Những thách thức cho các nhà đầu tư quốc tế ở Việt Nam và giải pháp để vượt qua - Pdf 20

LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu khởi sắc. Tỷ lệ tăng trưởng
bình quân hàng năm vào khoảng 7-8%, là một trong những nước có nền kinh tế đang phát triển.
Đã có nhà đầu tư nói rằng: “Việt Nam đang nằm trong tầm ngắm của các nhà đầu tư và giới
quan sát nước ngoài. Sự chú ý của cộng đồng quốc tế tới Việt Nam chưa bao giờ cao hơn hiện
nay”. Bởi lẽ, Việt Nam đang ngày một hòa nhập với nền kinh tế thế giới, nền kinh tế mà ở đó cơ
hội cho các nhà đầu tư là lớn nhất, đem lại hiệu quả cao nhất.
Trong suốt hai thập kỷ qua, Việt Nam đã tiến hành cuộc cải cách thị trường tự do, và
những cuộc cải cách này đã giành được sự khen ngợi từ những nhà đầu tư nước ngoài. Chính vì
lý do đó, sự quan tâm của các nhà nước ngoài đối với quốc gia Đông Nam Á này ngày càng tăng
cao. Năm 2005, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã tăng gần 50%, và sẽ đạt hơn 8 tỷ USD
trong năm 2006.
Nhìn lại những chặng đường đã qua của một nền kinh tế ở Việt Nam, từ một nước chủ
yếu làm nông nghiệp, tỷ lệ tăng trưởng hàng năm vào loại thấp, nền kinh tế hoàn toàn là bao cấp
thành một nước đi theo công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỷ lệ tăng trưởng đứng thứ nhì Châu Á,
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong một thời gian ngắn ắt hẳn phải tồn tại
nhiều khó khăn, thách thức cho các nhà đầu tư quốc tế. Đặc biệt là khi Việt Nam đã trở thành
thành viên thứ một trăm năm mươi của tổ chức Thương Mại thế giới (WTO), nhà đầu tư quốc tế
phải tìm hiểu liệu thách thức khi đầu tư ở Việt Nam có là một những yếu tố khó khăn nhất cản
trở việc xúc tiến thương mại hay không? Vậy khó khăn, thách thức đó là gì, giải pháp cho các
nhà đầu tư quốc tế như thế nào sẽ được tác giả trình bày trong bài tiểu luận này. Với đề tài:
“Những thách thức cho các nhà đầu tư quốc tế ở Việt Nam và giải pháp để vượt qua”, tiểu
luận được chia làm ba chương:
Chương I: Giới thiệu chung về đầu tư quốc tế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Chương II: Những thách thức cho các nhà đầu tư quốc tế ở Việt Nam.
Chương III: Giải pháp chung cho các nhà đầu tư quốc tế ở Việt Nam.
Sau đây sẽ là những nội dung chi tiết của bài tiểu luận.
1
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn

: 6.280.688

=========================================================================
2
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn

: 6.280.688
FDI triển khai mà còn qua các sự liên kết hàng dọc, các nguồn lực này có thể chuyển sang các
ngành khác, làm cho các doanh nghiệp ở các ngành đó phát triển có hiệu suất hơn.
Công nghệ là một nguồn lực phải được xây dựng lâu dài, nếu chỉ dựa vào nội lực thì quá
trình phát triển quá chậm. Trong lịch sử kinh tế, trừ Anh là nước công nghiệp hiện đại đầu tiên,
hầu như nước nào cũng tìm cách du nhập công nghệ từ những nước tiên tiến hơn mình để phát
triển nhanh.
Để hiểu rõ được vấn đề về đầu tư quốc tế có vai trò thế nào thì ta hãy nhìn sang các nước
Châu Á lân cận để thấy rằng họ ngày càng nhận thức vai trò quan trọng của FDI trong xu thế
toàn cầu hóa. Có thể nói trình độ kỹ thuật, công nghệ, bề dày của tri thức quản lý kinh doanh tại
các nước này đã tăng nhanh và phụ thuộc nhiều vào độ lớn của FDI được tích lũy (FDI stock).
Tại các nước Châu Á khác, FDI qua mấy chục năm không những tích lũy về lượng mà còn về
chất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu và tạo dựng một nền tảng công nghiệp ngày càng vững chắc.
Ví dụ như Malaysia sau nhiều năm thu hút các nhà đầu tư FDI, hiện nay đã trở thành một trong
những trung tâm lớn của thế giới sản xuất ti-vi màu, máy quay video và nhiều sản phẩm điện tử
khác. Singapore, HongKong, Thái Lan hay Trung Quốc cũng có những động thái ngày càng tích
cực nhằm thu hút các nhà đầu tư từ nước ngoài nhằm mục đích gây dựng nền kinh tế tăng
trưởng cao.
Nhìn chung dễ dàng có thể nhận thấy lợi ích của việc đầu tư quốc tế đối với một quốc gia
đó là: giúp cho một đất nước có nền kinh tế yếu kém trở thành nước có tiềm năng kinh tế dồi
dào, tăng GDP cho quốc gia, nâng cao được kỹ thuật công nghệ trong sản xuất, nâng cao trình
độ tay nghề cho các công nhân, kỹ sư.
Tổng quan về nền kinh tế Việt Nam và đầu tư quốc tế ở Việt Nam qua các giai đoạn phát
triển
Tổng quan về nền kinh tế Việt Nam nói chung:
Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế từ những năm 1986. Kể

Tổng quan về đầu tư quốc tế ở Việt Nam nói riêng:
Ở nước ta, bên cạnh nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định, vốn đầu tư nước
ngoài là một trong những nguồn vốn quan trọng. Trong nguồn vốn nước ngoài, FDI được coi là
nguồn vốn thích hợp đối với nước ta. Vai trò của FDI được coi là nguồn vốn thích hợp đối với
nước ta. Vai trò của FDI trong những năm qua đã được khẳng định, đóng góp tích cực vào tăng
trưởng và phát triển kinh tế đất nước. Đầu tư nước ngoài hiện chiếm khoảng trên 13% GDP cả
nước.
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành tháng 12 năm 1987 đã tạo ra khuôn
khổ pháp lý cơ bản cho các hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp tại Việt Nam. Trước đòi hỏi
của thực tế và sự góp ý của các nhà đầu tư nước ngoài, Luật đã có một số lần được sửa đổi, bổ
sung, nổi bật là các lần sửa đổi vào những năm 1996 và năm 2002 nhằm tạo ra một môi trường
đầu tư thông thoáng, hấp dẫn hơn để khuyến khích các nhà đầu tư nuớc ngoài đầu tư vào những
mục tiêu trọng điểm và những lĩnh vực ưu tiên, nhất là trong ngành công nghiệp chế biến, chế
tạo hướng vào xuất khẩu và các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước.

Bằng việc cho ra đời Luật đầu tư 2005 và Luật Doanh nghiệp 2005 (cùng có hiệu lực từ
1/7/2006) Chính phủ Việt Nam đã tạo ra bước tiến dài trong việc điều chỉnh, cải tiến để tạo
=========================================================================
4
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn

: 6.280.688
thêm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài như được quyền đầu tư kinh doanh tất cả
những gì pháp luật không cấm, thay vì chỉ được làm những việc cơ quan Nhà nước cho phép.
Nguyên tắc này được áp dụng cho khu vực kinh tế tư nhân trong nước từ năm 2000, nay được
áp dụng chung cho khu vực nước ngoài.
Ngoài ra việc đẩy mạnh tháo gỡ những khó khăn vướng mắc cho các nhà đầu tư nước
ngoài, chỉnh sửa thuế thu nhập cá nhân theo hướng hạ thấp mức thuế, đẩy mạnh việc thực hiện
cơ chế một cửa, giảm giá dịch vụ viễn thông xuống ngang bằng mức giá tại các nước trong khu
vực, nâng cấp cơ sở hạ tầng, mở rộng lĩnh vực đầu tư, cho phép các doanh nghiệp nước ngoài


: 6.280.688
CHƯƠNG II
THÁCH THỨC CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM
Về pháp luật và chính sách cho các nhà đầu tư quốc tế
Về các chính sách thu hút các nhà đầu tư quốc tế:
FDI đưa vào cùng một lúc ba nguồn lực nên hiệu quả phát triển lớn hơn các hình thái
khác như hợp đồng công nghệ hay vay vốn thương mại. Dù biết vậy, nhiều nước đang phát triển
trong thập niên 1960 và 1970 đã lo ngại bị các công ty đa quốc gia (MNC, multinational
corporations) chi phối kinh tế. Chủ nghĩa dân tộc và phong trào xã hội chủ nghĩa vào thời đó rất
mạnh nên MNCs bị phê phán nặng và FDI được chấp nhận nhưng thường xuyên bị cảnh giác và
bị hạn chế bằng nhiều chính sách đòi hỏi phải đáp ứng nhiều yêu cầu của nước tiếp nhận. Việt
Nam cũng là một trong những nước vẫn còn thái độ cảnh giác đối với MNC, xem việc du nhập
FDI là bất đắc dĩ.
Tại Việt Nam, trong các văn kiện chính thức của chính phủ và của Đảng Cộng Sản Việt
Nam, FDI được xem là một bộ phận của nền kinh tế giống như các thành phần kinh tế khác. Tuy
nhiên trên thực tế FDI vẫn còn bị xem là lực lượng đối lập với các thành phần khác
Điều này phản ảnh trong các chính sách hạn chế hoạt động của MNC và áp dụng chính
sách hai giá, ép buộc người nước ngoài và doanh nghiệp FDI phải trả giá cao cho nhiều sản
phẩm và dịch vụ như điện, nước, bưu chính viễn thông. Ngoài ra, những chính sách của Việt
Nam còn hạn chế các nhà đầu tư nước ngoài trong các ngành nghề và tỷ lệ cổ phần của các nhà
đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam.
Một ví dụ điển hình cho việc hạn chế nhà đầu tư trong các ngành nghề đó là trong lĩnh
vực bưu chính viễn thông – một ngành xưa nay vốn là độc quyền của Nhà Nước Việt Nam thì
những chính sách trước khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam chỉ cho
phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào lĩnh vực viễn thông dưới hình thức hợp đồng hợp tác
kinh doanh (BCC) với một đối tác Việt Nam đang vận hành mạng lưới viễn thông. Còn khi Việt
Nam đã gia nhập WTO thì những ngôn từ trong chính sách mới khiến các nhà đầu tư khó hiểu,
vẫn còn đang rất băn khoăn, thắc mắc. Với những chính sách kiểu như vậy, liệu các nhà đầu tư
nước ngoài có còn muốn tham gia thị trường Việt Nam?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status