BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Hoàng Thị Quý
KHÓ KHĂN TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
CỦA SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC CHĂM TẠI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NINH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Hoàng Thị Quý
KHÓ KHĂN TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
CỦA SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC CHĂM TẠI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NINH THUẬN
Chuyên ngành : Tâm lý học
Mã số
: 60 31 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐOÀN VĂN ĐIỀU
-
Quý thầy cô Khoa Tâm lý – Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ
Chí Minh
-
Ban Giám hiệu nhà trường, thầy cô giáo và sinh viên trường CĐSP Ninh Thuận
-
PGS. TS. Đoàn Văn Điều, người hướng dẫn khoa học
-
Cha mẹ, anh chị trong gia đình
-
Tất cả các bạn bè, đồng nghiệp, các bạn học viên cao học tâm lý học khóa 23.
Đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện, giúp đỡ, động viên, khuyến khích tác giả
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu hoàn thành luận văn cũng như con đường
phát triển tri thức của tác giả.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 09 năm 2014
Tác giả
Hoàng Thị Qúy
1.3.3. Hoạt động học tập của sinh viên sư phạm trường CĐSP Ninh Thuận .......38
1.4. Thuận lợi và khó khăn trong hoạt động học tập của sinh viên người dân
tộc Chăm tại trường CĐSP Ninh Thuận ..............................................................45
1.5. Nguyên nhân của những khó khăn trong hoạt động học tập .......................50
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHÓ KHĂN TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
CỦA SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC CHĂM TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ
PHẠM NINH THUẬN ................................................................................................54
2.1. Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu ..................................................54
2.1.1. Sơ lược về trường Cao đẳng Sư phạm Ninh Thuận....................................54
2.1.2. Sơ lược về người dân tộc Chăm ở Ninh Thuận ..........................................56
2.2. Thể thức và phương pháp nghiên cứu ...........................................................58
2.2.1. Công cụ nghiên cứu ....................................................................................58
2.2.2. Mẫu nghiên cứu ..........................................................................................61
2.3. Kết quả nghiên cứu thực trạng .......................................................................62
2.3.1. Thực trạng khó khăn trong hoạt động học tập của sinh viên người dân tộc
Chăm tại trường Cao đẳng Sư phạm Ninh Thuận ................................................62
2.3.2. Thực trạng nguyên nhân của những khó khăn trong hoạt động học tập của
sinh viên người dân tộc Chăm tại trường CĐSP Ninh Thuận ..............................84
2.3.3. Một số biện pháp nhằm khắc phục những khó khăn và nâng cao chất lượng
học tập của sinh viên người dân tộc Chăm tại trường Cao đẳng sư phạm Ninh
Thuận ................................................................................................................. 101
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................................. 118
1. Kết luận ............................................................................................................. 118
5
2. Kiến nghị ........................................................................................................... 119
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................ 121
PHỤ LỤC .................................................................................................................. 127
:
Hoạt động học tập
ĐTB
:
Điểm trung bình
ĐLTC
:
Độ lệch tiêu chuẩn
N
:
Tần số
ANOVA
:
Trị số kiểm nghiệm F
P
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc sống con người là một dòng hoạt động liên tục không ngừng, thông qua
hoạt động mà bản chất con người bộc lộ, nhân cách của họ ngày càng hoàn thiện. Nói
cách khác, nhân cách con người là kết quả của quá trình hoạt động và giao tiếp. Muốn
tồn tại và phát triển, con người phải tham gia vào các hoạt động để sản xuất ra của cải
vật chất, phục vụ cho chính nhu cầu của bản thân và cộng đồng. Tuy nhiên không phải
lúc nào hoạt động của con người cũng diễn ra thuận lợi. Xuất phát từ những mục đích,
nhiệm vụ, vị trí và hoàn cảnh khác nhau mà mỗi cá nhân đều gặp phải những khó
khăn, trở ngại nhất định trong lĩnh vực hoạt động của bản thân. Khi những khó khăn,
trở ngại xuất hiện, đòi hỏi con người phải nỗ lực vượt qua nếu không chính nó sẽ ngăn
cản tiến trình hoạt động của mình, khiến quá trình hoạt động bị trì trệ, con người
không đạt được mục đích như mong muốn.
Đối với nước ta, trong thời điểm hiện nay, nhiệm vụ của ngành Giáo dục - Đào
tạo là đào tạo đội ngũ tri thức trẻ, đặc biệt là đội ngũ giáo viên có chất lượng cao, có
đủ khả năng dạy học và giáo dục. Muốn làm được điều này thì hoạt động học tập có
vai trò vô cùng quan trọng đối với việc hình thành và phát triển nhân cách của sinh
viên. Nhiệm vụ của các trường Cao Đẳng là “Đào tạo trình độ Cao đẳng giúp sinh
viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản về một ngành nghề, có khả
năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo” [37].
Do vậy các trường Cao đẳng Sư phạm phải thực hiện nhiệm vụ giáo dục - đào tạo
những sinh viên sư phạm, trang bị cho họ những tri thức khoa học, kỹ năng nghiệp vụ
sư phạm.
Đối với sinh viên, học tập là một trong những hoạt động có tầm quan trọng lớn,
thông qua hoạt động học tập sinh viên tích lũy được hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
và dần hoàn thiện nhân cách của bản thân. Hoạt động học tập của sinh viên còn gọi là
hoạt động học tập nghề nghiệp, vốn học vấn tiếp thu được trong thời kỳ này hết sức
quan trọng vì nó là công cụ để họ tiến hành tham gia vào lĩnh vực nghề nghiệp sau này
làm rất cần thiết nhằm góp phần nâng cao kết quả học tập của họ.
Hiện nay đã có một số đề tài nghiên cứu về khó khăn trong hoạt động học tập
của sinh viên song chưa có đề tài nào thực sự nghiên cứu về những khó khăn trong học
tập của sinh viên dân tộc Chăm. Mặt khác, chúng tôi cũng rất quan tâm đến vấn đề về
9
những khó khăn trong học tập mà học sinh sinh viên hiện nay gặp phải, đặc biệt sinh
viên dân tộc Chăm đang theo học tại các trường Sư phạm hiện nay ở nước ta, trong đó
có trường Cao đẳng Sư phạm Ninh Thuận là nơi có số lượng lớn sinh viên người dân
tộc Chăm đang theo học.
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Khó
khăn trong hoạt động học tập của sinh viên người dân tộc Chăm tại trường Cao
đẳng Sư phạm Ninh Thuận”.
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định một số khó khăn trong hoạt động học tập của sinh viên người dân tộc
Chăm, nguyên nhân của những khó khăn đó. Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp
khắc phục những khó khăn trong hoạt động học tập của sinh viên người dân tộc Chăm
nhằm nâng cao kết quả học tập ở sinh viên.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Khách thể chính: Sinh viên người dân tộc Chăm tại trường Cao đẳng Sư phạm
Ninh Thuận.
Khách thể bổ trợ: Cán bộ quản lý, giáo viên và sinh viên dân tộc khác tại
trường CĐSP Ninh Thuận.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Khó khăn trong hoạt động học tập của sinh viên người dân tộc Chăm tại trường
Cao đẳng Sư phạm Ninh Thuận.
4. Giả thuyết khoa học
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận
Đề tài sử dụng các phương pháp luận khác nhau, trong đó có hai phương pháp
luận đóng vai trò chủ yếu:
7.1.1. Quan điểm hệ thống – cấu trúc
Vận dụng quan điểm này để xây dựng cơ sở lý luận như khái niệm khó khăn,
khó khăn trong hoạt động học tập, biểu hiện, nguyên nhân, biện pháp nhằm khắc phục
những khó khăn trong hoạt động học tập. Nghiên cứu đề tài (xây dựng bảng hỏi, bình
luận thực trạng) được tiến hành trên cấu trúc đã được thiết lập.
11
7.1.2. Quan điểm thực tiễn
Khó khăn trong hoạt động học tập của sinh viên đã được một số tác giả nghiên
cứu trước đó và chỉ ra rằng có khó khăn ở các mức độ khác nhau. Sinh viên người
Chăm vừa có những đặc điểm của sinh viên nói chung, đồng thời cũng có những đặc
điểm riêng, đặc thù nên cũng không tránh khỏi gặp những khó khăn trong hoạt động
học tập của mình. Vì vậy, việc xác định được những khó khăn trong hoạt động học tập
của sinh viên người Chăm, phân tích những nguyên nhân gây ra những khó khăn đó và
đề xuất một số biện pháp nhằm khắc phục những khó khăn mà sinh viên gặp phải
trong học tập là có ý nghĩa thực tiễn, góp phần giải quyết những vấn đề của thực tiễn
đặt ra.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Mục đích: Thu thập tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm làm rõ các
vấn đề lý luận của đề tài cần nghiên cứu.
Cách tiến hành: Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu cần thiết phục vụ cho việc
nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho việc triển khai và nghiên cứu thực tiễn.
chính mình. Tuy nhiên, trong quá trình để con người biến những tri thức của nhân loại
thành vốn kinh nghiệm riêng của cá nhân thì con người sẽ gặp không ít những khó
khăn.
Khi bàn về vấn đề khó khăn nói chung và khó khăn trong học tập thì ngay từ rất lâu,
một số tác giả như B. Kirsch, C. Wagner, S. Franz... ở Đức; L.A. Regus, A.L.
Liktarnikov, O.A. Basinger, D.H. Demidov... ở Liên Bang Nga đã có những công trình
nghiên cứu về khó khăn trong cuộc sống của học sinh và sinh viên. Dựa trên các kết
quả nghiên cứu, các tác giả đã làm sáng tỏ thực trạng và nguyên nhân một số khó khăn
thường gặp trong đời sống của học sinh, sinh viên như là một hiện tượng tâm lý xã
hội, chịu sự tác động của các quy luật phát triển tâm sinh lý lứa tuổi cũng như điều
kiện sống và hoạt động của họ [65].
Bên cạnh đó, trong thập kỷ 70 của thế kỷ XX, Bianka Zazzo, giáo sư đại học
EPHE Pari cùng các cộng sự là 12 chuyên gia cấp cao về tâm lý, y khoa và giáo dục đã
nghiên cứu trẻ em từ lớp mẫu giáo đến cuối lớp 1 đã chỉ ra: “Khó khăn tâm lý lớn nhất
mà trẻ gặp phải làm cản trở đến sự thích ứng với hoạt động học tập của trẻ là sự thay
đổi môi trường hoạt động một cách triệt để, gọi là chuyển dạng hoạt động chủ đạo. Trẻ
mẫu giáo lấy hoạt động vui chơi làm hoạt động chủ đạo, vừa học vừa chơi, hoạt động
13
đa dạng, tính tự do tùy hứng cá nhân nặng hơn là tính chỉ đạo của giáo viên, người lớn
tuổi. Bước sang lớp 1, học tập là hoạt động chủ đạo, học sinh phải chấp hành nghiêm
chỉnh mọi quy định theo sự chỉ đạo chặt chẽ của giáo viên, theo nguyên tắc lớp học. Vì
thế, trẻ nào vượt qua được khó khăn này thì sẽ học tốt, còn không vượt được thì sẽ dẫn
đến tình trạng chán học, kết quả không cao” [56, tr.19].
Cũng nghiên cứu về khó khăn trong hoạt động học tập học sinh lớp một, tác giả
A.V. Petrovxki đã chia khó khăn của trẻ em khi đi học lớp một làm ba loại:
+ Những khó khăn có liên quan đến đặc điểm của chế độ học tập mới
+ Khó khăn trong việc thiết lập quan hệ giao tiếp mới với thầy cô và bạn bè
Khi có những yêu cầu về thành tích, chúng nhanh chóng cảm thấy bị đe dọa ghê gớm
và thường phản ứng lại bằng các trạng thái tâm lý bực dọc và hành vi nhận thức sai.
Người ta thấy luôn tương quan nghịch giữa một bên là sự lo sợ chung, sợ trường học
và sợ thi và một bên là những đòi hỏi thành tích nhận thức cao. [49]
Ballard và Clauchy (1985), trong cuốn cẩm nang của mình đã chỉ ra những khó
khăn trong quá trình học tập của từng sinh viên châu Á khi học tại các trường Đại học
của Úc. Hai tác giả đã khẳng định: Sinh viên đến từ các nền văn hoá khác nhau thường
đặt ra các mục đích khác nhau trong cách nghĩ và cách học của họ. Hầu hết sinh viên
nghĩ và học theo cách mà họ đã được đào tạo ở trường phổ thông và đại học, vì vậy họ
có thể đã thành công ở ngôi trường và đất nước của họ nhưng lại gặp thất bại ở đất
nước khác, môi trường học tập khác. Bằng kinh nghiệm và kiến thức khoa học của
mình các tác giả đã giúp một số sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh người
Nhật, Singapo, Indonexia tháo gỡ một số khó khăn trong quá trình học tập và nghiên
cứu tại trường Đại học của hai ông. Các tác giả kết luận: Sinh viên cần phải có một sự
chuyển biến lớn giữa các nền văn hoá, kiến thức khác nhau để thích ứng với môi
trường học tập mới. [77, tr.9-18]
Trong bài báo: “Sốc văn hoá trong học đọc và viết: phát triển kỹ năng đọc, viết
ở trường đại học”, M. Nevile (1996) đã cho rằng: SV mới vào trường đại học không có
những kỹ năng đọc, viết để đảm bảo cho việc nghiên cứu ở trường đại học. Trong ý
thức của nhiều SV, các em quan tâm đến nội dung học tập hơn là việc phát triển những
kỹ năng đọc, viết. Nhiều SV không nhận ra việc viết bài luận của họ không chỉ cần thể
hiện sự chính xác về nội dung mà còn phải đảm bảo tính khoa học và có cấu trúc chặt
chẽ. Vì vậy, nhiều SV đã thất bại trong việc trình bày bài viết của mình. Các em đã
không biết thể hiện cấu trúc, ý tưởng cũng như đưa ra cách lập luận của mình cho phù
hợp với yêu cầu của giáo viên. SV cần phải có cái nhìn mới trong cách viết vì nó là
một trong những cách thể hiện ý nghĩ, hành động và sự định hướng giá trị phù hợp với
hoàn cảnh của các trường đại học hiện nay. [82, tr.7-10]
15
nhớ nhà và lo nghĩ về người thân.
16
+ Khó khăn khi sống ở môi trường mới cùng với người khác. Sinh viên phải
xem xét, lựa chọn nơi ở phù hợp với điều kiện kinh tế, đặc điểm cá nhân và giải quyết
mâu thuẫn có thể nảy sinh khi sống cùng người khác.
+ Khó khăn trong việc đảm bảo ăn uống có lợi cho sức khỏe với điều kiện kinh
phí hạn hẹp. SV phải tự chuẩn bị thức ăn, lựa chọn thức ăn thay đổi và đủ chất dinh
dưỡng, luyện tập thể dục thể thao để nâng cao sức khỏe.
+ Khó khăn liên quan đến học tập và sự mong chờ của cá nhân đối với khóa
học. SV cân nhắc sự phù hợp của nghề, khóa học đã lựa chọn với mong muốn của cá
nhân; quyết định tiếp tục học hay chuyển nghề, chuyển trường.
+ Khó khăn liên quan đến quan hệ xã hội. Nhiều SV gặp khó khăn trong việc
thiết lập quan hệ xã hội mới ở trường Đại học, tham gia các hoạt động cộng đồng để
làm phong phú đời sống xã hội của bản thân.
+ Khó khăn về kinh tế. Đây cũng là vấn đề gây nhiều khó khăn cho sinh viên,
làm sao để có đủ tiền đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tối thiểu, mua sách vở, thiết bị phục
vụ hoạt động học tập. [83]
Liên quan đến đối tượng SV có hoàn cảnh đặc biệt, Goodwin (2006) đã nghiên
cứu những kinh nghiệm liên quan đến thời gian học đại học của “sinh viên thiệt thòi”
ở Mỹ - sinh viên dân tộc ít người đã nhập cư vào Mỹ. Kết quả nghiên cứu cho thấy,
khó khăn mà nhóm SV này gặp trong thời gian học Đại học rất đa dạng về lĩnh vực,
mức độ khó khăn cũng như mức độ ảnh hưởng. Về lĩnh vực, nhóm SV này có khó
khăn liên quan đến hoạt động học tập, thích nghi với môi trường Đại học, quan hệ xã
hội, vấn đề cá nhân...Mỗi lĩnh vực lại bao gồm nhiều loại khó khăn khác nhau, có mức
độ ảnh hưởng và tầm ảnh hưởng khác nhau. Về mức độ khó khăn, các SV đối diện với
các khó khăn ở các mức độ khác nhau tùy theo lĩnh vực và từng cá nhân cụ thể. Về
mức độ ảnh hưởng, với nhiều sinh viên khó khăn được nhìn nhận như là thử thách
trẻ em có những bước ngoặt chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, trẻ em đòi
hỏi phải thay đổi phương thức hoạt động một cách triệt để”. Đồng thời tác giả cũng
nêu ra một số khó khăn cụ thể mà trẻ lớp 1 phải vượt qua:
+ Trẻ phải rời bỏ cuộc sống thoải mái, đa dạng, vui nhộn, hoạt động tùy hứng ở
mẫu giáo để khép mình vào kỉ luật nghiêm khắc của lớp học phổ thông
+ Trẻ gặp những khó khăn trong quan hệ với thầy cô
+ Trẻ bị “vỡ mộng” khi vào lớp 1 vì sự hân hoan chờ đón những điều hấp dẫn,
được thay bằng những điều khác xa với tưởng tượng của trẻ. [42]
Trong tác phẩm “Giải quyết những khó khăn trong học tập”, các tác giả Nguyễn
Xuân Nguyên và Nguyễn Đình Cửu cũng đã đưa ra một số khó khăn trong học tập và
18
những phương pháp học tập để giúp học sinh khắc phục khó khăn và đạt được kết quả
cao trong quá trình học tập [40].
Trong bài viết “Chuẩn bị tâm lí cho trẻ vào lớp 1”, tác giả Phạm Thị Đức cũng
nêu ra một số khó khăn của trẻ em khi đi học:
+ Trẻ chưa quen với chế độ học tập
+ Chưa có thói quen nắm các dữ kiện câu hỏi của bài tập, yêu cầu của cô giáo
trước khi bắt tay vào hành động
+ Nhút nhát, mất bình tĩnh trước hoàn cảnh mới
+ Chưa có động cơ học tập đúng đắn. [16]
Tác giả Nguyễn Thanh Sơn trong bài viết “Những khó khăn của học sinh miền
núi khi học tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam” đã phân tích những khó khăn của học
sinh miền núi khi học tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam và chỉ ra những khó khăn
mà học sinh gặp phải là [52]:
+ Hoàn cảnh giao tiếp của học sinh miền núi bị hạn chế
+ Vốn từ ngữ của học sinh miền núi còn thiếu và yếu
+ Năng lực cảm thụ một câu, một đoạn thơ yếu.
lớp một”; “Thực trạng khó khăn tâm lí và biểu hiện của chúng ở học sinh lớp một tiểu
học” và “Các nguyên nhân dẫn đến khó khăn tâm lí của học sinh đi học lớp một” đã
cho rằng: Trẻ em mẫu giáo lớn khi bước vào học lớp 1 gặp những khó khăn tâm lí mà
chính những khó khăn này làm cản trở sự thích ứng với hoạt động học tập của các em,
dẫn đến trẻ sợ học và kết quả học tập không cao. Trong đó, tác giả đồng ý với quan
điểm của A.V. Petrovxki, cho rằng khó khăn tâm lí của trẻ khi đi học lớp một gồm ba
loại [61, tr.18 – 20], [62, tr.32 – 35] đó là:
+ Thứ nhất: Những khó khăn có liên quan đến đặc điểm của chế độ học tập mới
mẻ
+ Thứ hai: Khó khăn trong việc thiết lập quan hệ giao tiếp mới với thầy cô và
bạn bè, đặc biệt là giao tiếp với bạn bè.
+ Thứ ba: Trẻ mất dần khát vọng học tập ban đầu và chán học.
Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Xuân Thức cùng một số tác giả khác như Đào Thị
Lan Hương, Đỗ Văn Bình, Nguyễn Thế Hùng, Đặng Thị Lan cũng đã nghiên cứu về
khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất một số trường sư
phạm. Kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy: Đa số sinh viên năm thứ nhất đều
gặp khó khăn tâm lý trong học tập, khó khăn tâm lý của sinh viên năm thứ nhất thường
biểu hiện trên các mặt nhận thức, xúc cảm và kỹ năng học tập. Tuy nhiên, mức độ khó
khăn tâm lý không đồng đều ở sinh viên năm thứ nhất; sinh viên năm thứ nhất gặp khó
khăn nhiều nhất là kỹ năng học tập, thứ hai là nhận thức và ít nhất là về mặt xúc cảm
20
(thái độ) với hoạt động học tập và các khâu của hoạt động học tập. Trên cơ sở kết quả
nghiên cứu, các tác giả cũng có những đề xuất về phía nhà trường và giáo viên để khắc
phục khó khăn tâm lý trong học tập cho sinh viên năm thứ nhất. [3], [30], [33], [63].
Tác giả Đỗ Thị Hạnh Phúc khi tìm hiểu một số khó khăn tâm lý của thiếu niên
và nhu cầu tư vấn của các em đã cho rằng: Những thay đổi của điều kiện kinh tế, văn
hóa, xã hội đã làm cho thiếu niên gặp không ít khó khăn trong học tập “sự quá tải của
tài cũng đã phân tích những nguyên nhân gây ra khó khăn và đề xuất một số biện pháp
giảm thiểu khó khăn trong học tập cho sinh viên theo học chế tín chỉ. [64]
+ Trong bài viết “Thực trạng khó khăn của sinh viên học kỳ 3 trường Đại học
sư phạm thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình học tập theo hệ thống tín chỉ”, tác giả
Đoàn Văn Điều cũng đã chỉ ra một số khó khăn mà sinh viên gặp phải khi học theo tín
chỉ và cách đáp ứng của sinh viên đối với khó khăn trong việc học theo tín chỉ
[13,tr.62 – 70].
+ Tác giả Nguyễn Thị Tứ và Đào Thị Duy Duyên trong bài viết “Những khó
khăn trong cuộc sống của sinh viên năm nhất trường Đại học sư phạm thành phố Hồ
Chí Minh” cũng đã đề cập đến một số khó khăn trong hoạt động học tập của sinh viên
năm thứ nhất [65, tr.120 – 130].
Tóm lại, khó khăn trong hoạt động học tập đã được một số tác giả trong nước
quan tâm nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu kể trên ít nhiều đã xây dựng được
một hệ thống lý luận và thực tiễn về vấn đề này. Tuy nhiên các tác giả mới chỉ tập
trung nhiều ở việc nghiên cứu khó khăn trong hoạt động học tập của học sinh, sinh
viên nói chung mà ít chú ý đến đối tượng là sinh viên dân tộc thiểu số, trong đó có
sinh viên người dân tộc Chăm thì chưa có tác giả nào quan tâm nghiên cứu. Vì vậy,
việc tiếp cận nghiên cứu vấn đề này theo chúng tôi là còn mới và cần thiết.
1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.2.1. Khó khăn
Trong từ điển Anh - Việt, từ “difficulty” được dùng để chỉ sự khó khăn, sự gay
go, sự khắc nghiệt đòi hỏi nhiều nỗ lực để khắc phục [72, tr.483].
Theo từ điển Pháp - Việt thì từ “difficulté” chỉ sự khó khăn, sự việc gây trở ngại
[15, tr.355], [73, tr.352].
Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, “khó khăn” có nghĩa là có nhiều trở ngại
làm mất nhiều công sức. [75]
Theo từ điển từ láy tiếng Việt, “khó khăn” nghĩa là có nhiều trở ngại. [24]
22
23
tập, gây cản trở và làm ảnh hưởng xấu tới tiến trình và kết quả hoạt động học tập
của người học”.
Khó khăn nảy sinh trong hoạt động học tập đó là những vấn đề chứa đựng
nhiều mâu thuẫn và luôn đòi hỏi người học phải nỗ lực vượt qua để giải quyết chúng
một cách hiệu quả nhằm thích nghi với hoạt động học tập. Khó khăn trong hoạt động
học tập bao gồm cả những yếu tố bên ngoài (khách quan) và những yếu tố bên trong
(chủ quan). Những yếu tố bên ngoài, được hiểu là những điều kiện, phương tiện hoạt
động, môi trường gia đình, nhà trường, xã hội... là những yếu tố tác động đến quá trình
học tập từ phía bên ngoài, những yếu tố này có ảnh hưởng gián tiếp tới tiến trình và
kết quả hoạt động học tập của người học. Còn những yếu tố bên trong, chính là những
yếu tố xuất phát từ bản thân nội tại mỗi người học khi tham gia vào hoạt động học tập
như sự thiếu hiểu biết sâu sắc về hoạt động, vốn kinh nghiệm hạn chế, việc thực hiện
các thao tác kỹ năng học tập không phù hợp trong quá trình hoạt động, khả năng ngôn
ngữ hạn chế... Các yếu tố bên trong là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình
và kết quả hoạt động học tập của người học.
1.3. Hoạt động học tập của sinh viên sư phạm trường CĐSP Ninh Thuận
1.3.1. Sinh viên sư phạm
1.3.1.1. Sinh viên
* Khái niệm sinh viên
Thuật ngữ SV có nguồn gốc từ tiếng la tinh “students” có nghĩa là người làm
việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm khai thác tri thức. Nó được dùng nghĩa tương
đương với từ “student” trong tiếng Anh, “etudiant” trong tiếng Pháp để chỉ những
người theo học ở bậc Đại học và Cao đẳng, những người đang học tập và rèn luyện để
lĩnh hội một trình độ chuyên môn cao. Theo quy định của trường Đại học và Cao đẳng
thì lứa tuổi SV hiện nay thường là từ 17 đến 23 tuổi nghĩa là họ trùng với giai đoạn thứ
hai của tuổi thanh niên. [56]