tiểu luận đai học sư phạm Tìm hiểu về nghệ thuật tranh lụa Việt Nam - Pdf 26

Bài điều kiện Lịch sử mỹ thuật Việt Nam
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong kho tàng mĩ thuật Việt Nam, bên cạnh cỏc dũng tranh dân gian
như tranh Đông Hồ, tranh hàng Trống thì tranh lụa là một thể loại mang đậm
bản sắc và dấu ấn dân tộc hơn cả. Xuất phát từ sự yêu thích đối với một loại
hình nghệ thuật đặc sắc của dân tộc cùng với mong muốn tìm hiểu khám phá
về tranh lụa Việt Nam, tụi đã chọn đề tài: “Tỡm hiểu về nghệ thuật tranh lụa
Việt Nam”.
Đinh Thị Thanh Hương - K55B VNH Trường ĐHSP Hà
Nội
1
Bài điều kiện Lịch sử mỹ thuật Việt Nam
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
TRANH LỤA VIỆT NAM – QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN
VÀ CÁC KĨ THUẬT VẼ CƠ BẢN
1. Quá trình hình thành, phát triển của tranh lụa Việt Nam
1.1. Sự ra đời của tranh lụa
Tranh lụa đã có mặt ở Việt Nam từ lâu đời . Ở thời kì đó, những người
làm bộ môn mỹ thuật này đều không được đào tạo qua trường lớp nào cả,
những gì họ biết được chỉ là sự tiếp thu kinh nghiệm từ thế hệ này qua thế hệ
khác, hay nói cách khác, đó là sự truyền nghề. Các nghệ nhân xưa đã để lại
một di sản quớ bỏu, mang tính dân tộc đậm đà, đú chớnh là cơ sở cho sự phát
triển của tranh lụa sau này. Tuy vậy, tranh lụa xưa còn để lại đến nay quá ít
ỏi. Hiện nay, chúng ta còn bức “Chõn dung Nguyễn Trãi” (Bảo tàng Lịch sử)
và “Chân dung Phùng Khắc Khoan” (nhà thờ Trạng Bùng, Thạch Thất). Qua
những bức tranh lụa cổ của nước ta còn để lại đến nay các nhà nghiên cứu đã
thấy có hai lối vẽ khác biệt nhau, tiêu biểu là ở hai bức chân dung Nguyễn
Trãi và chân dung Phùng Khắc Khoan. Bức chân dung Nguyễn Trãi vẽ nét
cách điệu, màu sắc tế nhị, có sự hòa sắc điêu luyện, nhiều đường cong có suy
tính theo những công thức nhất định, màu vẽ nhuyễn vào lụa, kĩ thuật từng

Thứ, Lê Thị Lựu, Lê Phổ với khuynh hướng thiên về tìm tòi những mảng
màu đơn giản, tìm phối sắc trong mảnh hình, thường dùng màu nâu, đen, màu
sáng là màu của lụa.
Kết quả bước đầu trong việc mở đường cho nghệ thuật tranh lụa Việt
Nam của các sinh viên trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương được khẳng
định tại cuộc triển lãm thuộc địa năm 1931, tranh lụa Việt Nam đã ra mắt
công chúng châu Âu với những tác phẩm của Nguyễn Phan Chánh, Trần
Phềnh, Nguyễn Nam Sơn, Tô Ngọc Võn… Trong đó, bức “Chơi ô ăn quan”
của Nguyễn Phan Chánh được đánh giá “như một tác phẩm có giá trị nghệ
Đinh Thị Thanh Hương - K55B VNH Trường ĐHSP Hà
Nội
3
Bài điều kiện Lịch sử mỹ thuật Việt Nam
thuật cao và hiếm lạ, không giống một nước nào”. Thành công này của
Nguyễn Phan Chánh là minh chứng chứng tỏ rằng nghệ thuật vẽ lụa có khả
năng trở thành tiếng nói riêng của hội họa Việt Nam.
1.2. Quá trình phát triển tranh lụa
Kể từ những năm 30 của thế kỉ XX, tranh lụa đã liờn tục có mặt tại các
triển lãm tranh của Việt Nam và trên thế giới. Gần một thế kỉ, nghệ thuật
tranh lụa Việt Nam hiện đại trải qua nhiều bước thăng trầm. Tuy vậy, ta có
thể khái quát quá trình phát triển của tranh lụa Việt nam qua ba giai đoan như
sau:
1.2.1. Tranh lụa trước năm 1945
Đây được coi là giai đoạn mở đầu của nghệ thuật tranh lụa Việt Nam.
Với sự kết hợp chặt chẽ giữa kĩ thuật vẽ của phương Tây và tính chất dân tộc
đậm nét, các họa sĩ đó sỏng tỏc nờn những tác phẩm lụa đầu tiên mang giá trị
nghệ thuật đặc sắc. Những bức tranh: “Chơi ô ăn quan, Lên đồng, Xem
tướng, Em bé chơi chim, Vo gạo” (Nguyễn Phan Chánh); “Về chợ” (1927),
“Người đàn bà chít khăn trắng” (1930), “Trước giờ tế, Mùa xuân ngắm
cảnh, Cha khuyên con, Bến bờ sông Hồng mua bán gạo”(1931-1933)

mới phong cách sáng tác. Màu sắc cũng biến đổi. Cỏch tìm đề tài biểu hiện
nhân vật có chiều hướng tự do cá nhân, biểu hiện bản lĩnh độc đáo của từng
tác giả. Nguyễn Phan Chánh đi vào những khuôn khổ nhỏ, vẽ nhanh hơn. Sau
một số tác phẩm: “Đi chợ, Cô bé rửa khoai, Chăn trõu, Xúm chài, Rước sư
tử, Đi củi về…”, ông không còn giữ được những mảng màu tinh giản như
trước nữa mà bố cục, nét bút đã đi vào những chi tiết rậm rạp, cảm xúc khái
quát về tác phẩm đã giảm sút. Nguyễn Nam Sơn sau các tác phẩm tranh lụa
như: “Cha khuyên con, Chân dung phụ nữ”, thì hầu như thôi hẳn bố cục lớn.
Nguyễn Tường Lân phóng khoáng trong những hòa sắc đầm ấm, đỏ nâu, xanh
lục, chỗ nhòe, chỗ đậm: “Chõn dung cụ Nguyờn, phong cảnh Tre nước trong
làng”…
Đinh Thị Thanh Hương - K55B VNH Trường ĐHSP Hà
Nội
5
Bài điều kiện Lịch sử mỹ thuật Việt Nam
Thế hệ tiếp theo hầu như chuyên vẽ lụa: Trần Văn Cẩn, Lương Xuân
Nhị, Nguyễn Tiến Chung vẫn giữ vững phong cách tả thực với những nền nếp
dân tộc. Lờ Yờn, Nguyễn Đức Nùng, U Văn An, Nguyễn Văn Quế có những
khả năng đa dạng về nghệ thuật lụa. Đề tài chuyển từ sinh hoạt nông thôn ra
thành thị. Những cô gái khỏe mạnh duyên dáng làm ăn trên đồng ruộng đã
chuyển thành những cô gái thành thị ẻo lả. Cách vẽ có phóng khoáng, đa dạng
hơn về hòa sắc và bút pháp nhưng lại tẻ nhạt về cách nhìn. Khung cảnh sinh
hoạt trên tranh đã thu hẹp lại ở một khu vườn, góc nhà, căn buồng, quanh
quẩn nhỡn cỏc góc độ về mấy nhân vật mẫu. Tuy nhiên, họ vẫn tả thực về
phương pháp.
Trong những năm cuối của thời kỳ này, có một dòng vẽ lụa sắc phát
triển đến chỗ bế tắc, xa hẳn hình thù tạo hình. Cái đạt được về chất, về hòa
sắc không đem lại cái hứng thú, đồng cảm với người xem tranh. Đây có thể
xem như là một sự chệch hướng trong quá trình phát triển tranh lụa hiện đại.
1.2.2. Giai đoạn 1945 đến trước đổi mới

tính cách xã hội.
Sau năm 1960, thế hệ trẻ không kém phần hăng say chuyên mụn hóa
về lụa, ta phải kể đến sáng tác của các họa sĩ: Nguyễn Thụ, Thanh Ngọc, Thế
Minh, Mai Long…Đặc biệt là đã xuất hiện nhiều tác giả nữ vẽ tranh lụa như:
Phan Thị Hà với hai bức: “Gió gạo nuụi quõn, kiểm tra vải”; Minh phương
với: “Tuốt lúa ngày mùa, Thanh niên miền núi”; và các tác giả nữ khác:
Nguyễn Thị Phúc, Nguyễn Thị Thùy, Hoàng Minh Hằng… đều có tác phẩm
tốt.
Tuy nhiên, có một thực tế rằng thời kỳ này tranh lụa đã không phát
triển kịp so với tranh sơn dầu, sơn mài và có khuynh hướng thiên về nghiên
cứu hoặc chỉ dùng vào việc xuất khẩu. Một lý do của việc tranh lụa chậm phát
triển tiến lên là do tranh lụa kém bền vững, khó bảo quản nờn các họa sĩ vẽ
Đinh Thị Thanh Hương - K55B VNH Trường ĐHSP Hà
Nội
7
Bài điều kiện Lịch sử mỹ thuật Việt Nam
lụa ít bỏ công vào sáng tác. Sau năm 1975, các họa sĩ vẽ tranh lụa ngày càng
đông, người ta nhận thấy có nhiều dấu hiệu cách tân đáng mừng.
1.2.3. Giai đoạn từ đổi mới đến nay
Trong một bài nói chuyện, họa sĩ Đỗ Đức có một nhận xét rất vui rằng
“Cỏc họa sĩ Việt Nam từ sau đổi mới giống như con dao pha, mỗi chất liệu
đụng vào một tí, nhưng chẳng mấy người chuyờn sõu vào chất liệu nào cả
đời”. Nhận xét này đặc biệt đúng với tranh lụa, một thể loại dễ mà khó. Sau
họa sĩ Nguyễn Phan Chánh, không có một họa sĩ nào chuyờn sõu vào vẽ tranh
lụa, mặc dù ai cũng “chấm” vào nó một chút, họa sĩ nào cũng từng thử vẽ lụa,
có một vài bức kỉ niệm rồi lại buông.
Những năm sau đổi mới, do nhu cầu của thị trường, nhiều họa sĩ lao
vào vẽ lụa nhưng đó là cuộc vận động tự phát của thị trường. Vào thời điểm
tạm coi là vàng son đó, đã nảy ra những “sỏng tạo” như dùng bột màu trát lên
lụa không rửa, dùng tempera cho chảy nhớt lên mặt lụa. Lối làm cách tân xa

Xuân Oanh (Sơn La), là những họa sĩ ở xa Hà Nội nhưng họ thật sự cứng cỏi
về tay nghề. Còn một loạt tác giả trẻ khác cũng đầy hứa hẹn như Ngô Thị
Bích Hạnh, Quan Thị Phong, Trần Thị Phương Liên, Yến Nguyệt, Phạm
Thanh Võn…Tất cả đều khá vững chãi tự tin trong chất liệu.
Như vậy, có thể coi Triển lãm chuyên đề lụa toàn quốc 2007 đã làm
được nhiều điều. Trước hết, đó là sự mở đầu một chặng đường mới của tranh
lụa Việt Nam sau một thời gian dài vắng bóng. Thứ hai, đây là sự khích lệ,
động viên đối với các họa sĩ, chứng tỏ sự quan tâm của Vụ Mĩ thuật và Nhiếp
ảnh, Bộ văn hóa – thể thao và du lịch đối với một chất liệu tưởng như đã bị
phai tàn. Hi vọng rằng trong tương lai, nghệ thuật tranh lụa Việt Nam sẽ gặt
hái được nhiều thành công hơn nữa và sẽ ươm nở được nhiều tài năng vẽ lụa
hơn nữa để tranh lụa Việt Nam thực sự có chỗ đứng vững chãi trong làng
nghệ thuật trong nước cũng như quốc tế.
2. Kỹ thuật vẽ tranh lụa
Đinh Thị Thanh Hương - K55B VNH Trường ĐHSP Hà
Nội
9
Bài điều kiện Lịch sử mỹ thuật Việt Nam
2.1. Chất liệu, dụng cụ dùng để vẽ tranh lụa
2.1.1. Lụa vẽ
“Nền lụa” là cái gốc, là cơ sở cho sự ra đời của nghệ thuật vẽ tranh lụa.
Có thể nói rằng để có một bức tranh lụa đẹp thỡ khõu chọn lụa nền cũng phải
rất cẩn thận và yêu cầu sự tỉ mỉ, tinh tế bởi lụa là chất liệu khá “kĩ tớnh”.
Có nhiều loại lụa vẽ, mỗi loại lụa do cách dệt thưa mau khác nhau hoặc
sợi lụa to nhỏ thay đổi tạo ra các thớ lụa khác nhau: mịn màng óng ả hay thô
khỏe. Tùy vào từng loại lụa mà khi vẽ cho những hiệu quả không giống nhau.
Nắm vững tính chất của từng loại lụa giỳp cỏc họa sĩ cú cỏch xử lý linh hoạt
và đạt hiệu quả cao nhất trong tác phẩm của mình.
Lụa tơ tằm là loại lụa thấm màu rất tốt, dễ sử dụng hơn là lụa trộn tơ
nhân tạo. Lụa tơ tằm thớ mịn hoặc hơi thô, có thể dệt thủ công hoặc dệt bằng

lượng mầu nước nhiều hơn loại bút lông dẹt.
Loại bút lông tròn thường dùng để vẽ nét và có thể vẽ cả những mảng
màu.
Họa sĩ cũng có thể sử dụng bút vẽ sơn dầu hoặc bột màu, thậm chí cả
những bỳt đó mũn lụng để cọ những đoạn nhỏ cần sửa chữa làm cho mềm đi.
2.1.5. Khung căng lụa
Do kĩ thuật vẽ tranh lụa của Việt Nam là “nhuộm lụa”, nghĩa là lụa vẽ
xong một lớp màu rồi lại đem ra rửa nước làm cho cặn màu trôi đi, rồi lại tiếp
tục vẽ, lại rửa lụa và vẽ tiếp cho tới khi đạt đọ như ý. Do đó, nhất thiết phải
dùng khung để căng lụa trước khi vẽ.
Khung căng lụa không cần quá dầy vì lụa mỏng manh không cần căng
mạnh. Gỗ làm khung căng lụa cần hơi mềm để có thể cắm đinh vào dễ dàng.
Mặt gỗ của khung phía giáp với mặt lụa cần bào nghiờng vỏt đi 45 độ để
tránh khi lụa gặp nước, chùng xuống không bị dính vào mặt khung quá nhiều.
Đinh Thị Thanh Hương - K55B VNH Trường ĐHSP Hà
Nội
11
Bài điều kiện Lịch sử mỹ thuật Việt Nam
Căng lụa lên khung có thể dùng hồ dớnh dỏn lụa vào thành khung hoặc dùng
đinh dệp.
2.2. Kỹ thuật vẽ tranh lụa
Về kỹ thuật vẽ tranh lụa, điểm khác biệt nhất giữa kỹ thuật vẽ
tranh lụa cổ và tranh lụa hiện đại Việt Nam là ở chỗ: tranh lụa cổ
thường được vẽ trực tiếp trên nền lụa khô trong khi quá trình vẽ
tranh lụa hiện đại giống như sự nhuộm đi nhuộm lại màu lên mặt
lụa.
Lụa trước khi vẽ phải căng lên khung gỗ. Thông thường, lụa mới được
quét một lớp hồ loãng, người vẽ nên rửa qua lớp hồ này để màu có thể ngấm
vào thớ lụa. Nếu lụa hút nhiều nước như lụa Trung Quốc thỡ nờn quột một
lớp hồ loãng lên trên, có pha lẫn một ít phèn chua để chống mốc.

co rất nhiều họa sĩ vẽ tranh lụa. Tuy nhiên, không thể phủ nhận một điều rằng
chuyờn sõu về nghệ thuật tranh lụa ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa ai vượt qua
được cụ Chánh. Theo chính kiến của giới hội họa ở Việt Nam, vẽ tranh lụa có
3 bậc thầy: “Nguyễn Phan Chánh vẽ nhiều đề tài, Nguyễn Thụ nghiêng về
cảnh và người miền cao, Trần Đông Lương chỉ có mảnh đất dành cho chân
dung các thiếu nữ Hà Nội”. Phong cách của các nghệ sĩ này rất khác nhau.
Nhưng họ đều thành công. Có thể coi họ là ba trong số những đại diện tiêu
biểu nhất của nghệ thuật tranh lụa Việt Nam.
1. Họa sĩ Nguyễn Phan Chánh
1.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
Họa sĩ Nguyễn Phan Chánh là một tên tuổi quen thuộc luôn được
những người say mê hội họa nhắc đến với một niềm cảm phục và sự trân
trọng đặc biệt. Ông là người mở đường cho tranh lụa Việt Nam. Đánh giá về
tài năng nghệ thuật Nguyễn Phan Chánh, họa sĩ Trịnh Cung cho rằng:
Đinh Thị Thanh Hương - K55B VNH Trường ĐHSP Hà
Nội
13
Bài điều kiện Lịch sử mỹ thuật Việt Nam
“Nguyễn Phan Chánh là người đã tạo ra diện mạo tranh lụa Việt Nam không
lẫn bất kỳ một phong cách nào đối với các nước có nền tranh lụa lớn như
Trung Hoa và Nhật Bản…”.
Nguyễn Phan Chánh (1892 - 1984), bút hiệu Hồng Nam, quê ở Thạch
Hà, Hà Tĩnh. Từ nhỏ Nguyễn Phan Chỏnh đó được gia đình cho theo học chữ
nho và nghệ thuật thư pháp nờn ụng sớm làm quen với cây bút lông. Năm
1922, ông tốt nghiệp trường Cao đẳng sư phạm Đông Ba Huế nhưng không
theo nghề dạy học. Năm 1925, Nguyễn Phan Chánh vào học ở trường Cao
đẳng Mĩ thuật Đông Dương. Ông cựng cỏc bạn học được đào tạo một cách
bài bản theo chương trình mĩ thuật của phương Tây về kĩ thuật và phương
pháp tạo hình, lại được khuyến khích sáng tạo nghệ thuật theo nội dung, quan
niệm thẩm mĩ của phương Đông dựa trên chất liệu lụa. Và cậu học trò

tác phẩm: “Trăng tỏ” (1970), “Trăng lu, Tối cho con bỳ, Tiờn Dung” (1972),
“Kiều tắm” (1973)…ta có cảm giác họa sĩ chuyển đến một thế giới ước mơ
của mình về cái đẹp. Có lẽ Nguyễn Phan Chánh chưa bao giờ trẻ trung, sung
sức đến vậy.
Với những đóng góp to lớn và mang tính tiên phong của ông trong lịch
sử mĩ thuật nước ta nói chung và cho tranh lụa Việt Nam nói riêng, năm 1966,
ụng đó vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.
1.2. Một số sáng tác tiêu biểu
* Bức tranh “Chơi ô ăn quan” (1931)
Đinh Thị Thanh Hương - K55B VNH Trường ĐHSP Hà
Nội
15
Bài điều kiện Lịch sử mỹ thuật Việt Nam

Chơi ô ăn quan – Nguyễn Phan Chánh
Đây là một trong số những sáng tác đầu tay của Nguyễn Phan Chánh và
đã thu hút được nhiều sự chú ý. Bố cục bức tranh có bốn người chia làm hai
phe: một cô bé khoảng chừng hơn mười tuổi ngồi một phía, còn ba cô ngồi về
phía bên kia. Cách bố cục như vậy làm cho bức tranh không bị rời rạc và
người xem có cảm giác các cô bé rất tập trung, chăm chú vào ô quan khi chơi.
Trong bức tranh cô nhỏ nhất đang đỏnh ụ quan. Cô này ngồi một mình
nên người xem chú ý nhiều hơn, còn ba cô kia ngồi bên phải được nhẹ nhàng,
mặc dầu là ba người. Có thế mới cân đối, không có ấn tượng bên nhẹ, bên
nặng. Người ngồi gần giữa, mặc áo xanh quần trắng về phe cô đang đánh. Về
phe bên này, cô lớn nhất ngồi đầu, chừng mười lăm tuổi, quàng khăn mỏ quạ
và cô chít khăn nõu lú khuất một phần mặt, trạc mười ba, mười bốn tuổi. Cô
đang đỏnh bộ nhất trong bốn cụ nờn khụng chít khăn mà cũng không quàng
khăn mỏ quạ trên đầu, tóc phất phơ. Cô gái ngồi cựng phớa với cô, mặc quần
trắng, chăm chú nhìn tay cô đang đỏnh ụ như đã hội ý với nhau rồi.
Bức tranh cũn thờm cả những "bộng" ô ăn quan, vẽ vào khoảng giữa

trạc ba mươi tuổi, đầu tóc quấn seo gà, hai tay buông xuống, chắp trước ngực
như sẵn sàng chịu lệnh đức Mẫu nhập vào mỡnh nờn vẻ mặt xinh xắn đầy vẻ
tín ngưỡng. Gần hơn cả là người nhiều tuổi nhất, đầu quấn tròn một cái vành
khăn, trông ra vẻ nghiêm nghị lắm, tay cầm nén hương thư vào mặt người lên
đồng. Sau lưng bà ta là một thiếu nữ trạc mười bốn, mười lăm tuổi, cầm quạt,
quạt cho bà đồng. Bức tranh còn có hai liễn câu đối dong thẳng xuống về bên
trái. Như vậy phía bên cô ngồi đồng được chặt chẽ, thẳng thắn hơn, khỏi bị
ngồi một mình lỏng lẻo. Cũng như về phía bên phải bức liễn làm cho phía bên
này thẳng thắn chắc chắn hơn, lại lấp được chỗ trống sau lưng ba người.
Đinh Thị Thanh Hương - K55B VNH Trường ĐHSP Hà
Nội
18
Bài điều kiện Lịch sử mỹ thuật Việt Nam
Về mầu sắc, cô ngồi đồng mặt áo dài màu gụ, là màu phụ nữ thích nhất
lúc bấy giờ, rất hợp với màu đen quần thâm, đặc biệt là bên nách áo có mầu
ngói làm lưng quần nên phân biệt được nếp áo, lưng quần. Cũng nhờ câu liễn
màu hồng đậm bên cạnh mặt cô lên đồng làm nổi hẳn khuôn mặt trắng trẻo
của cụ lờn, thêm nữa trên đầu cô đồng quấn khăn nhiễu cũng hợp với màu áo.
Hai tay cô ngồi đồng chắp lại đằng trước, nên nổi bật được màu trắng nõn của
hai bàn tay. Bà đồng thì màu khăn vàng bịt đầu, màu khăn hồng vắt vai, màu
lục thắt lưng, đều nổi bật lên nhờ màu áo xanh đậm bà mặc. Còn em cầm
quạt, vì em đang còn nhỏ tuổi nên mặt áo nâu non ngắn, quần trắng, làm tươi
hẳn lên. Bức tranh không bị ảnh hưởng do màu áo của bà đồng mà trái lại,
màu áo nâu non và quần trắng lại rất hòa hợp với màu xanh đậm này.
* Bức tranh “Rạng sáng cho con bỳ” (1970)
Rạng sáng cho con bú – Nguyễn Phan Chánh
Đinh Thị Thanh Hương - K55B VNH Trường ĐHSP Hà
Nội
19
Bài điều kiện Lịch sử mỹ thuật Việt Nam

Làng quê nơi ông sinh ra là nơi thờ ngài Lý Phục Man, nơi đõy luụn nghi
ngút khói hương và thường diễn ra những cảnh tế lễ, rước hội làng.
Tranh của Nguyễn Thụ có một phong cách riêng biệt. Bố cục tranh của
ông đơn giản, nhịp nhàng, màu sắc mát mẻ êm dịu, bỳt pháp phóng khoáng,
nhẹ nhàng, không gian mờ ảo thơ mộng với những nhân vật bình dị, thân
quen. Tranh lụa của ông óng ả mềm mại, thớ lụa rõ ràng, nhìn tranh cảm
tưởng như có một lớp nước rất mỏng bao phủ bề mặt tạo nên cái chất trong
trẻo dịu dàng. Đối với ông, tranh lụa phải mang lại cảm giác thanh thoát như
một điều kiện tiên quyết. Thông qua khả năng quan sát nhạy bén, trí tưởng
tượng, tư duy và kỹ năng trang trí và nhất là một quyền tự do riêng biệt, ụng
đó vẽ nên nhiều bức tranh lụa hiện thực vô cùng trữ tình như: “Mưa, Làng
ven núi, Bác Hồ đi công tác, Cụ gỏi Thái, Ghé qua bản….”
Nguyễn Thụ có nhiều thể nghiệm về tranh lụa. Gần đây, ông vẽ được
nhiều bức giá trị: “Cấy lúa ở miền núi, Hành quân, Bà mẹ dệt vải” Bút
pháp hoạt bát, mảng màu đằm, mạnh, có sức nặng tạo hình.
Có thể nói, Nguyễn Thụ là người có sự nghiệp sáng tác đáng khích lệ.
Với những đóng góp của mỡnh, ụng đó vinh dự được trao giải thưởng Nhà
nước về Văn hóa nghệ thuật năm 2001.
2.2. Tác phẩm tiêu biểu
* Bức tranh “Ghộ qua bản” (1970)
“Ghộ qua bản” là tác phẩm đặc trưng cho lối thể hiện tranh lụa về
miền núi độc đáo của họa sĩ Nguyễn Thụ.
Đinh Thị Thanh Hương - K55B VNH Trường ĐHSP Hà
Nội
21
Bài điều kiện Lịch sử mỹ thuật Việt Nam
Ghé qua bản – Nguyễn Thụ
Về bố cục, bức tranh vẽ ba ngôi nhà sàn lớn ở vị trí trung tâm, phía
trước là cảnh người và ngựa con đứng, con đi lại, thấp thoáng phía xa xa là
những dãy núi với những nếp nhà nhỏ. Có thể thấy, bố cục tranh rất hài hòa,

sĩ là từ gần đến xa, gần to, xa nhỏ dần. Bức tranh tạo cho người xem một ấn
tượng về cuộc sống sinh hoạt của đồng bào các dân tộc ít người.
3. Họa sĩ Trần Đông Lương
3.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
Họa sĩ Trần Đông Lương (1925 - 1993) sinh ra tại thị xã Sơn Tây (nay là
thành phố Sơn Tây - Hà Nội) nhưng ông sống và làm việc chủ yếu ở Hà
Nội.ễng tham gia cách mạng ở quê rồi làm họa sĩ ở Ty Thông tin Phú Thọ.
Đinh Thị Thanh Hương - K55B VNH Trường ĐHSP Hà
Nội
23
Bài điều kiện Lịch sử mỹ thuật Việt Nam
Năm 1949, ông tham gia hoạt động tại chi hội văn hóa cứu quốc Phú Thọ. Từ
năm 1950 – 1053, ông học tại trường Mĩ thuật Việt Nam “khúa khỏng chiến”.
Trong thời gian này, ụng cú đi thực tế sáng tác ở một số vùng giải phóng và
công tác một thời gian ngắn tại Ty văn hóa Hòa Bình. Cuối năm 1954, Trần
Đông Lương hoạt động tại xưởng họa Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt
Nam. Từ những hoạt động thực tiễn đú đó mang lại cho họa sĩ Trần Đông
Lương một vốn kinh nghiệm dày dặn trong nghệ thuật vẽ tranh lụa.
Trần Đông Lương là một họa sĩ chuyên vẽ tranh lụa. Trong vòng một
năm 1958, ông đã thực hiện ba tác phẩm tiêu biểu bậc nhất cho phong cách
của mình đó là: “Anh hùng lao động – Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch”, “Tổ thờu”
(Hai bức này hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Mĩ thuạt Việt Nam) và bức
“Tuổi xuõn” (Được trưng bày tại Bảo tàng quốc gia nghệ thuật các dân tộc
phương Đông, Cộng hòa Liên bang Nga). Điều đặc biệt ở ông là một khả
năng khác thường trong việc chuyển hóa những hình họa thuần túy được
chuẩn bị công phu trên “giấy” lên “lụa”, nhờ vậy mà chúng ta có những bức
tranh lụa đẹp.
Đánh giá về họa sĩ Trần Đông Lương: “Trong số những họa sĩ trẻ, có
người như Trần Đông Lương theo phương pháp họa sĩ Nguyễn Phan
Chỏnh chuyờn vẽ tranh lụa nhưng với phong cách khác hẳn. Nhờ có vốn

Nội
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status