Tiểu luận cao học môn các chuyên đề kinh tế toàn cầu hóa về kinh tế, vấn đề chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của việt nam và giải pháp chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của ngành y,dược - Pdf 41

MỞ ĐẦU
Với hai từ “hội nhập” và “toàn cầu hóa” dường như đã khái quát được
xu thế phát triển của thế giới từ giai đoạn 1980 đến nay. Xu thế này đã và
đang diễn ra một cách rõ ràng nhanh chóng. Với sự chấm dứt chiến tranh
lạnh, sự sụp đổ của hệ thống Xã Hội Chủ Nghĩa, sự bùng nổ của thị trường tài
chính toàn cầu và sự phát triển mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia…mà
nổi bật là các tổ chức kinh tế như tổ chức WTO…thì dường như toàn cầu hóa
đang là một xu hướng tất yếu và nó đang trở thành một trong những xu hướng
chủ yếu trong quan hệ kinh tế quốc tế hiện nay.
Có rất nhiều ý kiến khác nhau khi đánh giá về quá trình này. Có người
ủng hộ và cổ vũ cho quá trình toàn cầu hóa, xem nó như một giải pháp cứu
cánh của mọi quốc gia. Cũng có người chống lại toàn cầu hóa, xem nó là
nguy cơ đe dọa các quốc gia. Không chỉ ở những nước đang phát triển mới có
cách nhìn nhận như vậy mà ngay cả những nước phát triển như Mỹ và các
nước Châu Âu cũng có hai cách nhìn nhận ngược chiều nhau. Vấn đề là cần
phải nhận thức rõ về xu hướng toàn cầu hóa để từ đó lựa chọn cho mình con
đường đi tốt nhất.
Hiện nay xu hướng toàn cầu hóa ngày càng mở rộng, sự liên hệ phụ
thuộc và ràng buộc lẫn nhau trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế, chính trị,
văn hóa xã hội giữa các nước ngày càng tăng, thì bất cứ một sự đóng cửa,
khép kín của quốc gia, dân tộc nào cũng đều phải trả giá. Quá trình toàn cầu
hóa mang lại nhiều cơ hội và thách thức không thể xem thường đối với các
quốc gia phát triển hay không phát triển, chủ động hay không chủ động, tự
giác hay không tự giác tham gia hội nhập. Làm sao tận dụng được cơ hội,
vượt qua thách thức, thể hiện cất cánh kinh tế.
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm tạo
ra cơ sở vật chất cho thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vì vậy việc nhìn
nhận một cách khách quan về thời cơ, thách thức do toàn cầu hóa mang lại là
rất cần thiết. Trong khuôn khổ bài tiểu luận này.
1


gia mới độc lập hầu như thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch chặt chẽ, các
nước phát triển vừa thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch, vừa mở cửa thị
trường theo các hiệp nghị song phương và khu vực. Hiệu năng của nền công
nghiệp cơ khí chưa cho phép các quan hệ kinh tế quốc tế có thể phát triển xa
hơn xét về mặt hiệu quả kinh tế.
Nhưng trong những thập kỷ gần đây, công nghệ thông tin và vận tải đã
có những tiến bộ vượt bực, đã làm giảm chi phí vận tải quốc tế xuống cả chục
lần và giảm chi phí liên lạc viễn thông xuống tới vài trăm lần ( Năm 1930 một
3


cú điện thoại từ London đến Newyord trong 3 phút mất 300 USD, nay chỉ còn
không đáng kể). Tiến bộ công nghệ này đã có tác động cực kỳ quan trọng đến
toàn bộ các quan hệ kinh tế quốc tế, nó đã biến các công nghệ có tính quốc
gia thành công nghệ toàn cầu. Chính công nghệ toàn cầu này là cơ sở quan
trọng đầu tiên, đặt nền móng cho sự đẩy mạnh quá trình toàn cầu hóa. Nhờ có
công nghệ toàn cầu phát triển, sự hợp tác giữa các quốc gia, các tập đoàn
kinh doanh có thể mở rộng từ sản xuất đến phân phối dịch vụ trên phạm vi
toàn cầu, những quan hệ tùy thuộc lẫn nhau cùng có ích phát triển. Đó là cơ
sở đầu tiên của nền kinh tế toàn cầu thống nhất.
b).Các quan hệ kinh tế toàn cầu ngày càng phát triển.
Một nền công nghệ toàn cầu xuất hiện đã là cơ sở cho các quan hệ kinh
tế toàn cầu phát triển. Đầu tiên là các quan hệ thương mại. Chi phí vận tải
liên lạc càng giảm đi thì khả năng bán hàng đi các thị trường xa càng tăng lên,
thương mại toàn cầu càng có khả năng phát triển. Đồng thời quá trình phân
công, chuyên môn hóa sản xuất càng có thể diễn ra giữa các quốc gia và châu
lục. Các linh kiện của máy bay Boing, của ô tô, của máy tính… đã có thể sản
xuất ở hàng chục nước khác nhau. Các quan hệ sản xuất, thương mại có tính
toàn cầu đã kéo theo các dòng tiền tệ, vốn, dịch vụ… vận động trên phạm vi
toàn cầu. Công nghệ thông tin đã làm cho các dòng vận động này thêm náo

“bàn tay hữu hình” vỗ đập vào nhau, chứ chưa có “một bàn tay hữu hình”
chung làm chức năng điều tiết toàn cầu. Ngoài ba căn cứ chính trên đây thúc
đẩy quá trình toàn cầu hóa phát triển, còn có thể có những căn cứ khác như:
chiến tranh lạnh chấm dứt vào đầu thập lỷ 1990 đã chấm dứt sự đối đầu giữa
các siêu cường, tạo ra một thời kì hòa bình, hợp tác và phát triển mới.
II.Toàn cầu hóa kinh tế và tính hai mặt của nó.
1.Khái niệm.
Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về toàn cầu hóa. Theo định nghĩa
của ủy ban Châu Âu năm 1997 thì : “Toàn cầu hóa có thể được định nghĩa
như là một quá trình mà thông qua đó thị trường và sản xuất ở nhiều nước
khác nhau đang trở nên ngày càng phụ thuộc lẫn nhau”. Hay một định nghĩa
khác lại cho rằng: “Toàn cầu hóa kinh tế phản ánh một mức độ phụ thuộc lẫn
5


nhau toàn diện hơn so với quá khứ, cho thấy một sự khác biệt với thuật ngữ
“quốc tế hóa”. Nó ngụ ý tầm quan trọng ngày càng giảm của các đường biên
giới của quốc gia và sự tăng cường những đặc tính lan tỏa ra ngoài biên giới
bắt nguồn từ một nước, hoặc một khu vực nhất định…”.
Tuy nhiên, gần đây, tại hội thảo “ hội nhập kinh tế quốc tế- những vấn
đề lý luận và thực tiễn diễn ra tại Hà nội vào ngày 11-03-2004 thì các đại biểu
đã đồng thuận ý kiến với một khái niệm mới được tập hợp từ các khái niệm
khác nhau về toàn cầu hóa như sau :
“Toàn cầu hóa về kinh tế là một quá trình phát triển kinh tế của các
nước trên thế giới và các quan hệ kinh tế quốc tế vượt khỏi biên giới một
quốc gia, hướng tới phạm vi toàn cầu, trong đó, hàng hóa, vốn, tiền tệ, thông
tin, lao động… vận động thông thoáng. Mối quan hệ giữa các quốc gia và
khu vực được vận hành theo “luật chơi” chung được xác lập giữa các thành
viên trong cộng đồng quốc tế; sự phân công hợp tác quốc tế ngày càng sâu
rộng, tính xã hội hóa của sản xuất ngày càng tăng, các nền kinh tế ngày càng

hai hệ thống kinh tế xã hội, và mở ra một thời kì hội nhập kinh tế toàn cầu
thực sự với chuyển đổi của hầu hết các quốc gia đã từng là XHCN, các quốc
gia đang phát triển sang kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế;
xu thế hòa bình, hợp tác phát triển đã trở thành xu thế chính của thời đại. Đây
là một đặc trưng cực kì quan trọng, vì nếu chiến tranh đối đầu nhau vẫn là xu
thế chính thì các quốc gia sẽ khó có thể hợp tác, hội nhập với nhau được.
- Sự bùng nổ của thị trường tài chính toàn cầu.
Bước vào nửa cuối thập kỉ 1980, tốc độ và quy mô giao dịch tài chính
toàn cầu đạt mức độ cao hơn chưa từng thấy. Trong thời kì này các giao dịch
ngoại tệ đã lớn hơn 100 lần giá trị của những lần trao đổi hàng hóa và dịch vụ
trên thị trường thế giới. Tính trung bình mỗi ngày doanh số trao đổi ngoại hối
đạt hơn 20 tỷ USD/ ngày năm 1973, tăng lên 60 tỷ USD/ ngày năm 1983, 590
tỷ USD/ ngày năm 1989, 1500 tỷ USD/ ngày năm 1998 và hiện nay trên
khoảng 2000 tỷ USD/ ngày. Tổng giá trị tài chính được trao đổi trên thị
trường toàn cầu năm 1980 là 5000 tỷ USD, đến năm 1996 đã tăng vọt lên
35.000 tỷ USD, năm 2000 83.000 tỷ USD, nghĩa là gấp lần 3 lần GDP của các
nươc OECD.

7


Sự bùng nổ của thị trường tài chính toàn cầu đã đi liền với xu hướng
tập trung các nguồn tài chính bằng hình thức sát nhập các tổ chức tài chính
tạo ra những siêu tập đoàn tài chính toàn cầu chưa từng có. Những vụ sát
nhập tiêu biểu là : Bank of America với Nations Bank có tổng tài sản 570 tỷ
USD; Citicorp traveller Group có tổng tài sản 7000 tỷ USD, Royal Bank of
Canada và Bank of Montreal với tài sản 311 tỷ USD… Những vụ sát nhập
này đã phổ biến ở các Châu Âu và Châu á với quy mô từ 1 tỷ USD đến 800 tỷ
USD.
-Sự phát triển của các công ty xuyên quốc gia kinh doanh toàn cầu đã

lạnh kết thúc, hầu hết các nhà nước quốc gia theo nền kinh tế kế hoạch từ chối
mở cửa hội nhập quốc tế đã bắt đầu thời kì chuyển đổi sang kinh tế thị trường
mở cửa hội nhập quốc tế. Các nhà nước quốc gia nói chung cho đến nay đã
chấp nhận toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, do vậy đã tham gia IMF,
WB, WTO và các tổ chức kinh tế khu vực. Số nước đứng ngoài các tổ chức
này ngày càng ít.
-Các tổ chức dân sự ngày càng có vai trò lớn hơn trong nền kinh tế
toàn cầu.
Các tổ chức xã hội dân sự gồm các hiệp hội tự nguyện, các quỹ từ
thiện, các thể chế tôn giáo… hoạt đông đa dạng bên ngoài các phạm vi chức
năng của gia đình và nhà nước, nghĩa là các tổ chức này làm những gì mà nhà
nước và các gia đình không lam và có ích cho con người. Những tổ chức nay
đang hoạt động trên phạm vi toàn cầu.
Trong quá trình toàn cầu hóa phát triển đã có quá nhiều vấn đề, mà các
nhà nước quốc gia và gia đình không thể quan tâm hết như: sự thoái hóa của
môi sinh, nạn ngheo đói, bệnh tật, những bất công, những mặt trái của toàn
cầu hóa… Các tổ chức này cũng trực tiếp tham gia giải quyết các vấn đề đó.
- Các tổ chức kinh tế toàn cầu gia tăng hoạt động.
Tháng 12/1945 Hiệp định chính thức thành lập các tổ chức: Quỹ tiền tệ
quốc tế (IMF), ngân hàng quốc tế tái thiết và phát triển(IBRD), tiền thân của
ngân hàng thế giới (WB), hiệp định chung về thuế quan và thương mại
(GATT), tiền thân của tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã kí kết.IBRD đã
chính thức đi vào hoạt động vào tháng 6/ 1946. IMF chính thức hoạt động vào
tháng 3 năm 1947. GATT cũng chính thức hoạt động vào 1947 và chuyển
dịch thành WTO vào năm 1995. những tổ chức này là những tổ chức kinh tế
toàn cầu đã thu hút hầu hết các quốc gia và các nền kinh tế lớn nhỏ tham gia,
9


có chức năng điều tiết các hoạt động tiền tệ, tài chính, thương mại toàn cầu


khoa học, công nghệ và khai thác triệt để lĩnh vực này.

10


Công nghệ luôn là lá bài chủ lực của các tập đoàn xuyên quốc gia trong việc
tìm kiếm lợi nhuận, cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường.
-Tự do hóa thương mại và toàn cầu hóa kinh tế đã tạo ra một cuộc tập
hợp lực lượng rộng rãi trên phạm vi toàn cầu, đấu tranh cho công bằng và tiến
bộ xã hội.
-Sự tập hợp này đã âm ỉ nhiều năm nay và đã bộc phát khắp thế giới
trong hai năm qua, như chúng ta đã thấy.
Trong báo cáo của tổng thư kí UNCTAD tại hội nghị lần thứ X của tổ
chức này, tại Bangkok tháng 2 năm 2000, có nêu :
“ Việc xem xét lại này phải đề cập trực diện vấn đề gắn nội tại của các
quá trình tự do hóa và toàn cầu hóa để làm cho các quá trình này trở nên
công bằng hơn. Một hệ thống kinh tế thế giới bất lực trong việc tạo cho
những nước nghèo và cho những nhóm người nghèo của các nước, những
khả năng đủ và k hả thi để nâng cao mức sống, chắc chắn sẽ đánh mất tính
chính đáng của nó đối với các nước đang phát triển. Và không có tính chính
đáng đó, không có một hệ thống kinh tế thế giới nào tồn tại lâu dài được.”
Tuyên bố cuối cùng của các cuộc họp của các nghị sỹ các nước G7 tại La
Habana (Cuba) vào tháng 3 năm 2000 cũng cho rằng phải đưa toàn cầu hóa
vào một quỹ đạo công bằng, đích thực vì hạnh phúc của toàn nhân loại.
b. Những mặt trái.
-Tự do thương mại, trên thực tế hầu như chỉ diễn ra một chiều từ các
nước phát triển đến cá nước đang phát triển.
Các quy định về tự do thương mại hiện nay như nguyên tắc đối xử quốc
gia, tối huệ quốc, gần như chỉ có các nước đang phát triển đơn phương phải

hoảng do IMF đề ra.
-Sự phân hóa giàu nghèo giữa các nước và trong mỗi nước là mặt trái
mang tính tổng hợp nhất của tự do hóa thương mại và toàn cầu hóa kinh tế
hiện nay.
Các số liệu về tăng trưởng trung bình của GDP toàn thế giới, của GDP
bình quân đầu người trên thế giới trong thời gian qua chỉ có một ý nghĩa
tương đối, tự chúng không nói lên thu nhập thực sự của các nước và của các
tầng lớp nhân dân các nước. Thật ra, sự phân hóa giàu nghèo giữa các nước
và trong mỗi nước, nghiêm trọng chưa từng thấy, là vấn đề nổi cộm nhất hiện
nay và là biểu hiện tiêu cực tổng hợp của xu hướng toàn cầu hóa hiện nay.

12


CHƯƠNG II. TOÀN CẦU HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ ĐỐI
VỚI NGÀNH Y, DƯỢC VIỆT NAM
1. Tác động toàn cầu hóa đối với ngành y tế.
Là hiệu ứng của toàn cầu hóa trên lĩnh vực y tế, là những tác động đến
sức khỏe của phát triển thương mại quốc tế, cải thiện thông tin liên lạc toàn
cầu, tăng dòng chảy của hàng hóa, dịch vụ và người dân, và biểu hiện khác
của toàn cầu hóa.
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang đặt ra cho sự
nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân những thách thức to lớn.
Toàn cầu hoá vừa đem lại những cơ hội thuận lợi, đồng thời phải đối mặt
với những nguy cơ lây truyền các bệnh dịch nguy hiểm, những thách thức
về khả năng cạnh tranh, nhất là trong lĩnh vực dược và công nghệ cao
trong y tế, xu hướng phân hoá giàu nghèo ngày càng gia tăng, trong khi vẫn
phải bảo đảm công bằng trong khám chữa bệnh; nhu cầu chăm sóc sức
khoẻ của nhân dân ngày càng cao và đa dạng trong khi khả năng đáp ứng
của hệ thống y tế còn hạn chế.

272.000 tỷ đồng đã tăng lên 536.098 tỷ đồng năm 2002, trong đó, ngân sách y
tế tuyệt đối năm 1996 là 3.610 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 4,76% trong tổng chi ngân
sách nhà nước thì năm 2002 là 7.266 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 5,2% trong tổng chi
ngân sách nhà nước.
Rõ ràng là khi GDP tăng thì ngân sách chi cho y tế cũng ngày càng tăng,
đồng thời thu nhập dân cư tăng tạo điều kiện cho người dân tiếp cận các dịch
vụ y tế tốt hơn và điều đó đã tác động tích cực đến sự nghiệp chăm sóc và bảo
vệ sức khoẻ nhân dân.
Sự chênh lệch giàu nghèo đã tác động cả tích cực và tiêu cực đến sức
khoẻ. Để thực hiện công bằng trong khám chữa bệnh, trong khi nhu cầu và
khả năng chi trả của người dân lại khác nhau dẫn đến nhu cầu cung ứng các
dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cũng khác nhau, đặc biệt là giải quyết vấn đề
khám chữa bệnh cho người nghèo đòi hỏi phải chuyển đổi chính sách y tế cho
phù hợp với thực tế đó.

14


3. Toàn cầu hoá và các tác động không mong muốn đến sức khoẻ:
Toàn cầu hoá có thể tác động không mong muốn đến sức khoẻ. Việc mở
cửa, hội nhập sẽ là xuất hiện các nguy cơ sức khoẻ khác nhau trong cộng
đồng. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã làm cho việc đi lại, trao đổi hàng
hoá tăng nhanh dẫn đến nguy cơ lan truyền dịch bệnh, bệnh tật cũng tăng
nhanh. Các bệnh dịch hạch, hội chứng viêm đường hô hấp cấp tính nặng
(SARS), cúm, HIV/AIDS, một số bệnh lây truyền qua đường tình dục ... có
thể lan truyền qua du lịch, đi lại và nhập cư.
Quá trình tự do hoá thương mại đã và sẽ xuất hiện các khủng hoảng
kinh tế đột ngột, không bảo đảm việc làm, thất nghiệp, mất công bằng trong
thu nhập... và các sự kiện này đã trở thành nguyên nhân chính gây trầm cảm,
rối loạn tâm thần, rối loạn hành vi, nghiện rượu, bạo lực gia đình, tự tử, xung

trong lĩnh vực dược có 28 Dự án đầu tư liên doanh sản xuất dược đã được cấp
phép, 213 công ty nước ngoài có giấy phép kinh doanh thuốc; trong lĩnh vực
y dược học cổ truyền có 46 người nước ngoài hành nghề tại 30 phòng khám
chữa bệnh (KCB) bằng y học cổ truyền (YHCT).
5. Toàn cầu hoá tác động đến tình trạng sức khoẻ nhân dân thông qua
các điều ước quốc tế.
Các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập cũng tác động
đến việc tiếp cận các loại thuốc chữa bệnh mới, thuốc đặc trị. Nhu cầu về các
thuốc chữa bệnh đặc trị của các nước đang phát triển và nước nghèo, trong đó
có Việt Nam là rất lớn tuy nhiên giá thuốc lại quá cao. Việc tiếp cận các loại
thuốc chữa bệnh mới, thuốc đặc trị cũng gặp khó khăn vì các rào cản pháp lý
quốc tế. Ví dụ như Hiệp định TRIPS (Trade-Related Aspects of Intellectual
Property Rights - Các khía cạnh thương mại của Quyền sở hữu trí tuệ) đã bảo
hộ cho các phát minh mới tới 20 năm. Vì thế, TRIPS có thể làm cho các nước
đang phát triển khó khăn trong việc tiếp cận với các thuốc đặc trị liên quan
đến tính mạng con người do Hiệp định này đã hạn chế khả năng sản xuất đang
trong thời gian bảo hộ sáng chế hoặc nhập khẩu các thuốc mới.
Thuốc điều trị HIV/AIDS là một ví dụ điển hình. Chúng ta đều thấy rõ,
trị liệu kháng Retrovirus hoạt tính cao (HAART) có tác dụng rất tốt để kéo
16


dài tuổi thọ và giảm các nhiễm trùng cơ hội của bệnh nhân HIV/AIDS. Song
ở nước giàu, giá của trị liệu này là trên 10.000 đô la Mỹ/năm . Với chi phí đó,
các nước nghèo như Việt Nam không thể tiếp cận với thuốc chống Retrovirus
kể cả trường hợp TRIPS cho phép nhập khẩu song song các thuốc generic rẻ
tiền.
6. Tác động của việc gia nhập WTO đối với ngành công nghiệp dược
Việt Nam.
Việc gia nhập WTO đòi hỏi Việt Nam phải điều chỉnh môi trường

đang trong thời gian bảo hộ bằng phát minh, sáng chế (Patent), thuốc biệt
dược của các công ty đa quốc gia trên thế giới. Một số Công ty TNHH
Việt Nam độc quyền một số mặt hàng thuốc của công ty nước ngoài sau khi
trả phí nhập khẩu uỷ thác đã định giá bán buôn, bán lẻ thuốc rất cao nhằm
mục đích thu nhiều lợi nhuận.
Để hạn chế độc quyền, góp phần bình ổn giá thuốc chữa bệnh cần thiết
phải nghiên cứu để có các chính sách chống độc quyền, cạnh tranh lành mạnh
của các công ty dược nước ngoài trên thị trường Việt Nam.
Như các phân tích trên đây cho thấy toàn cầu hoá có thể có tác dụng vừa
tích cực vừa tiêu cực đến tình trạng sức khoẻ của Việt Nam khi tham gia vào
quá trình này. Toàn cầu hoá kinh tế có thể là một công cụ góp phần làm tăng
thu nhập và qua đó gián tiếp làm tăng sức khoẻ và phúc lợi xã hội khác nhưng
các tác động có lợi đó sẽ phụ thuộc vào các điều kiện nội tại về sự phát triển
của nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội, các chính sách đối
ngoại và hợp tác với quốc tế. Mặt khác, toàn cầu hoá cũng có tác động không
tốt đến sức khoẻ nên cần phải có sự quản lý, điều tiết có hiệu quả của Nhà
nước trên cơ sở các chính sách y tế của Việt Nam và các yếu tố quan trọng
khác như điều kiện xã hội, chính trị, kinh tế, mức độ mất công bằng về thu
nhập, giáo dục và sự vận hành của hệ thốngy tế quốc gia.
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang đặt ra cho sự nghiệp
chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân những thách thức to lớn. Toàn cầu hoá vừa
đem lại những cơ hội thuận lợi, đồng thời phải đối mặt với những nguy cơ lây
truyền các bệnh dịch nguy hiểm, những thách thức về khả năng cạnh tranh, nhất là
trong lĩnh vực dược và công nghệ cao trong y tế, xu hướng phân hoá giàu nghèo
ngày càng gia tăng, trong khi vẫn phải bảo đảm công bằng trong khám chữa bệnh;
nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân ngày càng cao và đa dạng trong khi khả
năng đáp ứng của hệ thống y tế còn hạn chế.
18





Hiện nay, Chính phủ đang sửa đổi chính sách thu viện phí, trong đó có
chính sách miễn giảm đối với một số đối tượng thuộc diện chính sách xã hội,
đồng thời thực hiện chính sách trợ cấp cho người thuộc đối tượng chính sách,
người nghèo, đồng bào dân tộc và người sống tại các vùng sâu, vùng xa.
Để giải quyết việc khám chữa bệnh cho người nghèo một cách cơ bản,
Nhà nước đang phấn đấu thực hiện các lộ trình để tiến tới bảo hiểm y tế toàn
dân vào năm 2010.
3. Giảm các tác động không mong muốn đến sức khoẻ.
Để giảm tác động không mong muốn đến sức khoẻ, Nhà nước đã và
đang áp dụng các biện pháp kiểm soát vệ sinh, an toàn thực phẩm; kịp thời dự
báo và có biện pháp ngăn ngừa để hạn chế tối đa những tác động tiêu cực đối
với sức khoẻ do sự thay đổi lối sống, điều kiện lao động, môi trường trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nâng cao năng lực giám sát, phát
hiện và khống chế dịch bệnh, đặc biệt là HIV/AIDS và các dịch bệnh mới
phát sinh; đẩy mạnh phòng chống các bệnh không lây nhiễm, phòng chống tai
nạn, thương tích, bệnh nghề nghiệp, phục hồi chức năng.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Luật phòng chống nhiễm vi rút
gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) năm
2006 và đang chỉ đạo việc xây dựng và sẽ ban hành Dự án Luật phòng, chống
bệnh truyền nhiễm vào giữa năm 2007, trong đó có kiểm dịchy tế quốc tế.
4. Đa dạng hoá các loại hình dịch vụ y tế.
Bên cạnh hệ thống y tế công, Việt Nam đã phát triển hệ thống y tếtư
nhân. Nhà nước coi hệ thống y tế tư nhân là bộ phận cấu thành của hệ thống y
tế cả nước. Nhà nước đã và đang triển khai các chính sách khuyến khích, tạo
điều kiện thuận lợi và môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các nhà đầu tư
trong nước và nước ngoài phát triển các loại hình dịch vụ chăm sóc sức khoẻ.
Từng bước hoàn thiện hệ thống các tiêu chuẩn liên quan đến thực phẩm
nhập khẩu, xuất khẩu, thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế, trang thiết bị y tế như

viện, quản lý giá thuốc, chống độc quyền, tài chính, tuyên truyền giáo dục và
tăng cường kiểm tra, thanh tra và xử lý các vi phạm.

21


Hiện nay, Quốc hội Việt Nam ban hành Luật Cạnh tranh năm 2004 và Luật
Dược năm 2005. Đồng thời Bộ Y tế đang chuẩn bị Đề án “Phát triển công nghiệp
dược Việt Nam giai đoạn đến năm 2010” trình Chính phủ phê duyệt để đáp ứng nhu
cầu thuốc khám, chữa bệnh sản xuất trong nước đạt 60% vào năm 2010.
7. Tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài
Các nguồn lực bên ngoài:
- WHO
- Các dự án đầu tư cho lĩnh vực y tế từ nước ngoài
- Các quỹ, viện trợ nước ngoài cho bệnh nhân

22


KẾT LUẬN
Toàn cầu hoávề kinh tế đó chính là quá trình liên kết khu vực, liên kết
toàn cầu về kinh tế, là tăng sự phụ thuộc của các nước vào nhau. Nói như thế
không có nghĩa là các nước khi tham gia hội nhập thì sẽ bị lệ thuộc hoàn toàn
vào nền kinh tế khu vực, nền kinh tế thế giới. Mà khi hội nhập mỗi nước đều
có quyền chủ động, tự do trong việc đàm phán, thoả thuận vào những luật lệ
đã được xác lập sẵn. Trên thế giới hiện nay nhiều tổ chức kinh tế khu vực đã
được xác lập, như tổ chức: EU, tổ chức :APEC… Việt Nam cũng đã tham gia
vào các tổ chức kinh tế quốc tế trên thế giới và khu vực như: APEC, ASEAN,
ASEAM, và sự kiện gần đây nhất đánh dấu bước hội nhập củachúng ta đó là
chúng ta chính thức gia nhập tổ chức WTO, tổ chức thương mại có qui mô

nhìn lại” – Bộ trưởng bộ thương mại: Trương Đình Tuyển
- “Hội nhập kinh tế quốc tế với phát triển bền vững” – Lê Thế Giới, Võ
Xuân Tiến, Trương Bá Thanh / NXB hành chínhh quốc gia
- “Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam” – Ngô Văn
Điểm / NXB Chính Trị Quốc Gia
- “Toàn cầu hoá, tăng trưởng và nghèo đói: Xây dựng một nền kinh tế
thế giới hội nhập” : sách tham khảo/ Vũ Hoàng Linh dịch / NXB Văn Hoá
Thông Tin
- Tạp chí cộng sản số 34/2002, 65/2002, 12/2007, 785/2008
- Tổng cục thống kê Việt Nam

24


MỤC LỤC

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status