luận văn đại học sư phạm hà nội Thiết kếvà sử dụng các trò chơi toán học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học toán các lớp đầu cấp Tiểu học - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1. LÝ do chọn đề tài
1.1. Việc chuyển hoạt động chủ đạo từ "vui chơi" ở lứa tuổi MÉu
giáo sang "học tập" ở lứa tuổi Tiểu học là bước là ngoặt quan trọng trong đời
sống của trẻ em. Những thay đổi này tạo cho trẻ em những cơ hội phát triển
mới đồng thời cũng gây cho các em nhiều khó khăn.
Để giúp trẻ thích nghi dần với cuộc sống mới ở trường Tiểu học,
người giáo viên cần tìm ra những cách thức, những con đường thích hợp
mang lại cho trẻ cảm nhận "mỗi ngày đến trường là một ngày vui". Làm
cho các em thích học, không sợ học là việc làm cần thiết trong dạy học ở
Tiểu học, nhất là cỏc lớp đầu cấp.
1.2 Toán học là môn học chiếm thời lượng đáng kể trong chương
trình dạy học Tiểu học; là môn học được đặc trưng bởi tính chính xác,
tường minh, lụgic chặt chẽ nên toán học dễ mang lại cho học sinh (nhất là
học sinh nhỏ) những căng thẳng tâm lý. Làm thế nào để giảm bớt những
căng thẳng này ? Làm thế nào để môn toán trở nên sinh động, hấp dẫn, lôi
cuốn các em? Trò chơi với tính hấp dẫn tự thân của nó có tiềm năng lớn để
trở thành phương tiện dạy học hiệu quả, kích thích hứng thó nhận thức, tạo
sự tích cực, sáng tạo, niềm say mê học tập ở học sinh. Việc sử dụng trò
chơi trong dạy học toán ở Tiểu học sẽ góp phần giải quyết tốt vấn đề nêu
trên.
1.3. Đổi mới phương pháp dạy học là cần thiết để nâng cao chất
lượng dạy học. Giúp trẻ học toán qua các trò chơi là một trong những
hướng đổi mới phương pháp dạy học toán ở Tiểu học.
Những năm gần đây đó cú những nghiên cứu về trò chơi học tập nói
chung và trò chơi toán học nói riêng. Tuy nhiên, việc lùa chọn, thiết kế làm
phong phú các trò chơi đó và tìm cách sử dụng chúng sao cho phù hợp với
1
đối tượng học sinh, với điều kiện thực tế giảng dạy, với năng lực của giáo
viên để dạy học toán có hiệu quả vẫn luôn luôn là một việc làm cần thiết.
1.4. Trong thực tế dạy học Tiểu học, có những giáo viên tâm huyết

tập tích cực, vừa chơi, vừa học, và học có kết quả” [7]
Bởi nhận thức được ý nghĩa của trò chơi học tập nên việc tổ chức trò
chơi trong dạy học ỏ Tiểu học đã trở nên khá phổ biến đối với một số môn
học như: Tiếng Việt, Tự nhiên Xã hội, Đạo đức, … Nhiều tác giả trong
nước đã xuất bản những tài liệu tham khảo nói về trò chơi học tập như: “Tổ
chức hoạt động vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ và thể
lực cho học sinh” của Hà Nhật Thăng, “Trò chơi học tập trong dạy học
môn Đạo đức” của Lưu Thu Thuỷ, “100 trò chơi học toỏn lớp 1” của Đỗ
Tiến Đạt, Trần Ngọc Lan, Phạm Thanh Tâm, “Hệ thống trò chơi củng cố 5
mạch kiến thức toán ở Tiểu học” của Trần Ngọc Lan Có thể nói đây là
bước khởi đầu cho việc đẩy mạnh tổ chức trò chơi ỏ trường Tiểu học nói
chung và môn toán nói riêng.
Tuy nhiên việc làm phong phú thêm nguồn trò chơi cũng như hướng
dẫn sử dụng các trò chơi đó một cách cụ thể tường minh sẽ mang ý nghĩa
cả về lí luận và thực tiễn đối với việc tổ chức trò chơi toán học ở cỏc líp
đầu bậc Tiểu học. Cần nhấn mạnh rằng những thành tựu nghiên cứu đã
điểm dẫn ở trên chứa đựng những nội dung quan trọng, trực tiếp góp phần
làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu đề tài.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nghiên cứu lí luận và thực tiễn để thiết kế một số
trò chơi toán học và sử dụng chúng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học
toán ở cỏc líp đầu cấp Tiểu học.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
3
- Hệ thống hoá một số vấn đề liên quan đến đề tài: Việc dạy học toán
ở cỏc lớp đầu cấp Tiểu học, đặc điểm tâm sinh lÝ lứa tuổi nhỏ, lí luận về
trò chơi, trò chơi học tập, trò chơi toán học Làm sáng tỏ về vai trò, ý
nghĩa tổ chức các trò chơi trong dạy học toán ở Tiểu học.
- Khảo sát thực trạng việc sử dụng trò chơi toán học trong thực tiễn
dạy học toán ở cỏc lớp đầu cấp Tiểu học.

nhận thức, thực trạng sử dụng trò chơi toán học, nguyên nhân và những giải
pháp cho thực trạng Êy.
Phỏng vấn học sinh để tìm hiểu sự hứng thó của học sinh đối với trò
chơi học tập nói chung và trò chơi toán học nói riêng.
- Thử nghiệm sư phạm: Thử nghiệm một số tiết học có sử dụng trò
chơi theo đúng cách thức đã đề ra để chứng minh tính đúng đắn của giả
thuyết khoa học.
6.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dông một số công thức thống kê toán học để xử lí kết quả điều tra
thực trạng và kết quả thử nghiệm.
7. Giả thuyết khoa học
Trò chơi học tập là trò chơi có mục đích học tập rõ rệt. Trong
khi chơi các trò chơi này, học sinh sẽ tiếp nhận và thực hiện các nhiệm
vụ học tập một cách nhẹ nhàng, thoải mái. NÕu ta lùa chọn, thiết kế
được các trò chơi toán học hấp dẫn để sử dụng hợp lí trong dạy học
5
thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy- học môn toán ở cỏc lớp đầu
cấp Tiểu học.
8. Đóng góp của đề tài
ĐÒ tài hoàn thành sẽ cú cỏc trò chơi toán học phù hợp với các
líp 1, 2, 3 và đề xuất cách sử dụng chúng, góp phần đổi mới phương
pháp dạy học, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
học sinh.
6
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Các trò chơi toán học và phương pháp tổ chức trong dạy
học toán cỏc líp đầu cấp Tiểu học

Mặc dù vậy, trí nhớ không chủ định vẫn tồn tại và có ý nghĩa nhất định tạo
nên hiệu quả trong trí nhớ của trẻ. Dạy học sẽ đạt hiệu quả tối ưu nếu
những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, qui tắc ứng xử được học sinh lĩnh hội một
cách nhẹ nhàng, hấp dẫn. Học tập thông qua trò chơi sẽ giúp học sinh ghi
nhớ dễ dàng và bền vững hơn.
Chó ý của học sinh Tiểu học còn nặng tính không chủ định, những
kích thích mạnh và mới lạ dễ thu hót sự chú ý của học sinh. Cùng với sự
hoàn thiện hoạt động học, chú ý có chủ định cũng phát triển ngày càng
mạnh hơn. Việc cho trẻ học dưới hình thức chơi với những trò chơi học tập
sôi nổi cũng là một cách để tăng cường sự chú ý của học sinh.
Tưởng tượng của trẻ trong thời kỳ này chủ yếu là tưởng tượng tái
tạo. Để lĩnh hội tri thức, học sinh phải hình dung được những hình ảnh của
hiện thực (Hình ảnh các nhân vật trong truyện, hình ảnh các cảnh vật chưa
từng thấy ), dùa vào mô hình, tranh vẽ, lời mô tả của giáo viên. Ở líp 1, 2
tưởng tượng tái tạo của học sinh còn nghèo nàn, tản mạn chưa hợp lí, lờn
lớp 3, khả năng tưởng tượng của trẻ tốt hơn. Việc tổ chức trò chơi học tập
là một trong những cách thức kích thích trí tưởng tượng của các em. Trong
khi chơi, tưởng tượng tái tạo và tưởng tượng sáng tạo của các em đều được
phát triển tốt.
Tư duy của trẻ Tiểu học cũng có sự phát triển. Việc giảng dạy ở
trường Tiểu học làm thay đổi cơ bản về nội dung tri thức mà trẻ tiếp thu và
phương pháp vận dụng các tri thức đó của trẻ. Điều này dẫn tới chỗ xây
dựng lại hoạt động tư duy của trẻ. Việc nắm vững kiến thức mẹ đẻ như đọc,
viết cũng như việc nắm các chữ số và các phép tính số học đó cú một vai trò
rất to lớn. Các em học sinh líp 1 làm quen với các ký hiệu, các tượng trưng,
các qui ước: chữ cái - kí hiệu của âm, chữ số - kớ hiệu của số và số lượng
những cái gì đó. Tất cả mọi thao tác với các loại ký hiệu Êy đòi hỏi sự
trừu tượng hóa, sù lập luận và khái quát. Trong quá trình lĩnh hội các qui
9
tắc chính tả và số học luôn luôn diễn ra sự cụ thể hóa các qui tắc đó

tập, biết thể hiện sự hài lòng hay không hài lòng với những điểm số của
mình. Ở lứa tuổi này trẻ rất ham hiểu biết, thích khám phá để tìm cái mới lạ
trong thế giới tự nhiên và xã hội gần gũi xung quanh. Các em luôn miệng
hỏi người lớn vì sao thế này, tại sao thế kia v.v Tình cảm đạo đức và tình
cảm thẩm mĩ cũng được thể hiện khá rõ nét thông qua tình cảm bạn bè, tình
cảm thầy trò, tình cảm tập thể, tình cảm ham thích cái đẹp Việc tổ chức
tốt đời sống và hoạt động tập thể cho học sinh tiểu học là điều kiện quan
trọng để hình thành và phát triển nhân cách cho các em.
Ý chí của học sinh tiểu học cũng đang hình thành và phát triển, tuy
nhiên những phẩm chất ý chí của các em như tính kiềm chế, độc lập, tự
chủ, tính kiên trì còn yếu. Các em chưa đủ khả năng theo đuổi lâu dài mục
đích đã đề ra, chưa kiên trì khắc phục khó khăn và trở ngại. Khi gặp thất
bại cho các em có thể mất lòng tin và sức lực và khả năng của mình.
Tính cách của học sinh đầu cấp Tiểu học mới chỉ được hình thành,
ở các em những nét tính cách tèt như tính ham hiểu biết, tính hồn nhiên,
tính chân thực, tính bắt chước Điểm nổi bật nhất trong tính cách của các
em là tính xung đột - khuynh hướng hành động ngay tức khắc do ảnh
hưởng của các kích thích trực tiếp trong tính cách của các em có nhiều mâu
thuẫn và chưa bền vững.
Tóm lại, ở lứa tuổi này dưới ảnh hưởng chủ đạo của việc giảng dạy,
việc giáo dục của nhà trường, gia đình, xã hội và tổ chức đoàn - đội, sự phát
triển tõm lớ, nhân cách của các em đang diễn ra mạnh mẽ. Việc tổ chức các
trò chơi học tập cho trẻ cũng là con đường hình thành và phát triển nhân
cách của các em.
1.1.3. Hoạt động học tập của học sinh
11
Theo quy định hiện nay, học sinh tiểu học là những trẻ em học cỏc lớp
từ líp 1 đến líp 5 (trẻ em từ độ tuổi 6 đến 14 tuổi).
"Trẻ ở giai đoạn phát triển cấp Tiểu học có thể phân chia thành hai
giai đoạn nhỏ bởi sự khác nhau về trình độ hình thành và hoạt động học và

hoạt động học, mỗi em làm việc theo sự tổ chức, hướng dẫn của thầy cô giáo
để lĩnh hội tri thức trên cơ sở đó hình thành kĩ năng, kĩ xảo cần thiết. Nhờ
vậy mà trí tuệ của các em phát triển, tâm hồn của các em phong phú dần lên.
Trong hoạt động học, các em thực hiện nhiệm vụ học tập bằng các hành
động học với các thao tác tương ứng để có được sản phẩm học tập của
mỡnh. Đú cũng chính là quá trình các em tự biến đổi mình (quỏ trình phát
triển).
Hoạt động học ở Tiểu học được cụ thể hóa ở nội dung học tập. Đó là
hệ thống những khái niệm khoa học tuy còn rời rạc ở các môn học song đã
được lùa chọn theo những nguyên tắc nhất định phù hợp với mục tiêu giáo
dục. Học sinh lĩnh hội nội dung học tập bằng hoạt động học với các thành
tố như động cơ học, nhiệm vụ học và các hoạt động học. Động cơ học tập
của học sinh là yếu tố tõm lớ tạo động lực thúc đẩy học sinh tích cực học
tập. Đó là cái mà vỡ nú nờn trẻ học. Có nhiều động cơ học tập khác nhau
tạo nên hệ thống thứ bậc động cơ của học sinh tiểu học: Các em có thể
học vì muốn được hiểu biết, vì vui, vì muốn được điểm tốt muốn được cha
mẹ khen Trong hệ thống thứ bậc động cơ Êy, những động cơ mang tính
xúc cảm thường có tác dụng mạnh mẽ. Nhiệm vô học tập là hình thức cụ
thể nội dung học thành mục đích và phương tiện đạt mục đích đó trong
dòng hoạt động học của học sinh từng líp. Nhờ có động cơ học tập trẻ mới
giải quyết được các nhiệm vụ học tập dưới sự tổ chức hướng dẫn của thầy
cô bằng các hành động học. Việc dạy học chính là làm cho học sinh hiểu
nhiệm vụ học tập và biết cách dùng hành động học để giải quyết các nhiệm
vụ Êy. Để học sinh học tập có hiệu quả, cần hình thành và phát triển hoạt
13
động học với cả ba thành tố trên trong đó động cơ tạo nên động lực học là
một thành tố quan trọng trong cấu trúc hoạt động học của trẻ. Như vậy ở
Tiểu học điều quan trọng đầu tiên là làm thế nào để phát triển ở trẻ hứng
thó nhận thức bền vững, trẻ ham thích say mê học tập? Con đường hình
thành động cơ học tập đúng đắn nhất là con đường xuất phát từ việc dạy

mạch kiến thức sau đây:
1. Số học
2. Đại lượng và phép đo đại lượng
3. Yếu tố hình học
4. Giải toán có lời văn
5. Các yếu tố thống kê
1.2.2.1. Số học
*Líp 1:
- Nhận biết quan hệ số lượng (nhiều hơn, Ýt hơn, bằng nhau).
- Đọc, đếm, viết, so sánh các số đến 100; giới thiệu hàng chục, hàng
đơn vị; giới thiệu tia sè.
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về phép cộng, phép trừ và mối quan hệ
giữa chúng; dạy bảng cộng, bảng trừ trong phạm vi 10; sử dụng bảng cộng,
trừ trong phạm vi 10 để thực hành cộng, trừ không nhớ trong phạm vi 100
(tính nhẩm và tính viết).
- Tính giá trị biểu thức sè có đến hai dấu phép tính cộng, trừ (các
trường hợp đơn giản).
*Líp 2:
- Đọc, đếm, viết, so, sỏnh cỏc số có 3 chữ số; giới thiệu hàng đơn vị,
hàng chục, hàng trăm
- Dạy bảng cộng và bảng trừ trong phạm vi 20. Thực hành phép cộng,
trừ có nhớ một lần trong phạm vi 100 và cộng trừ không nhớ các số có đến
15
3 chữ số (tính nhẩm và tính viết); giới thiệu tên gọi thành phần và kết quả
của phép cộng, phép trừ.
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về phép nhân, phép chia; thừa số và
tích; số bị chia, sè chia và thương.
- Lập bảng nhân, chia 2, 3, 4, 5. Nhân, chia nhẩm trong phạm vi các
bảng tớnh. Nhõn, chia có đến 2 chữ số với số có 1 chữ số không nhớ.
- Tính giá trị biểu thức số có đến 2 dấu phép tính cộng, trừ hoặc nhân, chia.

- Giới thiệu đơn vị đo độ dài (đờximet, một, kilụmet, milimet); đơn vị
đo dung tích (lít); đơn vịđo khối lượng (kilụgam); đơn vị đo thời gian (giờ,
tháng); thực hành đọc lịch hàng ngày, đọc giờ đỳng và đọc giê khi kim
phót chỉ vào số 3 và số 6; giới thiệu tiền Việt Nam.
- Đọc, viết, làm tính theo các đơn vị đo. Tập chuyển đổi, đong, đo…
và ước lượng theo các đơn vị được học.
*Líp 3:
- Bổ xung và lập bảng các đơn vị đo độ dài. Nêu mối quan hệ giữa 2
đơn vị đo tiếp liền nhau. Thực hành đo và ước lượng độ dài.
- Giới thiệu diện tích của 1 hình và đơn vị đo diện tích cm
2
.
- Giới thiệu gam. Đọc, viết, làm tính với các số đo theo đơn vị gam.
- Đơn vị đo thời gian: ngày, tháng, năm. Thực hành xem lịch; phút,
giờ; thực hành xem đồng hồ chính xác đến phót.
- Giới thiệu tiếp về tiền Việt Nam (đến mệnh giá 100.000). Tập đổi tiền.
1.2.2.3. Các yếu tố hình học
*Líp 1:
- Nhận dạng bước đầu về hình vuông, hình tam giác, hình tròn. Giới
thiệu về điểm; điểm ở trong, ở ngoài của 1 hình; đoạn thẳng. Thực hành vẽ
đoạn thẳng, vẽ hình trên giấy ô vuông, gấp, ghộp…hỡnh.
17
*Líp 2:
- Giới thiệu về: đường thẳng, 3 điểm thẳng hàng, đường gấp khúc,
hình chữ nhật, hình tứ giác, vẽ hình trên giấy ô vuông.
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về chu vi một số hình đơn giản.
- Tính độ dài đường gấp khúc, hình tam giác, hình tứ giác.
*Líp 3:
- Giới thiệu góc vuông, góc không vuông, ờke. Vẽ góc bằng thước
thẳng và ờke.

nó đặc biệt quan trọng đối với sù phát triển tâm lý trẻ em. "Không chơi
trẻ không thể phát triển, không chơi đứa trẻ chỉ tồn tại chứ không phải là
đang sống. Đó là một thực tế mang tính quy luật" [24,5]. Song chơi
không phải là sự giải phóng "năng lượng dư thừa" như F.Sillen và
G.Spencer quan niệm, chơi cũng không phải là hành vi bản năng sinh
học như SFreud tưởng, mà chơi của trẻ mang bản chất xã hội.
Theo Đ. B. Elkụnin đã nghiên cứu lịch sử phát triển trò chơi trong mối
liên hệ với sự phát triển của xã hội loài người và sự thay đổi vị trí của trẻ
trong hệ thống những mối quan hệ xã hội. “Lịch sử phát triển trò chơi gắn
liền trong mối quan hệ với sự phát triển của xã hội loài người và sự thay
đổi vị trí của trẻ trong hệ thống những mối quan hệ xã hội". Ông cho rằng,
nhu cầu và ham muốn hiểu biết về thế giới xung quanh chính là nguồn gốc,
động lực giúp trẻ tích cực hoạt động trong trò chơi.
Dựa trên quan điểm Macxit, các nhà khoa học xô viết cũng đã khẳng
định rằng, trò chơi có nguồn gốc từ lao động và mang bản chất xã hội. Trò
chơi được truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác chủ yếu bằng con
19
đường giáo dục.
1.3.1.2. Đặc điểm của trò chơi trong quá trình giáo dục
Trò chơi của trẻ em rất đa dạng và phong phú về nội dung, tính chất
cũng như cách thức tổ chức chơi. Mỗi loại trò chơi đều mang tính chất
riêng biệt của mình. Nhiều công trình khoa học trong nước và ngoài nước
đã nghiên cứu và cho thấy hoạt động trò chơi ở trẻ em thường mang một số
đặc điểm chung sau:
- Động cơ của trò chơi không nằm ở kết quả mà nằm ở ngay trong bản
thân hành động chơi. Trong trò chơi, trẻ em không bị phụ thuộc vào nhu cầu
thực tiễn, trẻ chơi xuất phát từ nhu cầu và hứng thó trực tiếp của bản thân.
"Trẻ chơi chỉ cốt cho vui, có vui thì mới chơi và đã chơi là phải vui" [24,9]
- Trò chơi là một hoạt động tự nguyện, một hoạt động mang tính tự
do Trẻ chơi xuất phát từ nguyện vọng và hứng thó cá nhân không có sự

trẻ hiểu được các mối quan hệ, các cách ứng xử thông qua trò chơi.
Trong quá trình chơi để mô phỏng lại cuộc sống và thực hiện đúng
luật chơi các em phải tập trung chó ý, huy động năng lượng thần kinh, bắp
thịt một cách thực sự nghĩa là các em sống thực sự và phát triển thực sự.
- Chơi là dịp tốt để các em tìm hiểu thế giới xung quanh, qua đó kích
thích tính tò mò, óc quan sát, năng lực phán đoán, tư duy. Các tình huống
nảy sinh trong khi chơi buộc trẻ phải động não suy nghĩ. Đú chớnh là cơ
hội để trẻ được rèn luyện trí tuệ làm nảy sinh nhiều sáng kiến, mầm mèng
của sáng tạo sau này.
- Trò chơi sẽ mang lại cho trẻ những giõy phút hạnh phóc nhất của tuổi
thơ bởi trẻ được thả sức mơ ước tưởng tượng những gì mà chỳng thớch,
chỳng yờu.
21
- Những phẩm chất ý chí của trẻ như tính dũng cảm, lũng kiờn trỡ…
đều được hình thành trong trò chơi. Trò chơi giúp trẻ có ý thức kỷ luật cao
và trò chơi cũng là phương tiện thẩm mĩ có hiệu quả.
Như vậy trò chơi có một ý nghĩa rất lớn trong quá trình giáo dục, cho
nên nhiều nhà giáo dục đã gọi “trò chơi là trường học của cuộc
sống”[24,35]. Trò chơi nuôi dưỡng tâm hồn trẻ mà không cú gỡ thay thế
được.
1.3.1.4 Mét số loại trò chơi
Trò chơi của trẻ em rất đa dạng, rất phong phú về nội dung cũng như
cách thức chơi. Có thể nêu một số loại trò chơi sau:
- Trò chơi với đồ vật:
Đối với trẻ em, mọi đồ vật xung quanh chúng như các mảnh nhựa,
mảnh gỗ, các hình khối đều trở thành đồ chơi của trẻ hay ngay cả những đồ
chơi chuyển động như máy bay, ụtụ… cũng được các em rất yêu thích. Qua
việc chơi với các đồ chơi này trẻ sẽ tập nhận biết các đồ vật, các màu sắc,
các vật thể hình học, tìm hiểu thế giới xung quanh. Tập xây dựng và tạo
nên các hình khối theo mẫu hoặc theo trí tưởng tượng của chúng. Rèn

Chơi là một hoạt động không thể thiếu được của con người ở mọi lứa
tuổi. Chơi giúp cho trẻ phát triển. Trò chơi học tập là loại trò chơi có nội
dung tri thức gắn với hoạt động học tập của học sinh và gắn với nội dung
bài học. Trò chơi học tập giúp học sinh khai thác vốn kinh nghiệm của bản
thân để chơi và để học. Trò chơi học tập có tác dụng cả về mặt rèn luyện trí
tuệ lẫn thể chất và các phẩm chất đạo đức.
* Trò chơi học tập có những đặc điểm sau:
23
- Trò chơi học tập được quy định rõ ràng bởi luật chơi, do người lớn
nghĩ ra và nhằm mục đích giáo dục, phát triển trí tuệ, nhân cách.
- Tên gọi của mỗi trò chơi học tập thường phản ánh nội dung chơi và
khơi dậy hứng thó của trẻ với trò chơi.
- Trong trò chơi học tập, vị thế của mọi trẻ tham gia trò chơi đều nh nhau.
- Các hoạt động và mối quan hệ của những người chơi được chỉ đạo
bởi các luật lệ của trò chơi học tập.
- Trò chơi học tập được tổ chức để dạy học và nhằm mục đích huy
động trí óc của trẻ làm việc thực sự trong khi giải quyết nhiệm vụ nhận
thức, phát triển trí thông minh tư duy của trẻ.
- Trò chơi học tập có cấu trúc chặt chẽ gồm những yếu tố: Nhiệm vụ
chơi, hành động chơi, luật chơi.
• Nhiệm vụ chơi hay còn gọi là nhiệm vụ nhận thức là nét đặc trưng
của trò chơi học tập. Đõy chớnh là nội dung có tính chất nh mét bài toán
mà học sinh phải giải dựa trờn cỏc điều kiện đã cho. Nhiệm vụ chơi khêu
gợi hứng thó của học sinh, kích thích tính tích cực và nguyện vọng chơi của
trẻ. Mỗi một trò chơi học tập có một nhiệm vụ nhận thức của mỡnh, chớnh
điều đó làm trò chơi này khác với trò chơi kia.
• Hành động chơi chính là những động tác học sinh phải làm trong lúc
chơi và nó thành phần quan trọng của trò chơi học tập “các hành động chơi
là thành phần chính của trò chơi học tập ,thiếu chỳng thỡ không còn là trò
chơi nữa.Cỏc hoạt động chơi như là họa tiết của chủ đề chơi”[12]. Hành

trong cuộc sống, rèn luyện tính kỷ luật, ý thức trách nhiệm góp phần hoàn
thiện nhân cách học sinh.
Thông qua trò chơi học tập các em sẽ có những hiểu biết nhất định về
thế giới xung quanh nói chung, con người nói riêng từ đó hình thành ở học
sinh nhu cầu muốn tác động đến thế giới đó như người lớn.
25

Trích đoạn Trũ chơi "Làm theo hiệu lệnh" Trũ chơi "Xếp đỳng thứ tự" Nguyờn tắc tổ chức trũ chơ Biện phỏp lựa chọn trũ chơi toỏn học Quy trỡnh tổ chức trũ chơi toỏn học
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status