Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NÔNG TUẤN VINH
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
CHO SINH VIÊN NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRƢỜNG
CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thái Nguyên, năm 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NÔNG TUẤN VINH
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ii
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS. Phạm Hồng Quang,
người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu đề
tài này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên,
khoa Tâm lý - Giáo dục và khoa Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho
em hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các giảng viên và các em sinh
viên trường Cao đẳng Cộng đồng đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ trong suốt quá
trình khảo sát và khảo nghiệm.
Xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các bạn bè và đồng nghiệp, những người
luôn động viên, khích lệ tôi hoàn thành luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, Tháng 8 năm 2012
Tác giả luận văn Nông Tuấn Vinh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên iii
MỤC LỤC
iv
1.3. Tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho sinh viên người dân
tộc thiểu số 12
1.3.1. Một số đặc điểm tâm lý của sinh viên người dân tộc thiểu số 12
1.3.2. Hoạt động GDNGLL ở trường cao đẳng cộng đồng 17
1.3.3. Tầm quan trọng của HĐGD HGLL cho sinh viên người dân tộc thiểu
số ở trường cao đẳng cộng đồng 22
1.3.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc tổ chức các HĐGDNGLL 24
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HĐGD NGLL CHO SINH VIÊN
Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG LAI CHÂU 30
2.1. Khái quát về trường Cao đẳng Cộng đồng tỉnh Lai Châu 30
2.2. Một số vấn đề chung 31
2.2.1. Mục đích khảo sát 31
2.2.2. Đối tượng khảo sát 32
2.2.3. Nội dung khảo sát 32
2.2.4. Phương pháp khảo sát 33
2.3. Kết quả khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động GDNGLL cho sinh viên
trường Cao đẳng Cộng đồng Lai Châu. 33
2.3.1. Nhận thức của sinh viên về khái niệm hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp 33
2.3.2 Nhận thức về về vị trí, vai trò của HĐGDNGLL 33
2.3.3 Các nội dung của HĐGDNGLL cho sinh viên trường Cao đẳng Cộng
đồng Lai Châu 38
2.3.4. Mức độ sử dụng các hình thức tổ chức HĐGDNGLL cho sinh viên ở
trường Cao đẳng Cộng đồng Lai Châu 41
2.3.5. Mức độ hiệu quả trong giáo dục nội dung HĐGDNGLL cho sinh viên 45
2.3.6. Mức độ sử dụng các phương pháp tổ chức HĐGDNGLL 48
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên vi
3.2.6. Biện pháp 6: Sử dụng hiệu quả và hợp lý cơ sở vật chất, trang thiết bị
và tài chính 75
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp 77
3.4. Khảo nghiệm về tính khoa học và tính khả thi của các biện pháp 77
3.4.1. Mục đích khảo nghiệm 78
3.4.2. Đối tượng khảo nghiệm 79
3.4.3. Nội dung khảo nghiệm 79
3.4.4. Phương pháp khảo nghiệm. 79
3.4.5. Kết quả khảo nghiệm 79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
1. Kết luận: 88
2. Kiến nghị 89
2.1. Về phía nhà trường: 89
2.2. Về phía Bộ GD&ĐT 90
2.3. Về phía các lực lượng giáo dục khác: 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Viết đầy đủ
CBGV
11
Nghiệp vụ sư phạm
NVSP
12
Hội đồng nhân dân
HĐND
13
Ủy ban nhân dân
UNND
14
Cán bộ công nhân viên chức
CBCNVC
15
Cán bộ quản lý
CBQL
16
Ban giám hiệu
BGH
17
Kí túc xá
KTX
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Bảng 2.4: Mức độ sử dụng các phương pháp tổ chức HĐGDNGLL của
CBGV: 48
Bảng 2.5: Ý kiến của sinh viên về mức độ sử dụng các phương pháp tổ chức
HĐGDNGLL của CBGV 49
Bảng 2.6: Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình tổ chức HĐGDNGLL cho sinh
viên trường Cao đẳng Cộng đồng Lai Châu 52
Bảng 3.1: Ý kiến của CBGV về tính cần thiết của các biện pháp 80
Bảng 3.2: Ý kiến của sinh viên về sự cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp 82
Bảng 3.3: Đánh giá mức độ hiệu quả giáo dục các HĐGDNGLL của CBGV
và sinh viên 85 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục là một bộ phận của hình thái ý thức xã hội, nó có vai trò đặc biệt
quan trọng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong quá
trình phát triển kinh tế xã hội của một đất nước. Nhận thức được tầm quan trọng
đặc biệt của giáo dục Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định “Giáo dục là quốc
sách hàng đầu”, giáo dục đem lại sự phát triển ổn định, bền vững cho đất nước,
cho dân tộc và cho mỗi con người. Thông qua dạy học và giáo dục người học
tiếp thu, chiếm lĩnh một hệ thống tri thức khoa học và hình thành một số phẩm
chất đạo đức, kĩ năng, kĩ xảo tạo ra sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức,
nhân cách của đối tượng giáo dục.
Đất nước ta đang trên con đường hội nhập kinh tế, văn hóa, giáo dục và đặc
của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập với sự phát triển
kinh tế của khu vực và quốc tế.
Nhận thức được vị trí, vai trò của HĐGDNGLL đối với sự hình thành và
phát triển nhân cách của người học. Trong nước có rất nhiều các công trình khoa
học nghiên cứu về HĐGDNGLL và Bộ GD&ĐT đã lấy môn HĐGDNGLL là
môn học bắt buộc trong trường phổ thông. Tuy nhiên, trong thực tiễn, chất lượng
tổ chức và thực hiện chương trình HĐGDNGLL ở các trường phổ thông còn
nhiều bất cập. Trong quá trình dạy học và đánh giá chỉ chú trọng trang bị cho
người học những tri thức qua môn ở trên lớp, ít chú trọng tới môn học
HĐGDNGLL. Do vậy, việc tổ chức các HĐGDNGLL còn mang tính hình thức,
thiếu sinh động, sáng tạo, nội dung nghèo nàn, ít phong phú… Bên cạnh đó chưa
có công trình khoa học nghiên cứu về HĐGDNGLL cho sinh viên trong các
trường Cao đẳng, Đại học và Bộ GD&ĐT chưa đưa chương trình HĐGDNGLL
vào chương trình khung đào tạo giáo viên giảng dạy môn học này.
Xuất phát từ những lý do trên cũng như góp phần nâng cao chất lượng đào
tạo ra những thế hệ tương lai biết suy nghĩ và năng lực suy nghĩ – tức là những
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3
người đi trên hai chân, một chân làm ra vốn liếng, một chân bảo tồn đạo đức;
một mặt lo kinh tế, mặt kia lo xã hội; vừa thấy hiện tại lại để ý lo cho tương lai;
biết từ đâu đến và biết sẽ đi về hướng nào. Tôi đã lựa chọn: “Tổ chức hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp cho sinh viên người dân tộc thiểu số trường Cao
đẳng Cộng đồng Lai Châu” làm vấn đề nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về HĐGDNGLL ở trường
Cao đẳng Cộng đồng Lai Châu nhằm đề xuất một số biện pháp tổ chức
HĐGDNGLL phù hợp với sinh viên người dân tộc thiểu số, qua đó góp
quan đến vấn đề nghiên cứu
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra bằng anket
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
- Phương pháp thống kê toán học
7. Giả thuyết khoa học
Tổ chức HĐGDNGLL có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong quá
trình hình thành và phát triển nhân cách cho sinh viên. Nếu đề xuất một số
biện pháp tổ chức HĐGDNGLL tốt sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
và đào tạo của nhà trường.
Ngoài phần mở đầu, luận văn có cấu trúc gồm ba chương (chương 1,
chương 2 và chương 3), kết luận và kiến nghị.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI
GIỜ LÊN LỚP CHO SINH VIÊN NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRƢỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là một trong những hoạt động
V.I.Lênin (1870 - 1924) là người tiếp tục sự nghiệp của C.Mác và
F.Anghen. Ông đề cao vấn đề phát triển toàn diện con người. Việc hình thành
con người phát triển toàn diện không chỉ là trách nhiệm của riêng nhà trường
mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội, của gia đình, đoàn thể, và tự rèn luyện
của thế hệ trẻ. Trong bài phát biểu “nhiệm vụ của Đoàn thanh niên”(1920)
Người nói “chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết lao động và hoạt động
xã hội cùng với công nhân với nông dân” [5]
N.K Cơrúpxkaia (1869 - 1939) - nhà giáo dục học Xô Viết vĩ đại, bà đã
phân tích rất sâu sắc ý nghĩa của lao động, đặc biệt quan tâm tới vai trò của
giáo dục của tổ chức Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên. Bà là người xây dựng
nền móng lý luận giáo dục tập thể, là một trong những người sáng lập tổ chức
Đoàn, Đội trong nhà trường Xô Viết [6]
Makarenco(1888 - 1939) – nhà sư phạm nổi tiếng của nước Nga đầu
thế kỷ XX, cũng đã nói: “Tôi kiên trì nói rằng các vấn đề giáo dục, phương
pháp giáo dục không thể hạn chế trong các vấn đề giảng dạy, lại càng không
thể để cho quá trình giáo dục chỉ thực hiện trên lớp học mà đáng ra phải là
trên mỗi mét vuông của đất nước ta… Nghĩa là trong bất kì hoàn cảnh nào
cũng không được quan niệm rằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành trong
lớp.”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7
Ngày nay, cùng với xu thế hội nhập và sự phát triển của các quốc gia…
giáo dục của các nước đang có những định hướng cơ bản nhằm tạo một thế hệ
năng động, sáng tạo, thích nghi với hoàn cảnh sống luôn thay đổi, trong đó kĩ
năng sống là thành tố cốt lõi của chất lượng giáo dục.
Có thể nói, việc ra đời của chương trình HĐGDNGLL là một đóng góp
nhằm vận dụng những lý luận của chủ nghĩa Mác và xuất phát từ thực tiễn
học, khoa học, đố vui, hoạt động giao lưu cắm trại…
- Phạm Lăng trong bài viết “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở
trường THPT Chu Văn An Hà Nội” tạp chí nghiên cứu giáo dục [8], thông
qua 13 hình thức hoạt động và các nội dung đươc xây dựng cụ thể phù hợp
với từng tháng đã làm nâng cao chất lượng dạy học: số học sinh đạt danh hiệu
tiên tiến, số lớp đạt danh hiệu tiên tiến tăng hơn và số giờ xếp loại trung bình,
yếu, số học sinh cá biệt giảm đáng kể.
- Bùi Văn Vân với công trình nghiên cứu “Một số hình thức tổ chức
HĐGDNGLL về phòng chống nhiễm HIV/AIDS cho sinh viên đại học sư
phạm Đà Nẵng” [20] tác giả đã nêu một số hình thức và các bước tổ chức
HĐGDNGLL cho sinh viên để phòng chống HIV/AIDS.
- Đinh Minh Tâm “Một số biện pháp quản lý HĐGDNGLL ở trường
THPT để thực hiện giáo dục toàn diện”[16] qua công trình nghiên cứu này tác
giả cho thấy vai trò to lớn của HĐGDNGLL trong việc giáo dục toàn diện học
sinh từ đó chỉ ra một số biện pháp quản lý HĐGDNGLL nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện.
- Nguyễn Lê Đắc với công trình nghiên cứu “Cơ sở tâm lý học của
công tác giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp trên địa bàn dân cư” [4] đã vạch
ra vai trò của hoạt động ngoài giờ lên lớp trên địa bàn dân cư đối với sự phát
triển tâm lý học sinh.
- Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục, lần đầu tiên HĐGDNGLL được
chính thức đưa vào trong chương trình giáo dục phổ thông, được thực hiện bắt
buộc và thống nhất trong toàn quốc. Dưới sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT để triển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9
khai chương trình và sách giáo viên về HĐGDNGLL một loạt tác giả và các
nhà nghiên cứu đã đề cập tới nhiều lĩnh vực khác nhau của HĐGDNGLL như:
chuyên môn theo học, mà họ cần phải có khả năng nhanh chóng thích ứng với
những điều kiện mới của môi trường công tác cũng như môi trường sống đầy
biến động. Hay nói cách khác, họ cần phải có khả năng phát hiện và giải
quyết những vấn đề mới trong lĩnh vực chuyên môn mà họ theo học. Các hoạt
động đó của sinh viên chính là đối tượng trong hoạt động dạy của giảng viên.
Vì vậy, nội dung hoạt động dạy là tổ chức và điều khiển một cách hợp
lí nhất quá trình học tập của sinh viên. Để làm được điều đó, người giảng viên
phải tổ chức nội dung bài học sao cho hợp lí nhất, biến lôgíc khoa học của tri
thức thành lôgíc sư phạm, phù hợp với khả năng lĩnh hội của sinh viên. Trên
thực tế, sinh viên học tập theo phương pháp tự nghiên cứu là chính, song
người giảng viên tổ chức và điều khiển tốt quá trình học tập của sinh viên thì
hiệu quả học tập của sinh viên sẽ cao hơn, sinh viên sẽ tiết kiệm được nhiều
thời gian và công sức hơn.
Hoạt động giáo dục là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm giáo
dục và hình thành ý thức chính trị, pháp luật, đạo đức, văn hoá - thẩm mĩ, giáo
dục hướng nghiệp, giáo dục dân số, giáo dục môi trường và giáo dục phòng
chống các tệ nạn xã hội, phòng chống ma tuý, giáo dục kĩ năng sống…nhằm
tạo điều kiện tối ưu cho sự hình thành và phát triển toàn diện nhân cách ở các
em sinh viên. Đáp ứng được các yêu cầu của Nghị quyết II của BCH TW
khoá VIII đã khẳng định “Xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn
bó với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có
ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc, công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, giữ gìn và phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam,
có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức
khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành
giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỉ luật, có sức khoẻ”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12
dục chưa thực sự được quan tâm. Về nội dung, chương trình còn nhiều bất cập
như còn khô cứng, cứng nhắc, chưa phù hợp với từng địa phương và còn nặng
về lí thuyết, học sinh, sinh viên ít có cơ hội được thực hành, được trải nghiệm.
Học sinh, sinh viên thếu kĩ năng sống, kĩ năng tham gia các hoạt động xã
hội…Do đó một bộ phận sinh viên Việt Nam khi tốt nghiệp đại học, cao đẳng
kĩ năng nghề nghiệp còn yếu và kém, tri thức được tiếp thu trong trường trở
nên lạc hậu với những đòi hỏi của công việc, của xã hội.
Vì vậy, chúng tôi cho rằng: HĐGDNGLL là những hoạt động giáo dục
được tổ chức ngoài giờ học các môn học chính khoá, là hoạt động tiếp nối
hoạt động dạy học trên lớp. HĐGDNGLL có quan hệ hữu cơ và gắn bó mật
thiết với các hoạt động dạy học và giáo dục trong nhà trường. Thông qua
HĐGDNGLL người học được trải nghiệm, đuợc gắn lí thuyết với thực hành,
lí luận với thực tiễn và thống nhất giữa nhận thức với hành động…của bản
thân mỗi cá nhân.
1.3. Tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho sinh viên ngƣời dân
tộc thiểu số
1.3.1. Một số đặc điểm tâm lý của sinh viên người dân tộc thiểu số
Sinh viên bao gồm những em trong độ tuổi từ 18 đến 25 tuổi (giai đoạn
thứ hai của tuổi thanh niên). Đây là lứa tuổi đầy ước mơ, hoài bão, tuổi đẹp
nhất của cuộc đời. Sinh viên là khái niệm để chỉ những người học theo
phương thức nghiên cứu, tìm tòi khám phá. Như vậy, người học ở các trường
cao đẳng, đại học được gọi là sinh viên và các em đã có sự phát triển tương
đối toàn diện.
1.3.1.1 Về thể chất:
Tuổi sinh viên là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt thể lực và có
sự phát triển tương đối hoàn thiện về mặt sinh lí. Các em có hệ thần kinh, hệ
xương, hệ cơ phát triển ổn định và đồng đều. Tuy nhiên, các tố chất thể lực
nối sự phát triển, hoàn thiện xu hướng nghề nghiệp mà họ đã chọn khi học
phổ thông. Vì thế, một mặt, sinh viên phát triển nhân cách với tư cách của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14
một công dân. Mặt khác, nhân cách của sinh viên phát triển hướng tới các yêu
cầu của một người trí thức hoạt động trong một lĩnh vực chuyên môn, nghề
nghiệp nào đó.
Vì thế, ngoài những phẩm chất, năng lực chung đủ để sinh viên hoàn
thành nghĩa vụ của một công dân, thì điều quan trọng là các phẩm chất, năng
lực cần thiết của một người lao động có trình độ cao trong tương lai đều do xu
hướng nghề nghiệp chi phối. Có thể nói, sự phát triển nhân cách của sinh viên
được định hướng theo yêu cầu nghề nghiệp.
* Đời sống tình cảm:
Sinh viên người dân tộc đã tưởng thành về mặt tâm sinh lí, nên đời
sống tình cảm của sinh viên rất phong phú, tình cảm đã phát triển rất bền
vững và sâu sắc. Ở thời kì này, tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức và tình cảm
thẩm mỹ phát triển đạt tới một trình độ cao về chất và lượng mới.
Người dân tộc luôn ý thức về nguồn gốc, về điều kiện hoàn cảnh sống
của mình. Chính điều này đã khiến cho sinh viên người dân tộc sống thu
mình, tạo rào cản ngăn cách hoạt động sống của các em với môi trường xã
hội, làm cho các em khó giao tiếp, hòa nhập cộng đồng.
Tình cảm trí tuệ của sinh viên biểu hiện rõ qua thái độ tích cực đối với
việc chiếm lĩnh tri thức khoa học. Nhiều sinh viên người dân tộc rất tích cực,
chủ động và sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức, khám phá khoa học, đặc
biệt trong việc tìm ra phương pháp, cách thức học tập phù hợp với điều kiện,
yêu cầu của môn học cũng như nhu cầu, hứng thú, trình độ của bản thân Tuy
nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận sinh viên người dân tộc còn thụ