa chưa hẳn đã
đảm bảo yêu cầu về tính khoa học. Điều này dẫn đến việc sử dụng hình thức
tên gọi văn bản trên thực tế hiện nay không có sự thống nhất chung. Cùng
một nội dung nhưng có nơi chọn hình thức văn bản quy chế, có nơi lại chọn
hình thức văn bản quy định.
Tô Tử Hạ, trong cuốn Từ điển Hành chính cho rằng: Quy định là điều
định ra để phải theo, phải thực hiện. Cuốn Từ điển luật học của NXB Từ điển
Bách khoa - NXB Tư pháp năm 2006 thì cho rằng: Quy định là văn bản đặt
ra, đề đạt ra để những đối tượng nhất định phải thực hiện, phải tuân theo ví
dụ: Quy định giờ giấc làm việc. Còn trong cuốn, Đại từ điển tiếng Việt do
19
khía cạnh cụ thể như quy định tuyển chọn chủ nhiệm đề tài khoa học cấp bộ; quy
định về tổ chức hội thảo khoa học; quy định xử lý đối với tập thể, cá nhân vi
phạm thời hạn và không hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu khoa học...
Quy chế được sử dụng để đưa ra quy tắc về tổ chức, hoạt động, lề lối
làm việc giữa các đơn vị và thành viên trong tổ chức, còn quy định đưa ra các
tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật. Ví dụ, quy định về quy tắc
viết hoa trong văn bản, quy định về tiêu chuẩn đường ngang, quy định về
phác đồ điều trị bệnh xơ hoá cơ đelta, quy định về sử dụng thiết bị phòng
cháy chữa cháy...
Như vậy, trên thực tế, quy chế và quy định là hai loại văn bản gần nhau
về nội hàm và trong một số trường hợp được sử dụng thay thế cho nhau. Tuy
nhiên, để có sự phân biệt tương đối giữa hai loại văn bản trên, TS. Nguyễn
Thị Thu Vân trong Giải thích thuật ngữ: Quy chế, Quy định đăng trên tạp chí
Quản lý Nhà nước số 10 năm 2010: Quy định là văn bản được ban hành kèm
theo quyết định để đưa ra tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật, quy tắc và
cách thức giải quyết một công việc trong hoạt động của cơ quan, tổ chức.
1.2.3. Vai trò của quy chế trong hoạt động của UBND tỉnh
Trong bộ máy nhà nước, các cơ quan thực hiện chức năng lập pháp,
hành pháp và tư pháp đều cần có các quy tắc xử sự trong mối quan hệ công
tác mang tính chất nội bộ và các quan hệ qua lại giữa các cơ quan đó với các
cơ quan, tổ chức khác nhằm tạo ra một phương thức, lề lối làm việc phù hợp
với thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Quốc hội có Quy chế hoạt động
của Quốc hội; Tòa án nhân dân có Quy chế làm việc của Tòa án nhân dân và
tương tự, Viện kiểm sát nhân dân có Quy chế làm việc của Viện Kiểm sát
nhân dân. Các cơ quan nhà nước khi xây dựng quy chế làm việc của mình đều
xuất phát từ tính chất thẩm quyền, loại hoạt động và phương thức thực hiện.
Hoạt động của UBND cấp tỉnh không là ngoại lệ đòi hỏi có quy chế hoạt
21