BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------
LƯU THANH BÌNH
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN KDT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2017
NGUYỄN THỊ QUỲNH TRANG
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------
LƯU THANH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN KDT VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH
MÃ SỐ
: KINH DOANH THƯƠNG MẠI
quan tâm, chia sẻ, động viên của gia đình, người thân và bạn bè đã giúp tôi hoàn
thành luận văn tốt nghiệp thạc sỹ này. Tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới:
- Thầy giáo PGS.TS. Nguyễn Hoàng Việt đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá
trình thực hiện đề tài luận văn.
- Gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, giúp đỡ.
- Các Thầy Cô khoa Sau đại học Trường Đại học Thương Mại, Hà Nội.
- Các Anh, Chị, Em trong Công ty đã giúp đỡ tìm tài liệu.
TÓM LƯỢC
iii
Trong những năm qua, kinh tế chịu ảnh hưởng rất lớn từ cuộc khủng hoảng
kinh tế thế giới, nhiều DN nội địa gặp không ít khó khăn trong hoạt động sản xuất
kinh doanh.Tuy nhiên, với sự điều tiết của Chính phủ thì nền kinh tế dần đi vào hồi
phục, các DN tiếp tục tiến hành các hoạt động mở rộng sản xuất kinh doanh để
không ngừng phát triển. Công ty CP KDT Việt Nam cũng không phải ngoại lệ.
Kinh doanh trong lĩnh vực đặc thù, chuyên cung cấp các sản phẩm phục vụ cho thi
công công trình hệ thống giao thông như vật tư khoan, xe lu các loại, máy rải
asphalt, trạm asphalt. Với lợi thế là nhà phân phối của các hãng nổi tiếng trên thế
giới như Mitsubishi - Nhật Bản, hãng AMMANN - Thụy Sỹ, Công ty CP KDT
Việt Nam ngày càng cung cấp cho thị trường các loại sản phẩm mà khách hàng
đang có nhu cầu. Hiện nay, các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đòi hỏi các
nhà thi công cần lựa chọn và sử dụng các loại máy móc hiện đại, chất lượng tốt,
nhận thức được điều đó, Công ty CP KDT Việt Nam ngày càng cố gắng hoàn thiện
hơn để đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường. Để thực hiện được mục tiêu hàng năm đề
ra và không ngừng phát triển, Công ty cần triển khai các hoạt động phát triển thị
trường và nghiên cứu: “Chính sách phát triển thị trường của Công ty CP KDT Việt
Nam” sẽ đi nghiên cứu, phân tích các nội dung sau:
Cổ phần
Doanh nghiệp
Giao thông vận tải
Khoa học công nghệ
Trách nhiệm hữu hạn
Xã hội chủ nghĩa
Xuất nhập khẩu
Việt Nam Đồng
vi
DANH MỤC BẢNG
vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
1
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp là chủ thể kinh doanh, để tiến hành
sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải xác định cho mình một thị trường để
tiến hành các hoạt động đó. Thị trường bao gồm tất cả khách hàng tiềm năng cùng
có nhu cầu hay mong muốn và sẵn sàng tham gia trao đổi để thảo mãn nhu cầu đó.
Như vậy, thị trường bao gồm một số lượng lớn khách hàng với những nhu cầu, đặc
các thiết bị xây dựng hầm, công trình giao thông như: Vật tư khoan thương hiệu
Mitsubishi (Nhật Bản); Thiết bị, phụ tùng máy móc làm đường thương hiệu
Ammann (Thụy Sỹ); vật tư khoan neo... Sau hơn 5 năm hoạt động trên thị trường,
Công ty đã đạt được nhiều kết quả tốt trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy
nhiên, các chính sách phát triển thị trường vẫn chưa thực sự được chú trọng và tập
khách hàng vẫn chưa được mở rộng. Xuất phát từ lý do đó, tôi chọn đề tài: "Chính
sách phát triển thị trường của Công ty cổ phần KDT Việt Nam" nhằm đưa ra các
chính sách phát triển thị trường nhằm hoàn thiện chính sách sản phẩm, giá cả, phân
phối, xúc tiến thương mại, giúp cho Công ty cạnh tranh tốt trên thị trường, mang lại
hiệu quả cao trong kinh doanh.
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chính sách phát triển thị trường tiêu thụ là nội dung quan trọng trong chiến
lược kinh doanh của tất cả các DN hoạt động trong nền kinh tế. Liên quan đến vấn
đề này đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu. Qua tìm hiểu, tác giả đã thu thập được một
số nghiên cứu liên quan đến chính sách phát triển thị trường tiêu thụ của Công ty cổ
phần KDT Việt Nam, cụ thể như sau:
1.2.1. Tình hình nghiên cứu đề tài trên thế giới
Nghiên cứu: “The effect of environmental turbulence on new product
development strategy planning” của nhóm tác giả Roger Calantone,Rosanna
Garcia,Cornelia Dröge, năm 2003 đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của môi trường đến
kế hoạch chiến lược phát triển sản phẩm mới. Nghiên cứu đã sử dụng mô hình cơ sở
có tính sáng tạo của doanh nghiệp, định hướng thị trường và quản lý rủi ro trong lập
kế hoạch phát triển sản phẩm mới. Nhóm tác giả tiến hành phân tích sự biến động
của thị trường và công nghệ ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược phát triển sản phẩm
3
mới. Sau đó, đặt mô hình cơ sở của DN vào một môi trường bất ổn để kiểm duyệt.
Nghiên cứu tập trung vào điều tra bốn ngành công nghiệp, bao gồm: ô tô, điện tử,
Product
Innovation
Performance, and the Mediating Role of Knowledge Utilization: Evidence from
Subsidiaries in China”của tác giả Junfeng Zhang đã nghiên cứu chiến lược phát
triển sản phẩm, cải tiến hiệu suất trong các công ty con tại Trung Quốc của các công
ty đa quốc gia. Tác giả tiến hành khảo sát sự tương tác của chiến lược phát triển sản
phẩm, sử dụng kiến thức và hiệu suất đổi mới sản phẩm trong bối cảnh công ty con
tại Trung Quốc của các công ty đa quốc gia. Nghiên cứu chỉ ra rằng các DN cần
4
phải phấn đấu để phát triển các sản phẩm có tính sáng tạo đột phá nhằm mục đích là
củng cố và duy trì sản phẩm vừa phải đổi mới, phân bổ nguồn lực để phát triển thị
trường một cách hiệu quả nhất.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu đề tài trong nước
Nghiên cứu: “Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm phân bón của Công ty
Cổ phần Sản xuất và Thương mại Thuận Phong trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” của tác
giả Đào Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Phương Nhi, đăng trên Tạp chí Khoa học Lạc
Hồng, Tập 1, Số 1 (2014), trang 12-19. Nghiên cứu đã hệ thống hóa được các cơ sở
lý luận chung về nội dung phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm; Phân tích thực
trạng công tác phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm phân bón của Công ty Cổ
phần Sản xuất và Thương mại Thuận Phong trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Để thực
hiện được những nhiệm vụ trên, nhóm tác giả thu thập các dữ liệu thứ cấp từ các
phòng ban công ty Thuận Phong, từ Internet, báo cáo ngành,… Dữ liệu sơ cấp được
thu thập từ phỏng vấn các hộ nông dân sử dụng phân bón, đại lý phân phối phân
bón của công ty tại Đắk Lắk thông qua việc trả lời bảng câu hỏi nhằm tìm hiểu về
nhu cầu sử dụng phân bón, những mong muốn về sản phẩm và dịch vụ trong quá
Hậu Giang” của tác giả Trần Thị Phương, Luận văn Thạc Sỹ, Trường Đại học
Thương Mại năm 2013. Tác giả nghiên cứu dược phẩm là mặt hàng kinh doanh
không chỉ đem lại lợi nhuận cho DN mà còn là sản phẩm góp phần nâng cao sức
khỏe, thể chất của con người.Trên quan điểm nhìn nhận thực trạng của tác giả thì thị
trường dược phẩm của nước ta là một thị trường mới mẻ, hứa hẹn nhiều tiềm năng
phát triển. Tuy nhiên, trong điều kiện ngành dược phẩm nước ta còn chưa thực sự
phát triển, tâm lý ưa dùng dược phẩm ngoại nhập cộng với nguồn nguyên liệu sản
xuất dược phẩm trong nước phụ thuộc vào nhập khẩu nước ngoài cũng là một thách
thức cho DN nội địa như Công ty Dược Hậu Giang phải đổi mặt để tồn tại và phát
triển thị trường. Đề tài đã hệ thống hóa các lý luận cơ bàn về phát triển thị trường tiêu
thụ cho sản phẩm của DN, khái quát kinh nghiệm phát triển thị trường tiệu thụ tại một
số DN và thực trạng công tác phát triển thị trường tiêu thụ của Công ty Cổ Phần Dược
Hậu Giang. Tác giả cũng căn cứ vào điều kiện thực tế của Công ty từ đó đúc rút những
mặt hạn chế nhằm tìm ra nhưng giải pháp phù hợp có thể áp dụng cho Dược Hậu
Giang để mở rộng và phát triển thị trường tiêu thụ trong nước, thúc đẩy lượng sản
phẩm tiêu thụ tiến tới phát triển ổn định và nâng cao vị thế của Công ty.
6
Như vậy, qua tìm hiểu vấn đề chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ thì đã có
nhiều đề tài nghiên cứu đến vấn đề này. Tuy đây không phải là vấn đề mới nhưng
nghiên cứu: “Chính sách phát triển thị trường của Công ty cổ phần KDT Việt Nam”
chưa được công bố từ trước đến nay. Do đó, đây là nghiên cứu có giá trị lý luận và
thực tiễn cao. Nghiên cứu sẽ chỉ ra những mặt còn tồn tại nhằm đưa ra những phải
giải nhằm hoàn thiện chính sách phát triển thị trường tiêu thụ, góp phần nâng cao
hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần KDT Việt Nam trong điều kiện
cạnh tranh gay gắt trên thị trường như hiện nay.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Luận văn có mục đích nghiên cứu là hoàn thiện chính sách phát triển thị
trường vĩ mô và môi trường ngành kinh doanh) và các yếu tố môi trường nội tại của
Công ty CP KDT Việt Nam. Để phục vụ mục đích của nghiên cứu, thông tin sơ cấp
và thứ cấp sẽ được thu thập để củng cố cho tính thuyết phục trong nghiên cứu.
Thu thập dữ liệu sơ cấp: Nguồn dữ liệu sơ cấp bao gồm các cuộc phỏng vấn
trực tiếp và điều tra bằng bảng hỏi đến những đối tượng điều tra là một số nhà
quản trị - chuyên gia của công ty trong công tác marketing và phát triển thị
trường. Học viên đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp Ông Nguyễn Đức Nam và
Ông Nguyễn Xuân Trai - là 2 Phó Giám đốc phụ trách kinh doanh của công ty.
Bên cạnh đó học viên cũng đã thiết kế một bảng câu hỏi điều tra cho các nhà
quản trị của công ty và của các công ty khách hàng ở bộ phận, đơn vị có liên
quan. Cụ thể mẫu nghiên cứu như sau:
TT
Đối tượng mẫu
Số phiếu Số phiếu
phát ra
thu về
Số phiếu
hợp lệ
Các nhà quản trị ở Công ty CP KDT
1
2
Việt Nam, phòng Kinh doanh, phòng tài
chính kế toán
đánh giá những thành công, tồn tại trong chính sách phát triển thị trường của Công
ty CP KDT Việt Nam. Đây là căn cứ để đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện
chính sách phát triển thị trường của Công ty cổ phần KDT Việt Nam.
1.6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, các danh mục, kết luận, tài liệu tham khảo thì kết cầu đề
tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về chính sách phát triển thị trường
của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng chính sách phát triển thị trường của Công ty cổ phần
KDT Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển thị trường của Công ty
cổ phần KDT Việt Nam
CHƯƠNG 2:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOÀN THIỆN
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CỦA DOANH NGHIỆP
9
2.1. Một số khái niệm cơ bản
2.1.1. Thị trường
Theo góc độ tiếp cận kinh tế học cổ điển, thị trường là nơi diễn ra các quá
trình trao đổi mua bán, là tổng số và cơ cấu cung - cầu, điều kiện diễn ra tương tác
cung - cầu thông qua mua bán hàng hóa bằng tiền tệ.
L.Rendos định nghĩa thị trường là tổng hợp các quan hệ trao đổi giữa những
người bán và người mua được thực hiện trong những điều kiện của sản xuất hàng
hóa.
G.Audigier có định nghĩa tổng quát thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu
các sản phẩm nhằm làm thỏa mãn một nhu cầu nhất định.
người tiêu dùng quan tâm vì họ sẽ tìm thấy những sản phẩm dịch vụ mà mình đang
có nhu cầu, mong muốn được sử dụng và người tiêu dùng có thể so sánh các sản
phẩm đó để phù hợp với khả năng thanh toán của mình.
2.1.3. Chính sách
Chính sách là một vấn đề quan trọng, tất cả mọi hoạt động trong nền kinh tế xã
hội được điều tiết bởi chính sách. Trên thế giới trong đó có Việt Nam đã nghiên cứu
rất nhiều về vấn đề này và Chính sách được một số tác giả định nghĩa như sau:
Theo Từ điển Tiếng Việt thì Chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm
đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị và tình hình thực tế mà đề
ra.
Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa: Chính sách là những chuẩn
tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một
thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và
phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ, kinh
tế, văn hóa…
Theo Vũ Cao Đàm thì Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa,
mà một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một
hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện
một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển một hệ thống xã hội.
Theo James Anderson thì Chính sách là một quá trình hành động có mục đích
theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan
tâm. Còn John Deway thì coi Chính sách là một quá trình giải quyết những vấn đề
11
công cộng bao gồm 5 giai đoạn: Cảm nhận tình huống vấn đề, xác định vấn đề, hình
thành các giải pháp, lựa chọn một giải pháp và thực thi. Tác giải Harold Lasswell
thì cũng xem Chính sách là một quá trình ra quyết định có tính sáng tạo bao gồm
các bước: tranh luận, đưa ra các giải pháp, lựa chọn, thực thi và kết thúc.
lại lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh cao hơn cho doanh nghiệp.
2.1.4. Các phương thức phát triển thị trường
Các phương thức phát triển thị trường sẽ được mô tả qua ma trận tăng trưởng
sản phẩm/thị trường của I. Ansoff. Mô hình trình bày 4 lựa chọn định hướng cơ bản
khi xây dựng chiến lược tăng trưởng của công ty như hình 2.5. Một công ty xuất
phát từ hộp A với các sản phẩm hiện tại và thị trường hiện tại. Theo Ansoff thì công
ty này có sự lựa chọn vẫn tiếp tục hoạt động trong phạm vi hiện tại (ở trong hộp A)
hoặc chuyển sang phía tay phải mục phát triển các sản phẩm mới cho các thị trường
hiện tại (hộp B) hoặc chuyển xuống dưới bằng việc mang các sản phẩm hiện tại sang
các thị trường mới (hộp C) hoặc sử dụng bước cơ bản nhất là đa dạng hóa, cùng với
các thị trường mới và sản phẩm mới (hộp D).
Hình 2.1: Ma trận sản phẩm - thị trường (I. Ansoff, 1988)
Các phương thức phát triển thị trường được cụ thể dưới các nội dung sau:
- Hộp A: Tăng thị phần thị trường – Market penetration
Hộp A thể hiện phương thức tăng thị phần thị trường. Phương thức này là
công ty sẽ tăng thị phần ở các thị trường hiện tại với loạt sản phẩm hiện tại của công
ty đó, đó là lựa chọn định hướng chiến lược rõ ràng nhất. Nó xây dựng dựa trên các
khả năng chiến lược hiện tại và không yêu cầu công ty phải nghiên cứu những đoạn
thị trường mới. Phạm vi thị trường vẫn giữ nguyên như cũ. Tuy nhiên thị phần lớn
hơn thì quyền lực lớn hơn so với người mua và người bán, các nền kinh tế lớn hơn
13
có quy mô và lợi ích đường cong kinh nghiệm. Tuy nhiên, các công ty tìm kiếm thị
phần lớn hơn có thể đối mặt với hai hạn chế:
Một là, Sự cạnh tranh từ các đối thủ. Nói về 5 yếu tố cạnh tranh, việc gia tăng
thị phần chắc chắn làm tăng sự cạnh tranh ngành vì những đối thủ cạnh tranh khác
trên thị trường sẽ bảo vệ thị phần của họ. Sự cạnh tranh gia tăng có thể là cạnh tranh
Bằng việc mua lại các đối thủ cạnh tranh yếu hơn, và đóng cửa nhà máy, công ty
thâu tóm có thể đạt được quyền lực thị trường và tăng hiệu quả nói chung. Do hình
thức mua lại này làm tăng thị phần, nó có thể được hiểu là một dạng của gia tăng thị
phần, nhưng ở đây động cơ căn bản là bảo vệ thị phần. Mặc dù cả hai chiến lược gia
tăng thị phần và bảo vệ thị phần không có nghĩa là những trạng thái tĩnh, những hạn
chế của nó thường khiến các nhà quản lý phải xem xét các định hướng chiến lược
thay thế.
- Hộp B: Phát triển sản phẩm - Product development
Phát triển sản phẩm là việc công ty đưa những sản phẩm, dịch vụ mới hoặc
những sản phẩm cải tiến vào những thị trường hiện tại. Đây là việc mở rộng có hạn
chế phạm vi của doanh nghiệp. Thông thường, việc gia tăng thị trường sẽ có thể yêu
cầu phát triển sản phẩm, nhưng ở đây việc phát triển sản phẩm nói đến ở cấp độ đổi
mới hơn. Tuy nhiên, đây là phương pháp tốn nhiều chi phí và rủi ro cao. Nguyên
nhân là do phát triển sản phẩm liên quan đến làm chủ những công nghệ mới có thể
khác xa với công ty đó. Thành công của phương pháp này phụ thuộc vào khách
hàng, các năng lực thị trường và năng lực công nghệ mới, thường là với sự hỗ trợ
của những công ty tư vấn thương mại điện tử và IT chuyên ngành. Do đó, phát triển
sản phẩm cần những khoản đầu tư lớn và có rủi ro cao về thất bại dự án.
- Hộp C: Phát triển thị trường – Market development
Phát triển thị trường là việc đưa các sản phẩm hiện tại vào thị trường mới. Một
lần nữa, sự mở rộng phạm vi bị giới hạn. Phát triển thị trường cũng có thể liên quan
đến phát triển sản phẩm, nếu nói về ngành dịch vụ. Phát triển thị trường có thể có 3
dạng:
+ Phân đoạn thị trường mới. Ví dụ, ở lĩnh vực dịch vụ công, một trường đại
học có thể cung cấp những dịch vụ giáo dục cho các sinh viên lớn tuổi hơn so với
đầu vào thông thường, có lẽ qua các khóa học buổi tối.
15
16
Thị trường của DN là một bộ phận trong tổng thể thị trường rộng lớn của
ngành và của cả một nền kinh tế. Bất kỳ một DN nào khi tham gia vào thị trường
đều đặt mục tiêu lợi nhuận và thị phần. Trong từng giai đoạn phát triển mà các mục
tiêu này có những chính sách thực hiện khác nhau. Muốn theo đuổi được mục tiêu
đó thì các DN cần phải tăng cường duy trì các thị trường cũ và phát triển các thị
trường mới, từ đó, DN sẽ tăng doanh thu, lợi nhuận và ngày càng có vị thế tốt hơn
trên thị trường.
Thực chất phát triển thị trường của công ty kinh doanh là mở rộng thị trường
tiêu thụ sản phẩm theo khu vực địa lý. Các công ty kinh doanh triển khai phát triển
thị trường là khi công ty đang nỗ lực tìm kiếm các thị trường mới để mở rộng thêm
thị trường tiêu thụ cho sản phẩm dịch vụ của mình. Để đạt được mục tiêu mở rộng
thị trường chính là phải hoàn thiện các công cụ về nguyên vật liệu đầu vào, sản
phẩm, giá, hệ thống phân phối, xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu cho
DN hay sản phẩm để tiến hành thâm nhập vào khu vực thị trường mới đạt hiệu quả.
Như vậy, Chính sách phát triển thị trường là những kế hoạch, chương trình
hành động cụ thể do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để thực hiện nhiệm vụ
phát triển thị trường. Bản chất của chính sách phát triển thị trường là một loại chính
sách marketing để tăng doanh số bán trên thị trường nhằm tăng quy mô và lợi thế
kinh doanh của DN. Phát triển thị trường là tổng hợp các cách thức, hoạt động của
DN không chỉ nhằm mục đích đưa được nhiều hơn sản phẩm của DN mình ra thị
trường mà còn phải vươn tới mục tiêu cao hơn đó là tăng thị phần của sản phẩm đó
trên các thị trường sẵn có, mang lại lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh cao hơn. Phát
triển thị trường được sử dụng với điều kiện DN có hệ thống kênh phân phối năng
động hiệu quả, có nhiều khả năng thâm nhập thị trường mới với nguồn vốn và nhân
lực phù hợp.
Phát triển thị trường là điều kiện để DN có thể tồn tại và phát triển, vị thế cạnh
tranh của DN thay đổi rất nhanh cho nên việc mở rộng thị trường khiến cho DN
tránh được tình trạng tụt hậu. Phát triển thị trường giúp DN đẩy mạnh tốc độ tiêu