Nghiên cứu về Quyền tác giả trong hệ thống Luật Sở hữu trí tuệ - Pdf 41

Khóa luận tốt nghiệp

Trần Thu Trang

MỤC LỤC
Lời nói đầu.............................................................................................1
Nội dung..................................................................................................3
Chương 1: Giới thiệu về Sở hữu trí tuệ...............................................3
1.1.

Khái niệm về Sở hữu trí tuệ..........................................................3

1.2.

Phân loại Sở hữu trí tuệ.................................................................4
1.2.1. Quyền tác giả......................................................................5
1.2.2. Quyền Sở hữu Công nghiệp................................................5
1.2.3. Quyền đối với giống cây trồng............................................6

1.3.

Quá trình hình thành và phát triển Luật Sở hữu trí tuệ trên thế giới
và tại Việt Nam.............................................................................6
1.3.1. Quá trình hình thành và phát triển Luật Sở hữu trí tuệ trên thế
giới..................................................................................... 6
1.3.2. Quá trình hình thành và phát triển Luật Sở hữu trí tuệ tại Việt
Nam.....................................................................................8

Chương 2: Quyền tác giả....................................................................15
2.1. Khái niệm và đặc điểm quyền tác giả.............................................15
2.1.1. Khái niệm..........................................................................15

đánh giá................................................................................................50
Kết luận................................................................................................60
Tài liệu tham khảo

LỜI NÓI ĐẦU
Lý do chọn đề tài:
Ngày nay, với sự bùng nổ thông tin và các phương tiện lưu trữ cũng như
truyền tải, con người ngày càng có điều kiện thuận lợi để tiếp cận đến thông tin
một cách nhanh chóng và dễ dàng. Đây là tiền đề quan trọng thúc đẩy sự phát
Lớp K51 TT-TV
KHXH&NV

2

Trường ĐH


Khóa luận tốt nghiệp

Trần Thu Trang

triển kinh tế - văn hóa – xã hội của mỗi quốc gia. Nhưng sự phát triển này cũng
làm nảy sinh một số tranh chấp về sở hữu trí tuệ mà các quốc gia cũng đang hết
sức quan tâm. Sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng đang trở thành
vấn đề gắn với rất nhiều hoạt động của xã hội, trong đó có hoạt động thông tin –
thư viện. Đặc biệt trong kỷ nguyên số và sự phát triển của các hình thức thư viện
hiện đại, vấn đề sở hữu trí tuệ lại càng cần được quan tâm hơn bao giờ hết.
Nhận thấy đây là một đề tài còn tương đối mới mẻ và chưa được nghiên
cứu một cách đầy đủ nên em đã chọn đề tài: “Nghiên cứu về Quyền tác giả
trong hệ thống Luật Sở hữu trí tuệ” làm đề tài Khóa luận tốt nghiệp của mình.

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp thông tin.
Bố cục của Khóa luận:
Ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Khóa luận gồm các
chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu về Sở hữu trí tuệ.
Chương 2: Quyền tác giả.
Chương 3: Quyền tác giả trong hoạt động Thông tin – Thư viện.
Chương 4: Việc thực thi Quyền tác giả hiện nay và một số nhận xét,
đánh giá.

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ
1.1.

Khái niệm về Sở hữu trí tuệ:

Lớp K51 TT-TV
KHXH&NV

4

Trường ĐH


Khóa luận tốt nghiệp

Trần Thu Trang

Xét về góc độ lịch sử, SHTT không phải là khái niệm mới và tĩnh. Mặc dù

Trường ĐH


Khóa luận tốt nghiệp

Trần Thu Trang

chấm dứt. Trong các giao dịch chuyển giao vật và quyền sở hữu đối với vật thì
quyền sở hữu tài sản lại được xác lập ở một chủ thể được chuyển giao, trừ trường
hợp tài sản là vật bị tiêu hủy. Đối với quyền SHTT, pháp luật chỉ bảo hộ trong
một thời hạn nhất định mà không bảo hộ quyền đó vĩnh viễn.
Thứ tư, nội dung quyền SHTT và quyền sở hữu các tài sản khác cũng bao
gồm ba quyền năng gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt.
Tuy nhiên, chủ sở hữu tài sản là vật chất thì khi thực hiện các quyền năng trên
không giống như chủ văn bằng bảo hộ thực hiện các quyền năng của mình đối
với các sản phẩm trí tuệ. Các căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản không thuộc
đối tượng SHTT cũng có sự khác biệt so với căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với
các sản phẩm thuộc quyền SHTT.
Ngoài ra, một yếu tố khác biệt rất đặc thù giữa quyền sở hữu tài sản và
quyền SHTT là tài sản thuộc SHTT là tài sản vô hình. Do vậy, nguy cơ bị xâm
phạm là rất lớn và việc xác định thiệt hại cũng rất phức tạp. Quyền SHTT luôn bị
đe dọa xâm phạm, có nguy cơ bị xâm phạm rất lớn và thường tập trung vào mặt
hàng thương mại của các sản phẩm SHTT. Những hành vi xâm phạm đến quyền
SHTT thường diễn ra, đặc biệt đối với nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công
nghiệp, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
1.2.

Phân loại Sở hữu trí tuệ:

Ở các nước, khái niệm bản quyền (copyright) hay sáng chế (patent) xuất

Quyền Sở hữu Công nghiệp bao gồm quyền đối với sáng chế, giải pháp
hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý (bao gồm cả tên gọi
xuất xứ hàng hóa), tên thương mại, bí mật kinh doanh, quyền chống hành vi cạnh
tranh không lành mạnh và các quyền Sở hữu Công nghiệp khác do pháp luật quy
định. Quyền Sở hữu Công nghiệp bảo hộ quyền sử dụng độc quyền vì mục đích
kinh tế và quyền định đoạt của các chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công
nghiệp.
Luật về Sở hữu công nghiệp bảo hộ nội dung ý tưởng sáng tạo và uy tín
kinh doanh. Sở hữu Công nghiệp không phải là một loại sở hữu có liên quan đến
tài sản hữu hình dùng trong công nghiệp mà là sở hữu đối với tài sản vô hình.
Điều mà pháp luật hướng tới bảo vệ (khách thể) trong quan hệ pháp luật dân sự
về sở hữu công nghiệp không phải là kiểu dáng một chiếc xe hay một dấu hiệu
gắn trên hàng hóa, mà là những đối tượng vô hình đứng đằng sau kiểu dáng hay

Lớp K51 TT-TV
KHXH&NV

7

Trường ĐH


Khóa luận tốt nghiệp

Trần Thu Trang

nhãn hiệu, là thành quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của chủ sở hữu
đối tượng đó.
1.2.3. Quyền đối với giống cây trồng
Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống



Khóa luận tốt nghiệp

Trần Thu Trang

định về quyền SHTT còn có hệ thống các điều ước quốc tế về lĩnh vực SHTT
được hình thành. Đó là những quy định ngoại lệ đối với những quyền được công
nhận lẫn nhau trong các hiệp định giữa các nước về quyền SHTT.
Vai trò của Nhà nước trong việc bảo hộ Quyền tác giả nói riêng, và Quyền
SHTT nói chung là rất quan trọng. Thông qua việc bảo hộ quyền SHTT, Nhà
nước khuyến khích mọi người không ngừng lao động sáng tạo, và tạo điều kiện
để họ được hưởng thành quả lao động sáng tạo của mình. Nhờ có sự phong phú
đa dạng về tác phẩm hay các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp mà nền văn hóa,
khoa học, nghệ thuật của một quốc gia mới phát triển. Các quốc gia bảo vệ
quyền SHTT mạnh mẽ nhất (Hoa Kỳ, Nhật Bản, Tây Âu) là các quốc gia có nền
văn hóa, khoa học, nghệ thuật phát triển mạnh nhất.
Quyền tác giả trên thế giới phát sinh cùng với sự phát triển của công nghệ
in ấn. Trước khi công nghệ in ấn ra đời, các quyển sách thường được chép tay.
Vì thế, khả năng người khác sao chép tác phẩm gốc không nhiều. Khi công nghệ
in ấn ra đời, một quyển sách có thể được nhân thành nhiều bản. Tác giả không
thể kiểm soát, quản lý được bao nhiêu người đang đọc quyển sách của mình, và
trong số đó bao nhiêu người đã bỏ tiền ra mua sách do mình in, còn lại bao nhiêu
người đã mua sách từ những nhà in lậu. Chính vì vậy mà các tác giả và các nhà
in đã kiến nghị Nhà nước của mình bảo hộ quyền được in ấn và quản lý việc xuất
bản, in ấn.
Nước đầu tiên ban hành luật về Quyền tác giả là Anh, nơi khởi đầu cuộc
cách mạng công nghiệp (theo luật của Nữ Hoàng Anne năm 1709). Sau đó đến
Hoa Kỳ (1790), Pháp (1791), v.v. Như vậy, quyền tác giả phát sinh tại những
nước theo hệ thống luật Anh-Mỹ trước, rồi mới đến các nước theo hệ thống luật

triển mau chóng của những người đi tiên phong và luôn năng động, sáng tạo.
1.3.2. Quá trình hình thành và phát triển Luật Sở hữu trí tuệ tại Việt
Nam
Có thể nói, quá trình phát triển các quy định về quyền SHTT tại Việt Nam
được chia thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn trước khi ra đời Bộ Luật Dân sự 1995: Xuất phát điểm của
Việt Nam là một nước nghèo và chậm phát triển do trải qua nhiều cuộc chiến
tranh. Vì vậy, luật về SHTT của chúng ta ra đời muộn hơn ở những nước khác.
Mãi đến năm 1957, miền Nam mới ban hành Luật Thương hiệu và năm 1958,
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ban hành “Thể lệ về thương phẩm
Lớp K51 TT-TV
KHXH&NV

10

Trường ĐH


Khóa luận tốt nghiệp

Trần Thu Trang

và thương hiệu”. Tuy nhiên, giá trị thực tiễn của các văn bản này chưa cao. Năm
1976, Việt Nam đã tham gia Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO). Ngày 14
tháng 12 năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 197/HĐBT ban
hành “Điều lệ về Nhãn hiệu hàng hóa”. Đây là văn bản đầu tiên chính thức nhắc
đến vấn đề bảo hộ độc quyền trong sở hữu công nghiệp.
Tuy vậy, luật về SHTT chỉ thực sự phát huy tác dụng kể từ sau Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI. Phương hướng của Đại hội Đảng đề ra đã được thể
chế hóa tại Điều 60 của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Giai đoạn từ khi Bộ Luật Dân sự 1995 ra đời đến khi ban hành Bộ Luật
Dân sự 2005: Tuy ra đời sau các nước khác trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp, pháp luật Việt Nam đã có những bước đi đáng khâm phục, nổi bật
nhất là việc ban hành Bộ Luật Dân sự 1995 và Nghị định 12/1999/NĐ-CP ngày
8/3/1999 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
Tháng 5 năm 2005, Bộ Luật Dân sự 1995 được sửa đổi bổ sung cơ bản
(gọi tắt là Bộ Luật Dân sự 2005). Và Bộ Luật Dân sự 2005 chính thức thay thế
Bộ Luật Dân sự 1995 từ ngày 01/01/2006, vì thế các văn bản hướng dẫn thi hành
Bộ Luật Dân sự 1995 chỉ còn phát huy tác dụng tạm thời trước khi được các văn
bản hướng dẫn Luật SHTT 2005 thay thế. Trong Bộ Luật Dân sự 2005, các quy
định về SHTT đã được đơn giản và thu hẹp nhiều. Chúng chỉ còn đóng vai trò
hướng dẫn chung, cho thấy quyền SHTT về bản chất là một quyền dân sự, có
những phương pháp điều chỉnh như phương pháp điều chỉnh của luật dân sự,
song cũng có những tính chất riêng.
Giai đoạn từ khi ra đời Luật SHTT năm 2005: Tại kỳ họp Quốc hội
Khóa X, Kỳ họp thứ 10, vào ngày 29/11/2005, Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT –
Luật số 50/2005/QH10) đã được Quốc hội ban hành với số phiếu gần như tuyệt
đối (368/370), có hiệu lực từ ngày 01/07/2006. Như vậy, Luật SHTT đã trở thành
một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật của Việt Nam. Luật SHTT đã
tiếp thu được các giá trị của nhiều quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật
Việt Nam về quyền SHTT, đã được thẩm định trong thực tiễn. Lợi ích của các
chủ thể sáng tạo, khai thác sử dụng và công chúng hưởng thụ đã được điều chỉnh
khá hài hòa. Các quy phạm pháp luật đã tương thích với hầu hết các điều ước
quốc tế có liên quan, các hiệp định song phương đảm bảo thuận lợi cho việc hội
nhập vào cộng đồng quốc tế. Lợi ích quốc gia thể hiện tại các điều luật đã được
Ban soạn thảo, các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội quan tâm trong
Lớp K51 TT-TV
KHXH&NV

12

Quốc gia

ước
Berne

Lớp K51 TT-TV
KHXH&NV

Công ước
Quyền
tác giả
toàn cầu

Công
ước
Rome

13

Công
ước bảo
hộ bản
ghi âm

Thỏa
thuận
WTO

Trường ĐH


X

X

Thái Lan

X

Trung Quốc

X

X

Anh

X

X

Đức

X

Hà Lan

X

X



X

X

X

X

X

X

X

X

X

X

X

X

Italia

X

X


X

X

X

X

X

Canada

X

X

X

Cuba

X

X

Hoa Kỳ

X

X

X

X

X

X

X

X

X

X

14

Trường ĐH


Khóa luận tốt nghiệp

Trần Thu Trang

Châu Phi
Ai Cập

X


X

X

X

Bảng thống kê năm 2004 về một số quốc gia tham gia điều ước quốc tế
Chú thích: dấu X thể hiện quốc gia có tham gia điều ước.
Bên cạnh các văn bản luật, dưới luật điều chỉnh các quan hệ liên quan đến
quyền tác giả và quyền liên quan như Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật
Xuất bản..., cùng với quá trình mở cửa và hội nhập, Việt Nam đã tham gia một
số điều ước liên quan đến bảo hộ quyền tác giả như: Công ước Berne về bảo hộ
các tác phẩm văn học, nghệ thuật; Hiệp định TRIPs về những khía cạnh liên
quan tới quyền sở hữu trí tuệ; Hiệp ước WIPO về quyền tác giả và về biểu diễn,
ghi âm... Việt Nam cũng đã ký một số hiệp định song phương với một số quốc
gia về bản quyền và các vấn đề liên quan tới quyền tác giả như: Hiệp định Việt
Nam - Hoa Kỳ về thiết lập quan hệ quyền tác giả; Hiệp định Việt Nam - Thụy Sĩ
về bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.

Lớp K51 TT-TV
KHXH&NV

15

Trường ĐH


Khóa luận tốt nghiệp

Trần Thu Trang

tạo. Nói như vậy không có nghĩa là phải là một nhà văn danh tiếng, một nhạc sỹ
nổi tiếng hay một đạo diễn chuyên nghiệp mới có quyền tác giả. Quyền tác giả
xuất hiện không phụ thuộc vào nội dung hay chất lượng tác phẩm.
2.1.2. Đặc điểm quyền tác giả
Quyền tác giả có hai đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức sáng tạo, không bảo hộ nội
dung sáng tạo. Mặt khác, nếu hình thức thể hiện của một ý tưởng trùng với nội
dung của ý tưởng đó thì hình thức cũng không được bảo hộ. Quyền tác giả bảo
hộ tác phẩm, còn tác phẩm là sự hình thành một ý tưởng dưới một hình thức nhất
định. Quyền tác giả được phát sinh kể từ khi tác phẩm được thể hiện dưới một
hình thức nhất định. Nói cách khác, căn cứ phát sinh quan hệ pháp luật dân sự về
quyền tác giả là các hành vi pháp lý. Điều này có nghĩa là cơ quan nhà nước sẽ
không xem xét nội dung tác phẩm, và việc đăng ký bảo hộ quyền tác giả chỉ có
giá trị chứng cứ mà không có giá trị pháp lý như đăng ký bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp.
Thứ hai, tác phẩm được bảo hộ phải có tính nguyên gốc, tức là không sao
chép, bắt chước tác phẩm khác. Điều đó không có nghĩa là ý tưởng của tác phẩm
phải mới, mà có nghĩa là hình thức thể hiện của ý tưởng phải do chính tác giả
sáng tạo ra. Như vậy, một tác phẩm muốn được bảo hộ phải do chính sức lao
động trí óc của tác giả tạo ra.
2.2. Đối tượng, chủ thể và nội dung quyền tác giả
2.2.1. Đối tượng quyền tác giả
Lớp K51 TT-TV
KHXH&NV

17

Trường ĐH




Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp
tương tự.

-

Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng

-

Tác phẩm nhiếp ảnh.

-

Tác phẩm kiến trúc.

Lớp K51 TT-TV
KHXH&NV

18

Trường ĐH


Khóa luận tốt nghiệp

-

Trần Thu Trang


thực hiện nhiệm vụ được đề ra; có thể được cài đặt bên trong máy tính hoặc dưới
hình thức văn bản, đĩa mềm, CD-ROM.
Danh sách các tác phẩm được nêu trong Điều 14 Luật SHTT không cố
định, và số loại hình tác phẩm sẽ ngày một tăng với sự ra đời của các phương
tiện lưu trữ và truyền tải thông tin hiện đại, ví dụ như cơ sở dữ liệu (database),
truyền thông đa phương tiện (multimedia), hay xa lộ thông tin (internet). Các
loại hình này được tập trung thành ba nhóm: các tác phẩm văn học, khoa học,
nghệ thuật. Tuy vậy, cũng có trường hợp một tác phẩm vừa là một tác phẩm
Lớp K51 TT-TV
KHXH&NV

19

Trường ĐH


Khóa luận tốt nghiệp

Trần Thu Trang

khoa học, vừa là một tác phẩm nghệ thuật. Cách phân loại này tương tự với cách
phân loại tác phẩm ở các nước theo hệ thống luật lục địa (continental law). Ở các
nước theo hệ thống luật Anh – Mỹ, người ta phân chia tác phẩm thành 3 loại sau:
các tác phẩm viết (written works), tác phẩm âm thanh (sound recordings) và tác
phẩm hình ảnh (motion pictures).
Cách phân loại nói trên không làm ảnh hưởng đến tiêu chuẩn bảo hộ của
tác phẩm. Các tác phẩm được bảo hộ không phân biệt hình thức, ngôn ngữ thể
hiện và chất lượng tác phẩm. Tuy nhiên, không phải bất cứ hình thức thể hiện
nào cũng được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả. Để được bảo hộ, một tác phẩm
phải được chấp nhận về mặt nội dung, được thể hiện dưới một hình thức nhất

công bố, phổ biến tại Việt Nam, với điều kiện là chúng phải thỏa mãn các điều
kiện về nội dung (không phải là tác phẩm phản động, văn hóa đồi trụy,…).
Đối với các tác phẩm được hình thành tại một nước có Hiệp định tương
trợ về bảo hộ bản quyền (như Hoa Kỳ), hay do công dân các nước đó sáng tạo,
thì tác phẩm này cũng được bảo hộ tại Việt Nam như các tác phẩm Việt Nam.
2.2.2. Chủ thể của quyền tác giả
Các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự về quyền tác giả bao
gồm tác giả (đồng tác giả) và chủ sở hữu quyền tác giả.
2.2.2.1. Tác giả
Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra toàn bộ hay một phần tác phẩm
(Khoản 1 Điều 13 Luật SHTT). “Sáng tạo” trong quan hệ pháp luật dân sự về
quyền tác giả được coi là việc “sử dụng sức lao động và khả năng suy xét” để tạo
ra tác phẩm.
Điểm mấu chốt để xác định quyền tác giả là tác phẩm phải mang tính
nguyên gốc. Các khái niệm “nguyên gốc” và “trực tiếp sáng tạo” có liên quan
đến nhau. Khi tác giả sáng tạo một tác phẩm thì đương nhiên tác phẩm được
sáng tạo đó phải mang tính nguyên gốc, trừ khi tác giả sao chép từ một tác phẩm
khác. Bên cạnh đó, luật Việt Nam cũng công nhận người dịch, phóng tác, cải
biên, chuyển thể, sưu tầm, tuyển chọn từ những tác phẩm khác cũng là tác giả.
Như vậy, một người chỉ được bảo hộ quyền tác giả trong phạm vi mà người đó
trực tiếp sáng tạo. Để đánh giá một tác phẩm có phải là nguyên gốc hay không
cần phải xem có phần nào của tác phẩm đã được sáng tạo. Trong tác phẩm dịch,
việc thể hiện, cách đặt câu của dịch giả là một sự sáng tạo mang tính nguyên gốc.
Lớp K51 TT-TV
KHXH&NV

21

Trường ĐH


Lớp K51 TT-TV
KHXH&NV

22

Trường ĐH


Khóa luận tốt nghiệp

Trần Thu Trang

Nội dung quyền tác giả bao gồm các quyền của các chủ thể tham gia quan
hệ pháp luật dân sự này, cụ thể là của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Đó
cũng là trọng tâm của sự ra đời luật bảo hộ quyền tác giả. Như vậy, quyền tác giả
không chỉ đơn thuần là quyền của tác giả mà còn là quyền của chủ sở hữu quyền
tác giả. Hiện nay, quyền tác giả được tập trung lại thành hai mảng lớn: quyền
nhân thân (Điều 19 Luật SHTT) và quyền tài sản (Điều 20 Luật SHTT).
2.2.3.1. Quyền nhân thân
Quyền nhân thân bao gồm quyền nhân thân không gắn với tài sản và
quyền nhân thân gắn với tài sản.
Các quyền nhân thân không gắn với tài sản là những quyền gắn liền với
các giá trị nhân thân của tác giả và không thể chuyển giao, bao gồm ba quyền:
quyền được đặt tên tác phẩm, đứng tên tác phẩm và bảo vệ sự toàn vẹn của nội
dung tác phẩm. Vì là quyền nhân thân không được chuyển giao nên nó chỉ được
dành cho tác giả (cho dù đồng thời hay không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác
giả). Các quyền này ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín và danh dự của tác giả, tồn
tại một cách độc lập đối với quyền tài sản, gắn liền với tác giả kể cả khi quyền sử
dụng, định đoạt tác phẩm đã được chuyển giao. Các quyền nhân thân không gắn
với tài sản được bảo hộ vô thời hạn, khác với các quyền khác được bảo hộ có

hưởng thù lao giải thưởng. Thông thường, chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng
quyền sử dụng, còn tác giả được hưởng thù lao, giải thưởng.
Quyền sử dụng bao gồm quyền công bố, phổ biến, trình diễn, sao chép, cải
biên, chuyển thể, ghi âm, ghi hình, phát thanh truyền hình, cho thuê tác phẩm.
Quyền sử dụng này gắn liền với quyền nhân thân gắn với tài sản (cho/không cho
sử dụng tác phẩm). Vì thế, mọi hành vi sử dụng tác phẩm (sao chép, dịch,
chuyển thể,…) mà không xin phép chủ sở hữu quyền tác giả là xâm phạm quyền
tác giả, trừ những trường hợp pháp luật có quy định khác.
Các hành vi sử dụng tác phẩm quan trọng nhất bao gồm:
-

Sao chép và phân phối, bán tác phẩm: hành vi sao chép có thể bao
gồm sao chép toàn bộ tác phẩm, hay một phần quan trọng của tác
phẩm. Sao chép khác với trích dẫn. Trích dẫn là việc sử dụng một
phần tác phẩm (không đáng kể) của người khác để nêu bật ý của
tác giả. Việc trích dẫn phải không đơn thuần vì mục đích kinh
doanh, không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng bình thường tác
phẩm và phải nêu nguồn gốc tác phẩm. Các hành vi sử dụng

Lớp K51 TT-TV
KHXH&NV

24

Trường ĐH


Khóa luận tốt nghiệp

Trần Thu Trang

dụng trả thù lao quyền tác giả. Hết thời hạn này, tác phẩm trở thành tài sản công
cộng và bất kì ai cũng có thể sử dụng tác phẩm đó để kinh doanh mà không cần
phải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả.
Lớp K51 TT-TV
KHXH&NV

25

Trường ĐH



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status