luận văn thạc sĩ mở rộng cho vay hộ nông dân tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam chi nhánh bắc giang - Pdf 41

1

NG
UY
ỄN
CHÍ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-----------------------------------

TH
ỨC
-

DƯƠNG NHẬT LINH

LUẬ
N

N
TH
ẠC


MỞ RỘNG CHO VAY HỘ NÔNG DÂN
TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC GIANG

KIN
H

LUẬ
N


MỞ RỘNG CHO VAY HỘ NÔNG DÂN

N

TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN

TH

NÔNG THÔN VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC GIANG

ẠC

KIN

CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

H

MÃ SỐ

: 62.34.02.01

TẾLỚP
:
CH



5

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và tiến hành nghiên cứu Luận văn, tôi đã
nhận được sự giúp đỡ của các tập thể và cá nhân. Tôi xin có lời cảm ơn chân
thành đến tất cả các tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành
đề tài nghiên cứu này.
Trước hết, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới TS. Lê Thanh Tâm, người
cô đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tiến hành thực hiện
đề tài này.
Tôi chân thành cảm ơn Trường Đại học Thương Mại; Khoa Sau đại học;
các thầy cô giáo đã trực tiếp tham gia giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn - Chi nhánh Bắc Giang đã tạo điều kiện cho tôi trong việc thu thập số liệu và
thông tin phục vụ cho đề tài.
Mặc dù có nhiều cố gắng trong tìm tòi, học hỏi và nghiên cứu nhưng với khả
năng còn hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết. Kính mong
nhận được sự thông cảm sâu sắc và đóng góp ý kiến từ Quý Thầy Cô cũng như từ các
độc giả quan tâm để tôi có thể nâng cao hơn nữa kiến thức của mình sau này.
Xin chân thành cảm ơn!


6

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
BẢNG

HND
NHTM

8
9

LiênVietPostBank Ngân hàng Bưu điện Liên Việt
Viettinbank
Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam


8

LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước đang phát triển với hơn 70% dân số sống ở nông thôn
và có thu nhập chủ yếu là từ hoạt động nông nghiệp. Chính vì thế nông nghiệp nông
thôn được xem là một ngành sản xuất vật chất quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân của nước ta, có vai trò to lớn đối với quá trình phát triển một đất nước. Sớm
nhận thức rõ điều này, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Chỉ thị, Nghị quyết
nhằm từng bước tăng cường đầu tư vốn cho phát triển nông nghiệp nông thôn, xây
dựng hạ tầng cơ sở, đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn cho sản xuất nông, lâm nghiệp
và phát triển các ngành nghề; đồng thời khuyến khích áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật hiện đại, tiến tới phát triển nền kinh tế sản xuất hàng hoá tập trung. Để phát
triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong điều
kiện hiện nay thì đáp ứng nhu cầu về vốn có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Bắc Giang là một tỉnh nông nghiệp nằm trong khu vực trung du và miền núi
phía Bắc với dân số hơn 1,6 triệu người, trong đó nông nghiệp nông thôn chiếm
khoảng 80% dân số. Với đặc điểm địa hình miền núi và trung du có đồng bằng xen
kẽ, Bắc Giang có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp: trồng cây ăn

nghiên cứu có liên quan đến đề tài theo sự hiểu biết của tác giả:
Nguyễn Văn Thanh, 2015. Chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Luận án Tiến sĩ. Trường Đại học
Ngân hàng TP.HCM.
Tiểu Ngọc Linh, 2014. Giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay đối với HND
tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh
Long An. Luận văn Thạc sĩ. Trường Đại học Kinh tế TP.HCM.
Nguyễn Ngọc Tuấn, 2013. Nghiên cứu giải pháp tín dụng của ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắc Nông đối với hộ sản xuất cà phê .
Luận án Tiến sĩ. Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
Trương Trần Minh Thi, 2013. Phân tích tình hình cho vay ngắn hạn đối với
HND tại chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Long Châu,
tỉnh Vĩnh Long. Luận văn Thạc sĩ. Trường Đại học Cần Thơ.
Nguyền Hồng Hậu; Cung Thị Nguyệt Linh; Đào Bích Ngọc, 2013. Mở rộng
cho vay nông nghiệp nông thôn tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn. Nghiên cứu khoa học. Trường Đại học Kinh tế quốc dân.


10

Nguyễn Ái Vân, 2013. Hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro tín dụng đối với
HND tại các Ngân hàng thương mại trên địa bàn Tỉnh Bạc Liêu. Luận văn thạc sĩ.
Trường Đại học Kinh tế TP.HCM.
Những đề tài trên các tác giả đã sử dụng phương pháp chủ yếu là phương pháp
tổng hợp, phân tích, so sánh để phân tích thực trạng cho vay và đánh giá các kết quả
số liệu thống kế trong quá khứ từ đó rút ra những kết quả đạt được, một số hạn chế,
nguyên nhân của những hạn chế để làm cơ sở đưa ra những giải pháp nhằm hoàn
thiện và nâng cao hiệu quả cho vay của các ngân hàng. Bên cạnh cơ sở lý luận
chung, mỗi nghiên cứu còn có những điểm khác biệt tùy vào bối cảnh, đặc thù và
mô hình hoạt động của mỗi ngân hàng cũng như hoàn cảnh kinh tế của mỗi địa

mở rộng cho vay HND tại Agribank Bắc Giang
6. Bố cục của đề tài
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, toàn bộ nội dung chính
của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về mở rộng cho vay hộ nông dân của ngân hàng
thương mại
Chương 2: Thực trạng mở rộng cho vay hộ nông dân tại ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Bắc Giang.
Chương 3: Một số giải pháp mở rộng cho vay hộ nông dân tại ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Bắc Giang.


12

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY HỘ NÔNG DÂN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ NÔNG DÂN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm hộ nông dân
1.1.1.1. Khái niệm hộ nông dân
Trong bất kỳ giai đoạn nào, lực lượng nông dân luôn đóng một vai trò nhất
định đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia. Đặc biệt đối với các nước đang phát
triển sản xuất nông nghiệp là chủ yếu thì kinh tế hộ nông dân được xem là bộ phận
cấu thành không thể thiếu được của nền sản xuất nông nghiệp. Chính vì vậy, đã có
nhiều nhà khoa học quan tâm và đưa ra khái niệm về HND
Tác giả Frank Elis định nghĩa “HND là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự
kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của
gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhứng chủ yếu
đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường có xu hướng hoạt động với
mức độ không hoàn hảo cao”[11]

- Nguồn tài chính của HND thường bị hạn chế hơn so với các tổ chức kinh tế
khác (ví dụ: một số loại hình doanh nghiệp thì được phép phát hành cổ phiếu, trái
phiếu, giấy tờ có giá để huy động vốn, giúp tăng nguồn tài chính nhưng ở kinh tế
HND thì pháp luật không cho phép làm điều đó).
- Kinh tế HND có khả năng tự điều chỉnh rất cao. Trong cơ chế thị trường, khi
gặp điều kiện thuận lợi HND có khả năng mở rộng sản xuất để có nhiều nông sản
hàng hoá. Ngược lại, khi điều kiện không thuận lợi, sản xuất gặp khó khăn hộ có thể
tự điều chỉnh cho phù hợp. Ngoài ra, kinh tế hộ có quy mô sản xuất tương đối nhỏ,
phù hợp với khả năng lao động và sự quản lý của gia đình, vì vậy nó là một đơn vị
sản xuất gọn nhẹ, linh hoạt thích ứng với sản xuất nông nghiệp trong cơ chế thị
trường. Tuy nhiên trình độ sản xuất của HND còn ở mức thấp tương đối nhiều, chủ
yếu là sản xuất thủ công hoặc với máy móc giản đơn.
- Là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ nhưng hộ không hoạt động một cách riêng
biệt, không phải chỉ là kinh tế cá thể, mà hộ có khả năng tồn tại với nhiều hình thức
sở hữu khác, có thể là thành viên của các tổ chức hợp tác hay liên kết với các tổ
chức kinh tế Nhà nước để làm tăng năng lực của mình.


14

- Sản xuất của HND luôn gắn liền với quy mô và đặc điểm môi trường sinh
thái đặc biệt là khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn. HND chưa thể khắc phục
được những bất lợi của thiên nhiên. Do vậy, kết quả sản xuất của hộ thường hay gặp
rủi ro cao. Sản phẩm tạo ra có thời hạn sử dụng ngắn, chủ yếu mang tính chất tươi
sống, cho nên trong sản xuất nông nghiệp phải gắn liền với chế độ bảo quản, vận
chuyển, chế biến thích hợp và phải có thị trường tiêu thụ. Ngoài ra, còn có một số
đặc trưng khác như kinh tế hộ vừa là đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng,
kinh tế hộ là đơn vị tự nhiên tự tạo nguồn lao động.
1.1.2. Cho vay hộ nông dân của ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Cho vay của ngân hàng thương mại

theo mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên một số tiêu thức được sử dụng chủ yếu là:
- Phân loại theo đối tượng khách hàng: Thông qua cách phân loại này các
NHTM phân chia khách hàng của mình thành các đối tượng khác nhau, từ đó lập ra
các kế hoạch cũng như các chiến lược khác nhau phù hợp với đặc điểm riêng của
từng loại khách hàng. Theo cách phân loại này thì hoạt động cho vay của NHTM
chủ yếu được chia thành 2 loại:
+ Cho vay khách hàng là các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế: Đây là loại
hình cho vay của các NHTM mà các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế là đối
tượng được phục vụ. Nhóm khách hàng này thường có nhu cầu vốn với số lượng
lớn, và có thể là rất lớn, các khoản vay chủ yếu là dài hạn. Do đặc thù riêng đó
của đối tượng này mà các NHTM phải tổ chức các phòng tín dụng chuyên trách
phục vụ. Tuy nhiên số lượng khách hàng loại này của mỗi NHTM thường không
lớn, vì vậy các NHTM cần đặc biệt chú ý quan tâm đến từng khách hàng cụ thể,
từ đó xây dựng mối quan hệ tín dụng lâu dài, đồng thời mở rộng mối quan hệ với
các khách hàng mới.
+ Cho vay khách hàng cá nhân: Nhóm đối tượng còn lại ngoài các doanh nghiệp,
tổ chức kinh tế được các ngân hàng cho vào nhóm khách hàng cá nhân (bao gồm cá
nhân, hộ gia đình, hộ nông dân, chủ trang trại, tổ hợp tác…). Các khoản vay trong
nhóm đối tượng này nhằm phục vụ chi nhu cầu chi tiêu cá nhân như mua sắm các vật
dụng cần thiết trong sinh hoạt, sử dụng cho các mục đích cá nhân hoặc phục vụ cho
việc kinh doanh nhỏ lẻ của các hộ, các tổ hợp tác. Nhóm đối tượng này có số lượng rất
lớn và có nhu cầu vay các khoản nhỏ lẻ, các khoản vay chủ yếu là ngắn và trung hạn.
Tuy nhiên đây là nhóm khách hàng nhạy cảm nên các NHTM cần có phương thức tiếp
cận cũng như quản lý hợp lý mới có thể khai thác tốt mảng khách hàng này.


16

- Phân loại theo thời gian: Phân loại theo thời gian thì hoạt động cho vay của
NHTM được chia thành 3 loại. Tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng thu hồi vốn của


1.1.2.3. Đặc điểm cơ bản trong cho vay hộ nông dân
- Quy mô khoản vay của HND thường có giá trị nhỏ nhưng số lượng các
khoản vay lại nhiều. Đặc điểm này làm cho chi phí tổ chức cho vay đối HND của
ngân hàng. Vì dù là món vay nhỏ hay lớn thì vẫn phải đảm bảo những yêu cầu của
một bộ hồ sơ vay vốn theo quy định, đồng thời ngân hàng cũng phải đảm bảo các
chi phí cho hoạt động của ngân hàng: chi phí huy động vốn, chi phí quản lý, chi phí
cho nhân viên và các khoản chi phí khác. Ngoài ra, do đặc điểm khách hàng vay
vốn thường phân tán trên một địa bàn rộng cho nên việc quản lý món vay của HND
thường tốn nhiều chi phí hơn so với các đối tượng khác.
- Thời hạn khoản vay của cho vay HND mang tính thời vụ. Do mục đích
khoản vay chủ yếu nhằm phục vụ nhu cầu sản xuất của các HND nên thời hạn
khoản vay thường có liên quan trực tiếp đến chu kì sinh trưởng của động, thực vật
trong ngành nông nghiệp mà HND tham gia nói chung và các ngành nghề cụ thể mà
ngân hàng tham gia cho vay. Thường tính thời vụ được biểu hiện ở những mặt sau:
+ Tính mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp của HND quyết định thời điểm cho
vay, thu nợ của ngân hàng. Nếu ngân hàng tập trung cho vay các chuyên ngành hẹp
như cho vay để nuôi trồng một số động thực vật nhất định thì phải tổ chức cho vay
tập trung vào một thời gian nhất định của năm, đầu vụ tiến hành cho vay, đến kỳ thu
hoạch/tiêu thụ thì tiến hành thu nợ.
+ Chu kỳ sinh trưởng, phát triển của động thực vật là yếu tố quyết định để ngân
hàng tính toán thời hạn cho vay. Cho vay ngắn hạn hay trung dài hạn là phụ thuộc
vào loại giống cây, con và quy trình sản xuất. Ngày nay khoa học kỹ thuật ngày càng
phát triển, trong ngành nông nghiệp, công nghệ sinh học cho phép lai tạo nhiều giống
mới, có năng suất chất lượng cao hơn và thời gian sinh trưởng ngắn hơn.
- Nguồn trả nợ của các HND thường không ổn định. Đối với các HND thì
nguồn trả nợ vay chủ yếu là tiền thu từ bán nông sản và sản phẩm chế biến có liên
quan đến nông sản. Vì vậy mà nguồn trả nợ của HND không có tính ổn định, phụ
thuộc và chịu tác động rất lớn từ điều kiện tự nhiên. Bên cạnh đó, HND cũng có
một số nguồn khác để trả nợ vay ngân hàng: tiền từ việc làm thêm cho các HND

nhiên cũng như đối tượng tham gia phần lớn là những người nông dânbị hạn chế về
nhiều nguồn lực: vốn, kỹ thuật, trang thiết bị…Với tầm quan trọng cùng với những
khó khăn do đặc thù của ngành đem lại thì lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn luôn


19

nhận được sự quan tâm và hỗ trợ hàng đầu của Chính phủ và Nhà nước nhằm tạo
điều kiện tốt nhất cho nông nghiệp phát triển, nâng cao đời sống vật chất tinh thần
cho người nông dân. Chính vì vậy, hoạt động cho vay HND thường nhận được sự
hỗ trợ từ phía Chính phủ thông qua các chương trình vay vốn và những ưu đãi về lãi
suất dành riêng cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Việt Nam là một nước nông
nghiệp, đại dân số làm nghề nông, do vậy việc hỗ trợ giúp đỡ người nông dân để
phát triển nông nghiệp nông thôn là một điều không thể không làm, đặc biệt là về
nguồn lực vốn. Để đảm bảo cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn Đảng và Nhà nước ta luôn hỗ trợ cho ngành nông nghiệp thông
qua các chủ trương, chính sách, chương trình phát triển kinh tế.
1.1.2.4. Vai trò của cho vay hộ nông dân đối với phát triển kinh tế - xã hội
Trong nền kinh tế hàng hóa không thể tiến hành sản xuất kinh doanh nếu thiếu
vốn. Ở nước ta hiện nay, thiếu vốn là hiện tượng thường xuyên xảy ra đối với các
đơn vị kinh tế, không chỉ riêng đối với HND. Vì vậy, nguồn vốn cho vay của ngân
hàng đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của nền kinh tế. Nhờ
có nguồn vốn vay hỗ trợ mà các đơn vị kinh tế nói chung và HND nói riêng đảm
bảo được quá trình sản xuất kinh doanh một cách thuận lợi.
a. Đối với hộ nông dân
- Hoạt động cho vay của ngân hàng đáp ứng kịp thời nhu cầu số lượng và chất
lượng vốn cho các HND với ưu điểm thuận tiện, an toàn và có khả năng đáp ứng
được nhu cầu vốn lớn đa dạng của các hộ. Từ đó giúp các HND phát huy tối đa nội
lực của mình, khai thác hết các tiềm năng về lao động, đất đai một cách hợp lý, có
hiệu quả. Có vốn các HND sẽ mạnh dạn đầu tư mở rộng và đa dạng hóa các hoạt

pháp để giảm thiểu rủi ro.
- Thông qua hoạt động cho vay HND, ngân hàng có thể mở rộng thêm được
các loại hình dịch vụ khác như thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, tư vấn...Bên cạnh
đó, cho vay HND giúp phần tạo điều kiện để ngân hàng có thể nghiên cứu tâm lý,
nhu cầu khách hàng trên cơ sở đó đưa ra những sản phẩm mới tiện ích cho cả khách
hàng và ngân hàng.


21

c. Đối với nền kinh tế.
- Hoạt động cho vay của ngân hàng giúp điều tiết vốn trong nền kinh tế, luân
chuyển vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ những người có vốn đến những
người có nhu cầu sử dụng vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống. Vì vậy
mà cho vay HND cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế nói chung và thúc
đầy kinh tế nông nghiệp nông thôn phát triển nói riêng.
-Hoạt động cho vay HND còn có vai trò to lớn về mặt xã hội. Thông qua hoạt
động cho vay, ngân hàng đã giúp các hộ có nguồn tài chính kịp thời để đầu tư sản
xuất, kinh doanh, phát triển các ngành nghề truyền thống, khai thác được các tiềm
năng về lao động, đất đai và các nguồn lực sản xuất khác. Từ đó góp phần giải
quyết công ăn việc làm cho người lao động ở khu vực nông thôn, hạn chế luồng di
dân vào thành thị, rút ngắn khoảng cách về mức sống giữa thành thị và nông thôn,
xóa bỏ sự phân hóa giàu nghèo, đưa nông thôn tiến gần thành thị.
- Qua hoạt động cho vay, NHTM giữ vai trò trung gian giữa các ngành kinh tế
khác nhau, giữa các cá nhân trong nền kinh tế với nhau, là cầu nối điều tiết để
nguồn vốn trong nền kinh tế luôn có sự vận động và quay vòng. Từ đó góp phần
hạn chế các hiện tượng xấu trong xã hộ như cho vay nặng lãi, tín dụng “đen”…giúp
người dân không còn quá khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn mà lại chỉ
phải trả một mức lãi suất bình quân với nền kinh tế. Ngoài ra còn tạo điều kiện cho
các hộ nâng cao trình độ hiểu biết, tiếp cận và áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật

lượng.
1.2.2. Chỉ tiêu đánh giá mức độ mở rộng cho vay hộ nông dân
Có rất nhiều yếu tố để đánh giá mở rộng cho vay HND của NHTM. Sau đây là
2 nhóm chỉ tiêu phổ biến để đánh giá mức độ mở rộng cho vay HND:
1.2.2.1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá mức độ mở rộng về quy mô của cho vay HND
- Tốc độ tăng trưởng số lượng khách hàng HND: Phản ánh khả năng thu hút
khách hang của ngân hàng cũng như mức độ mở rộng về quy mô. Nếu tốc độ tăng
số khách hàng được vay vốn càng cao chứng tỏ mức độ mở rộng về quy mô và khả
năng thu hút khách hàng của ngân hàng càng lớn.
Số lượng HND vay vốn kỳ thực hiện – Số

Tốc độ tăng số
lượng khách
hàng

=

lượng HND vay vốn kỳ trước
Số lượng HND vay vốn kỳ trước

x 100%


23

- Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay HND: Tốc độ tăng trưởng cho vay HND
phản ánh dư nợ cho vay HND năm nay so với với năm trước. Tăng trưởng dư nợ
cho vay là một trong những tiêu chí phản ánh việc mở rộng cho vay. Dư nợ cho vay
HNDnăm nay cao hơn năm trước chứng tỏ cho vay HND năm nay mở rộng hơn sơ
với năm trước về quy mô.

ngân hàng đã thu hút được một lượng lớn khách hàng sử dụng dịch vụ đó. Thị phần
cho vay của ngân hàng có thể được xác định dựa trên tổng dư nợ cho vay.Tổng dư
nợ cho vay càng lớn cho thấy thị phần cho vay của ngân hàng càng gia tăng, quy
mô hoạt động của ngân hàng càng rộng và ngược lại.
Thị phần cho vay của
NHTM

=

Dư nợ CV HND
Tổng dư nợ CV HND của các NHTM

x 100%

Như vậy, nếu ngân hàng có thị phần càng lớn trong cho vay HND sẽ càng tạo
điều kiện thuận lợi cho phép ngân hàng dễ dàng hơn trong việc mở rộng hoạt động
cho vay về mặt quy mô. Và ngược lại, nếu thị phần thấp thì ngân hàng sẽ bị hạn chế
trong việc cạnh tranh thu hút khách hàng
1.2.2.2. Nhóm tiêu chí đánh giá mức độ đảm bảo chất lượng cho vay HND


24

- Tỷ lệ nợ xấu cho vay HND: Tỷ lệ nợ xấu cho vay HND là tỷ lệ phần trăm
giữa nợ xấucho vay HKD và tổng dư nợ cho vay HNDcủa NHTM ở một thời điểm
nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm.
Tỷ lệ nợ xấu cho vay

=


càng ít, chất lượng cho vay càng được nâng cao
- Mức độ sử dụng DPRR tín dụng cũng là một chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín
dụng cũng như thể hiện khả năng quản lý và giải quyết nợ xấu của ngân hàng. Nếu
mức độ sử dụng DPRR tín dụng càng ít thì có nghĩa là ngân hàng đang làm tốt công
tác thu hồi nợ, hạn chế nợ xấu, đảm bảo nguồn vốn cho ngân hàng. Ngược lại nếu
mức độ sử dụng DPRR tín dụng cao thì có nghĩa là nợ xấu của ngân hàng lớn, chất
lượng tín dụng kém.


25

- Thu nhập cho vay HND: Thu nhập từ cho vay HND là một yếu tố dùng để
đánh giá hiệu quả của hoạt động cho vay. Thu nhập cao chứng tỏ, hoạt động cho
vay của ngân hàng đang được thực hiện tốt và ngược lại. Các chỉ tiêu thường được
sử dụng:
Thu nhập cho vay HND kỳ thực hiện – thu
Tốc độ tăng
trưởng thu nhập

nhập cho vay HND kỳ trước

=

x 100%

Thu nhập cho vay HND kỳ trước
Tỷ trọng thu nhập cho
vay HND

Thu nhập của cho vay HND


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status