Bài tập học kì môn Luật sở hữu trí tuệ
MỤC LỤC
Trang
A. LỜI MỞ ĐẦU
1
B. NỘI DUNG
1
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN TÁC GIẢ THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN HÀNH
1
1. Chủ thể của quyền tác giả
1
2. Nội dung quyền tác giả
2
3. Giới hạn quyền tác giả
3
4. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả
tiếp một phần hoặc toàn bộ tác phẩm” (khoản 4 Điều 4 Nghị định
100/2006/NĐ-CP)
9
7. Quy định “Các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa
vụ liên quan khi phát hiện các hành vi xâm phạm quyền nhân thân quy
định tại ……………
9
C. KẾT LUẬN
10
A. LỜI MỞ ĐẦU
Nguyễn Hải Yến. Nhóm 11 lớp N02
1
Bài tập học kì môn Luật sở hữu trí tuệ
Pháp luật về quyền tác giả được hình thành nhằm đảm bảo về quyền lợi
cho chủ thể sáng tạo, thúc đẩy sáng tạo, đồng thời khai thác hiệu quả các sản
phẩm trí tuệ trong lĩnh vực này. Ở Việt Nam, quyền “sáng tác, phê bình văn
học, nghệ thuật và tham gia vào các hoạt động văn hóa khác” là quyền hiến
định (Điều 60 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi). Quyền tác giả được quy định trong
Bộ luật Dân sự năm 2005 (từ Điều 736 đến Điều 743) và Luật sở hữu trí tuệ năm
2005, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ (năm 2009) và
Bài tập học kì môn Luật sở hữu trí tuệ
+ Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt
Nam;
+ Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều
ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên.
Cho dù tác giả là người Việt Nam hay người nước ngoài đều được chịu
sự điều chỉnh của các quy định pháp luật quyền tác giả như nhau, được hưởng
quyền và có nghĩa vụ như nhau. Quy định này xuất phát từ nguyên tắc đối xử
quốc gia trong pháp luật quốc tế, nhằm thu hút những sản phẩm trí tuệ trong
lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ tại Việt Nam và tạo điều
kiện cho chúng ta tiếp cận dễ dàng hơn với những sản phẩm trí tuệ này.1
- Chủ sở hữu quyền tác giả: là cá nhân, tổ chức nắm giữ một, một số
hoặc toàn bộ các quyền tài sản thuộc quyền tác giả theo quy định tại Điều 20
Luật SHTT. Theo Điều 27 Nghị định 100/2006/NĐ-CP, chủ sở hữu quyền tác
giả bao gồm:
+ Tổ chức, cá nhân Việt Nam;
+ Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện
dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam;
+ Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại
Việt Nam;
+ Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam
theo Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên.
Chủ sở hữu quyền tác giả có thể đồng thời là tác giả hoặc không đồng
thời là tác giả.
2. Nội dung quyền tác giả
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quyền tác giả được tạo thành bới
quyền nhân than và quyền tài sản. Nội dung quyền tài sản được quy định tài
Điều 738 Bộ luật Dân sự 2005 và Điều 19, 20 Luật SHTT
Các quyền nhân thân thuộc quyền tác giả có những đặc điểm sau: là
tiện kĩ thuật nào khác; Quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện
ảnh, chương trình máy tính.
3. Giới hạn quyền tác giả
Ở nước ta, Luật sở hữu trí tuệ và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật sở hữu trí tuệ xác định giới hạn cho quyền tác giả bằng việc quy định các
trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả
tiền nhuận bút, thù lao (Điều 25) và các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công
bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao (Điều 26). Giới
hạn quyền tác giả trong những trường hợp này giúp cho công chúng có khả
năng khai thác, sử dụng các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học vào mục
đích phi thương mại (như nghiên cứu khoa học, giảng dạy, sử dụng riêng) dễ
dàng hơn. Tuy nhiên, bên cạnh quyền lợi này, tổ chức, cá nhân sử dụng tác
phẩm trong những trường hợp giới hạn quyền tác giả có nghĩa vụ làm ảnh
hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các
Nguyễn Hải Yến. Nhóm 11 lớp N02
4
Bài tập học kì môn Luật sở hữu trí tuệ
quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và
nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm. Hơn nữa, bản sao tác phẩm trong những
trường hợp này cũng bị giới hạn ở số lượng một bản.
4. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả
Theo quy định tại Điều 27 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở
hữu trí tuệ, thời hạn bảo hộ quyền tác giả được xác định như sau:
- Quyền tác giả được bảo hộ vô thời hạn: Các quyền thuộc quyền tác giả
được bảo hộ vô thời hạn là quyền nhân thân gắn với tác giả và không thể
chuyển giao được cho chủ thể khác. Đó là các quyền: Đặt tên cho tác phẩm;
quy định tác giả là pháp nhân, do đó có thể nói rằng “tác giả chỉ có thể là cá
nhân”.
Cũng tương tự như vậy, thuật ngữ “đồng tác giả” cũng không được định
nghĩa cụ thể trong pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam, mặc nhiên thuật ngữ
này được hiểu là trường hợp có từ hai tác giả trở lên cùng sáng tạo nên một tác
phẩm thì họ là các đồng tác giả của tác phẩm đó. Quan niệm này chỉ điều chỉnh
được mối quan hệ về quyền tài sản đối với tác phẩm giữa các đồng tác giả với
trường hợp:
- Tác phẩm được coi là đồng sở hữu chung duy nhất.
- Tác phẩm được coi là đồng sở hữu chung theo phần, trường hợp này
được điều chỉnh theo Điều 18 của Luật SHTT. Các đồng tác giả sáng
tạo ra tác phẩm, nếu có phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập
mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác thì có
đặc quyền nhân thân và quyền tài sản đối với phần riêng biệt đó.
Quan niệm quá đơn giản như trên là không phổ quát, bởi lẽ không thể
điều chỉnh được quyền nhân thân đối với tác phẩm mà các ví dụ sau đây là mình
chứng:
Tác giả của một bản nhạc không lời đã chết, một người viết thêm lời vào
và bản nhạc thành bài hát có lời, nếu quan niệm như trên thì phải coi bài hát là
một tác phẩm đồng tác giả vì đã có hai tác giả cùng sáng tạo nên một tác phẩm.
Nổi cộm lên như trương hợp của nhạc sĩ Dương Thụ và ca sĩ Mỹ Linh đối với
album “Chat với Mozat” thì quan điểm như trên là không đúng, bởi vì đây
không thể coi là tác phẩm đồng tác giả vì họ không có sự thống nhất ý chí để
tạo ra tác phẩm, nên chăng coi đây là tác phẩm gốc và tác phẩm phái sinh từ tác
phẩm gốc?
Đề xuất hoàn thiện
Tham khảo quy định về tác phẩm đồng tác giả trong Luật quyền tác giả
của Hoa Kì: “Tác phẩm đồng tác giả là tác phẩm được sáng tạo bởi hai hay
nhiều tác giả với chú ý là sự đóng góp của họ được kết hợp thành các thành
cắt xén tác phẩm trừ trường hợp có thỏa thuận của tác giả”. Quy định này nêu
lên là để tránh cách hiểu không thống nhất như trên, tạo ra cách hiểu chung nhất.
Tuy nhiên, các nhà làm luật soạn thảo Nghị định 100/2006 đã tùy tiện cắt
xén cụm từ “xuyên tạc” trong khoản 4 Điều 19 Luật SHTT. Chính điều này đã
gây khó khăn trong việc giải quyết trường hợp nếu tác giả qua đời thì người sử
dụng tác phẩm sẽ “thỏa thuận” với ai. Bởi lẽ không thể thỏa thuận với người
thừa kế quyền tài sản đối với tác phẩm vì theo quy định của pháp luật thì quyền
nhân thân quy định tại khoản 4 Điều 19 Luật SHTT là không thể chuyển giao.
Nguyễn Hải Yến. Nhóm 11 lớp N02
7
Bài tập học kì môn Luật sở hữu trí tuệ
Đặc biệt là khoản 1 Điều 738 Bộ luật Dân sự 2005 chỉ quy định quyền
nhân thân: “bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa,
cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm”.
Đề xuất hoàn thiện:
Sửa đồi quyền nhân thân không thể chuyển giao tại khoản 4 Điều 19 Luật
SHTT như khoản 1 Điều 738 Bộ luật Dân sự 2005 đã quy định.
3. Về những vấn đề liên quan đến quyền sao chép
Kiến nghị Điều 25 Luật SHTT Việt Nam quy định về các trường hợp sử
dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút,
thù lao thì nên mở rộng hơn ngoại lệ cho việc sao chép với mục đích sử dụng cá
nhân, phi thương mại. Cụ thể, thay vì buộc các chủ thể này khi sao chép (với số
lượng lớn) phải xin phép, trả tiền cho chủ sở hữu quyền tác giả, có thể thay thế
bằng việc thu một khoản tiền đền bù bản quyền của những nhà sản xuất, kinh
doanh nhập khẩu các thiết bị.
gian quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc nghiên cứu
sưu tầm, giới thiệu giá trị đích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân
gian” và “Người sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian quy định tại
khoản 2 Điều này phải thoả thuận về việc trả thù lao cho người lưu giữ tác
phẩm văn học, nghệ thuật dân gian và được hưởng quyền tác giả đối với phần
nghiên cứu sưu tầm, giới thiệu của mình”. Như vậy, thuật ngữ “sử dụng” trong
khoản 2 Điều 20 Nghị định 100/2006/NĐ-CP quy định là việc nghiên cứu sưu
tầm, giới thiệu giá trị đích thực tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. Đây thực
chất là hành vi “phi thương mại”, nếu hành vi phi thương mại mà phải trả thù
lao thì lại trái với quy định tại điều 25 của Luật.
Còn quá nhiều bất cập khi quy định về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học,
nghệ thuật dân gian, như không thể biết chính xác ai là người lưu giữ tác phẩm
văn học, nghệ thuật dân gian, chưa có quy định về mối quan hệ giữa tác giả của
tác phẩm phái sinh từ tác phẩm gốc là tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian với
người lưu giữ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian (nếu xác định được)…
nhưng khuôn khổ có hạn của bài viết không cho phép bàn rộng hơn.
Đề xuất hoàn thiện:
- Định nghĩa lại thuật ngữ “sử dụng” tại Khoản 2 Điều 20 Nghị định
100/2006/NĐ-CP theo hướng sử dụng với nghĩa là hành vi thực hiện quyền tài
sản đối với tác phẩm tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.
- Nếu không định nghĩa lại thuật ngữ “sử dụng” tại Khoản 2 Điều 20 Nghị
định 100/2006/NĐ-CP thì phải bỏ quy định tại Khoản 3 Điều 20 vì quy định như
vậy là ngăn cản các nhà nghiên cứu khi nghiên cứu sưu tầm, giới thiệu giá trị
đích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.
5. Về hành vi “cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật
do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác
phẩm của mình” (khoản 12 Điều 28 Luật SHTT) là xâm phạm quyền tác giả.
Nguyễn Hải Yến. Nhóm 11 lớp N02
9
Một phần của quy định này không có khả năng thực thi, bởi lẽ:
+ Tác phẩm đã kết thúc thời hạn bảo hộ quyền tài sản, do đó cụm từ “bồi
thường thiệt hại” chắc chắn không phải là bồi thường về vật chất;
+ Nếu bồi thường về uy tín và danh dự của tác giả thì tổ chức, cá nhân
nào là chủ thể nhận bồi thường? Hơn nữa, hành vi này chỉ xâm phạm các quyền
Nguyễn Hải Yến. Nhóm 11 lớp N02
10
Bài tập học kì môn Luật sở hữu trí tuệ
nhân thân không thể chuyển giao được quy định tại các khoản 1, 2 và 4 điều 19
của Luật (mà các quyền này lại vĩnh viễn thuộc về tác giả – là người đã chết).Để
cho chặt chẽ, có lẽ nên bỏ cụm từ “bồi thường thiệt hại” trong quy định trên.
C. KẾT LUẬN
Quyền tác giả không còn là điều mới mẻ tại Việt Nam nhưng do ảnh
hưởng của thói quen trong thời gian quá dài không quan tâm đến chuyện bản
quyền nên việc thực thi pháp luật trong lĩnh vực này gặp rất nhiều khó khăn.
Ngoài ra, pháp luật sở hữu trí tuệ còn có nhiều tồn tại cẩn phải khắc phục. Bài
viết trên đây đã nêu khái quát được quyền tác giả theo quy định của pháp luật sở
hữu trì tuệ Việt Nam và phân tích những tồn tại, đưa ra được những đề xuất
hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Do phạm vi nhận thức còn hạn chế nên bài viết không thể tránh khỏi
những thiếu sót, em mong nhận được lời nhận xét từ thầy cô để bài viết được
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Hải Yến. Nhóm 11 lớp N02