luận văn thạc sĩ nâng cao chất lƣợng cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội việt nam – chi nhánh thành phố hà nội - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------

NGUYỄN ĐÌNH QUYỀN

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY HỘ NGHÈO
TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VIỆT NAM
– CHI NHÁNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI, NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------

NGUYỄN ĐÌNH QUYỀN

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY HỘ NGHÈO
TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VIỆT NAM
– CHI NHÁNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Tài chính- Ngân hàng
Mã sỐ: 60 34 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS., TS BÙI XUÂN NHÀN

Tác giả luận văn

Nguyễn Đình Quyền


iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN..............................................................................................................ii


iv
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ
Bảng

Tên các bảng và hình vẽ

Trang

HÌNH VẼ
Hình 1.2

Hình 2.1
Bảng 2.6

Sơ đồ quy trình cho vay hộ nghèo

Tổ chức bộ máy của chi nhánh NHCSXH thành
phố Hà Nội
Kết quả cho vay hộ nghèo qua các năm


Bảng 2.5

Tổng hợp số liệu dư nợ cho vay ủy thác qua các
hội đoàn thể

46

Bảng 2.6

Kết quả cho vay hộ nghèo qua các năm

48

Bảng 2.7

Hệ số sử dụng tại chi nhánh năm 2012-2015

49

Bảng 2.8

Nợ xấu của chi nhánh năm 2014-2015

50


v
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
DNVVN

nhân dân ngày càng được cải thiện, chính trị được giữ vững và ổn định. Lĩnh
vực xóa đói giảm nghèo cũng đạt được nhiều thành tích nổi bật và được Liên
hợp quốc đánh giá cao. Tuy vậy, mặt trái của sự phát triển cũng ngày càng
bức xúc, như khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng; sự tụt hậu ngày càng
lớn giữa khu vực nông thôn và thành thị, giữa miền núi và đồng bằng; tình
trạng thiếu việc làm nghiêm trọng; tình trạng ô nhiễm môi trường và lãng phí
tài nguyên đất nước.v.v.. Hàng triệu hộ nghèo ở Việt Nam, đặc biệt là hộ
nghèo ở vùng sâu, vùng xa không được hưởng những thành quả của sự phát
triển. Họ đang bơ vơ, lạc lõng trước sự hội nhập toàn cầu và ánh sáng của thế
giới văn minh. Những yếu kém trên là nguyên nhân mất ổn định về xã hộichính trị, là nỗi đau của một xã hội đang phấn đấu vì lý tưởng dân giàu, nước
mạnh xã hội công bằng- dân chủ- văn minh.
Những năm qua, dù kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn, thách thức
nhưng Quốc hội, Chính phủ vẫn ưu tiên nguồn lực cao nhất cho an sinh xã hội
và giảm nghèo. Chương trình giảm nghèo đã huy động được sự quan tâm,
tham gia vào cuộc của cả hệ thống chính trị, tạo nên sức mạnh to lớn trong
quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện từ Trung ương đến địa phương cơ sở, qua
đó đạt được nhiều thành tựu...
Từ năm 2011 đến nay, các bộ ngành theo chức năng nhiệm vụ được giao
đã ban hành và trình ban hành gần 100 văn bản liên quan đến lĩnh vực giảm
nghèo đồng thời các chính sách giảm nghèo được tổ chức rà soát, Thiết kế lại
theo hướng giảm dần chính sách hỗ trợ cho không, tăng các chính sách cho


2
vay có điều kiện, và mở rộng cho các đối tượng hộ cận nghèo, hộ mới thoát
nghèo. Chương trình 30a, Chương trình 135 tiếp tục được quan tâm chỉ đạo
thực hiện đã tạo sự đồng thuận cao của toàn xã hội và cộng đồng quốc tế, góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số và
miền núi. Người nghèo đã được cải thiện một bước về điều kiện sống, tiếp
cận tốt hơn các chính sách và nguồn lực hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng

tướng Chính phủ ký Quyết định số 131/2002/QĐ - TTg về việc thành lập
Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) để thực hiện chính sách tín dụng ưu
đãi của Nhà nước đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, nhằm
thực hiện lộ trình cơ cấu lại hệ thống Ngân hàng, tách tín dụng chính sách ra
khỏi tín dụng thương mại. NHCSXH là một tổ chức tín dụng Nhà nước, hoạt
động không vì mục tiêu lợi nhuận.
Việc cơ cấu lại hệ thống Ngân hàng và tách tín dụng chính sách ra khỏi
tín dụng thương mại đã tạo điều kiện cho cả 2 hệ thống ngân hàng phát triển
đúng bản chất riêng có, phù hợp với thông lệ quốc tế. Tạo điều kiện cho
những đối tượng chính sách tiếp cận dễ dàng, thuận lợi hơn với tín dụng ưu
đãi của Ngân hàng.
Sau một thời gian thành lập và đi vào hoạt động, một vấn đề đặt ra trong
hoạt động tín dụng chính sách, đó là chất lượng tín dụng. NHCSXH nói
chung và Chi nhánh NHCSXH TP Hà Nội nói riêng phải thực hiện rất nhiều
chương trình cho vay các đối tượng chính sách (hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ
mới thoát nghèo, cho vay giải quyết việc làm, nước sạch, vùng khó khăn, cho
vay sau cai nghiện, cho vay học sinh sinh viên….), trong đó cho vay hộ nghèo
chỉ là một phần nhỏ mà Chi nhánh Hà Nội đang triển khai, tuy dư nợ của
chương trình này không cao so với các chương trình khác nhưng chất lượng
cho vay của chương trình này rất đáng quan tâm.
Tuy nhiên, để NHCSXH tồn tại và phát triển một cách bền vững, thì cần
thiết phải tiếp tục giải quyết một số vấn đề cấp thiết như:


4
- Nên áp dụng hình thức cho vay nào để có thể vừa bảo tồn vừa phát huy
được nguồn vốn của NHCSXH ?
- Làm thế nào xây dựng được một cơ chế tín dụng ưu đãi phù hợp, để
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, từ đó chất lượng tín dụng được nâng nên?
- Làm thế nào để cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác,

- “Nâng cao chất lượng tín dụng chính sách tại Chi nhánh Ngân hàng
Chính sách xã hội tỉnh Quảng Trị” (2014), luận văn thạc sĩ kinh tế của Phạm
Thị Lệ Ninh. Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu lý luận về chất
lượng tín dụng chính sách của NHCSXH, phân tích đánh giá chất lượng tín
dụng chính sách của chi nhánh NHCSXH tỉnh Quảng Trị, từ đó đề xuất
những giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng chính sách ở
chi nhánh NHCSXH tỉnh Quảng Trị tại chi nhánh.
- “Nâng cao chất lượng cho vay hộ nghèo tại Chi nhánh Ngân hàng
Chính sách xã hội thành phố Hà Nội” (2007), luận văn thạc sĩ kinh tế của
Đặng Thị Phương Nam. Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu lý luận
về chất lượng cho vay hộ nghèo của NHCSXH, phân tích thực trạng chất
lượng cho vay hộ nghèo của chi nhánh NHCSXH thành phố Hà Nội, từ đó rút
ra những kết quả đạt được những hạn chế và nguyên nhân hạn chế, giải pháp
nâng cao chất lượng cho vay hộ nghèo tại chi nhánh.
- “Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân hàng
Chính sách xã hội tỉnh Thanh Hóa” (2011), luận văn thạc sĩ kinh tế của Lê
Thị Thúy Nga. Trong công trình này, tác giả đã hệ thống hoá những vấn đề lý
luận cơ bản về đói nghèo, tín dụng đối với hộ nghèo. Phân tích, đánh giá thực
trạng và hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại NHCSXH tỉnh Thanh Hóa,
đồng thời đề xuất một hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu
quả tín dụng hộ nghèo tại NHCSXH tỉnh Thanh Hóa.


6
- " Nâng cao chất lượng cho vay học sinh sinh viên tại chi nhánh Ngân
hàng Chính sách xã hội Thành phố Hà Nội” (2015), luận văn thạc sĩ của Đỗ
Thị Thủy, bảo vệ tại Trường Đại học Kinh doanh và công nghệ. Theo luận
văn này, tín dụng đối với HSSV có hoàn cảnh khó khăn trong thời gian theo
học tại các trường chuyên nghiệp và dạy nghề là rất quan trọng, đối tượng học
sinh sinh viên được vay tại NHCSXH Việt Nam nói chung và Chi nhánh Hà

lượng cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng CSXH thành phố Hà Nội
- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng cho vay hộ nghèo tại Chi nhánh
Ngân hàng CSXH thành phố Hà Nội giai đoạn đến năm 2020 và các năm tiếp
theo
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn
về chất lượng cho vay hộ nghèo của NHCSXH.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận về chất lượng
và nâng cao chất lượng cho vay với hộ nghèo của các NHCSXH cụ thể là:
nghiên cứu khái niệm cơ bản về tín dụng, nâng chất lượng tín dụng, tín dụng
đối với hộ nghèo và đặc trưng của tín dụng chính sách xã hội, hiệu quả của tín
dụng đối với hộ nghèo, vai trò của NHCSXH, quy trình cho vay của
NHCSXH từ đó đưa ra tiêu chí đánh giá chất lượng cho vay hộ nghèo và các
nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay hộ nghèo đồng thời đưa ra các
hoạt động nhằm nâng cao chất lượng cho vay hộ nghèo tại Chi nhánh Ngân
hàng CSXH thành phố Hà Nội.
- Về thời gian: Khảo sát số liệu giai đoạn 2012-2015, đề xuất giải pháp
đến năm 2020 và các năm tiếp theo


9
- Về không gian: Nghiên cứu tại chi nhánh Ngân hàng CSXH thành phố
Hà Nội trong mối quan hệ thống kê so sánh


10
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn có sử dụng các phương nghiên cứu trên cơ sở số liệu thứ
cấp và các tài liệu để tổng hợp phân tích. Cụ thể là các phương pháp sau:

- Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, luận văn nêu lên một số
phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng cho vay hộ
nghèo tại Chi nhánh Ngân hàng CSXH thành phố Hà Nội. Không dừng lại ở
đó luận văn còn đưa ra đề xuất nhiều kiến nghị cụ thể để khắc phục những
hạn chế tồn tại trong cho vay hộ nghèo
- Nghiên cứu vấn đề nâng cao chất lượng cho vay hộ nghèo tại Ngân
hàng Chính sách Xã hội Việt Nam – Chi nhánh thành phố Hà Nội đầy đủ
xuyên suất từ khái niệm cơ bản cho đến thực trạng chất lượng tín dụng và
biện pháp nâng cao chất chất lượng tín dụng, luận văn cung cấp một lượng
không nhỏ thông tin tham khảo đáng tin cậy cho cả người tìm hiểu với mục
đích nghiên cứu lẫn các nhà quản lý
Với đóng góp trên, tác giả hy vọng rằng luận văn sẽ là nguồn tài liệu bổ
ích và cần thiết đối với cơ quan nhà nước nói chung và chi nhánh NHCSXH
thành phố Hà Nội nói riêng trong việc nâng cao chất lượng cho vay hộ nghèo.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Các vấn đề lý luận về chất lượng cho vay với hộ nghèo của
Ngân hàng chính sách xã hội
Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay hộ nghèo tại chi nhánh Ngân
hàng CSXH thành phố Hà Nội
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng cho vay hộ nghèo
tại chi nhánh Ngân hàng CSXH thành phố Hà Nội.


12
CHƯƠNG 1
CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY HỘ NGHÈO
CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
1.1. Ngân hàng chính sách xã hội và hoạt động cho vay hộ nghèo của Ngân

về bản chất vận động của tín dụng, là dấu hiệu phân biệt phạm trù tín dụng
với các phạm trù kinh tế khác. Tính hoàn trả không phải tự nó xuất hiện mà
dựa vào quá trình vận động và sự kết thúc tuần hoàn vốn. Quá trình vận động
tín dụng được thể hiện qua các giai đoạn sau:
Phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay, giai đoạn này vốn vay
chuyển từ người cho vay sang người đi vay kèm theo quyền sử dụng vốn vay.
Sử dụng tín dụng (Sử dụng vốn vay), sau khi nhận được tiền vay, người
đi vay được quyền sử dụng vốn vay theo mục đích nhất định để sản xuất hoặc
tiêu dùng.
Hoàn trả tín dụng là người đi vay hoàn trả lại cho người cho vay số vốn
ban đầu. Đây là giai đoạn kết thúc vòng tuần hoàn của tín dụng. Thời gian
hoàn trả tín dụng phụ thuộc vào mục đích và đặc điểm tuần hoàn vốn vay.
Nếu vốn vay được sử dụng vào đầu tư dài hạn thì thời gian hoàn trả vốn tín
dụng thường là dài và ngược lại.
Thứ hai, trong quan hệ tín dụng, quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn
tách rời nhau. Hoạt động tín dụng nảy sinh làm xuất hiện sự vận động độc lập
tương đối giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn vay. Nói cách khác, quan
hệ tín dụng không bao hàm sự vận động quyền sở hữu vốn vay, điều này
quyết định tính hoàn trả của quan hệ tín dụng. Khi thực hiện quan hệ tín dụng,
người cho vay chỉ cho người đi vay mượn quyền sử dụng vốn trong một
khoảng thời gian nhất định, còn quyền sở hữu vốn thuộc về phía người cho
vay. Vì vậy, để đảm bảo an toàn cho số vốn của mình, người cho vay phải


14
rằng buộc người đi vay bằng những cơ chế hết sức nghiêm ngặt. Ngược lại,
để được sử dụng vốn vay đó, người đi vay phải hoàn trả 1 số tiền nhất định –
gọi là lợi tức tín dụng.
Thứ ba, lợi tức tín dụng là một loại giá cả đặc biệt. Vốn là một loại hàng
hóa có giá trị và giá trị sử dụng, được mua bán trên thị trường vốn. Như vậy,

- Chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách
khác là việc Nhà nước tổ chức huy động các nguồn lực tài chính để cho vay
đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác nhằm tạo việc làm, cải
thiện đời sống, hạn chế tình trạng đói, nghèo. Vì đây là một loại tín dụng
mang tính chính sách nên Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với người vay
về cơ chế cho vay, cơ chế xử lý rủi ro, lãi suất cho vay, điều kiện, thủ tục
vay vốn...
- Vì vậy, tại Điều 1, Nghị định 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của
Chính phủ đã khẳng định: “Tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng
chính sách khác là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy
động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục
vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội”.
Từ khái niệm trên có thể thấy tín dụng chính sách xã hội có những đặc
trưng cơ bản sau:
Một là, đây là kênh tín dụng không vì mục tiêu lợi nhuận: Mục tiêu của
tín dụng chính sách là không vì mục tiêu lợi nhuận mà là nhằm phục vụ sản
xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện chương
trình mục tiêu XĐGN, ổn định kinh tế - chính trị và bảo đảm an sinh xã hội.
Hai là, đối tượng vay vốn tín dụng chính sách xã hội là người nghèo và
các đối tượng chính sách khác theo chỉ định của Chính phủ.


16
Ba là, nguồn vốn để cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính
sách khác là nguồn vốn của Nhà nước, tức là nguồn vốn từ Ngân sách và có
nguồn gốc từ Ngân sách.
Bốn là, người nghèo và các đối tượng chính sách khác khi vay vốn được
ưu đãi về lãi suất cho vay, điều kiện vay vốn (không phải thế chấp tài sản),
thủ tục cho vay và cách tiếp cận với nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội.

Trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ một loại hàng hoá nào sản xuất ra
cũng phải là những hàng hoá mang tính cạnh tranh. Điều đó có nghĩa là mọi
loại hàng hoá sản xuất ra đều phải có chất lượng. Chất lượng của bất kỳ một
loại hàng hoá nào cũng đều được thể hiện bằng giá trị sử dụng của nó. Muốn
tạo ra được những loại hàng hoá mang giá trị sử dụng cao thì đòi hỏi người
sản xuất ra chúng phải trả lời được 3 câu hỏi quan trọng. Đó là:sản xuất ra cái
gì ? cho ai cần chúng và sản xuất như thế nào? Và các nhà kinh tế đã nhận xét
rằng: "Chất lượng là sự phù hợp mục đích của người sản xuất và người sử
dụng về một loại hàng hoá nào đó" hay "Chất lượng là năng lực của một sản
phẩm hoặc dịch vụ thoả mãn nhu cầu khách hàng". Từ những nhận xét như
vậy, có thể quan niệm chất lượng tín dụng Ngân hàng là việc đáp ứng nhu cầu
của khách hàng, đáp ứng nhu cầu tồn tại, phát triển ngân hàng và mục tiêu
phát triển kinh tế -xã hội.
Nâng cao chất lượng tín dụng thể hiện:
Đối với khách hàng: Tín dụng đưa ra phải phù hợp với yêu cầu của khách
hàng với lãi suất, kỳ hạn, phương thức thanh toán, hình thức thanh toán phù hợp,
thủ tục đơn giản, thuận tiện nhưng luôn đảm bảo các nguyên tắc tín dụng .
Đối với ngân hàng: Đưa ra các hình thức tín dụng phù hợp với phạm vi,
mức độ, giới hạn phù hợp với bản thân ngân hàng mình để luôn đảm bảo tính
cạnh tranh, an toàn, sinh lời theo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ và có lãi.
Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội: Tín dụng phải luôn đảm bảo sự lưu
thông hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động,


18
khai thác khả năng tiềm tàng của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập
trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng
trưởng kinh tế.
Như vậy, là chất lượng tín dụng Ngân hàng là một khái niệm hoàn toàn
tương đối, nó vừa cụ thể ( Thể hiện qua chỉ tiêu có thể tính toán được: kết quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status