Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế giải pháp gia tăng nguồn thu trong cân đối ngân sách thành phố đồng hới, tỉnh quảng bình - Pdf 41

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông
tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn

NGUYỄN THỊ MỸ LỢI

i


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn này tôi đã nhận được sự giúp đõ của nhiều tổ chức
và cá nhân.
Trước hết, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS.Hoàng
Hữu Hòa đã tận tình dành nhiều thời gian và trí lực trực tiếp hướng dẫn tôi trong
suốt quá trình xây dựng đề cương, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn.
Tôi xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu, Phòng KHCN-HTQT- ĐTSĐH
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế cùng toàn thể quý Thầy, cô giáo đã giúp đỡ
tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cám ơn Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, các Sở
chuyên môn thuộc UBND Tỉnh Quảng Bình;Ủy ban nhân dân Thành phố Đồng
Hới, Phòng Tài chính – Kế hoạch Thành phố, Chi cục Thuế, Phòng Kinh tế, Phòng
Tài nguyên Môi trường, Chi cục Thống kê, các cơ quan chuyên môn của UBND
Thành phố, các Xã, Phường đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho tôi trong quá trình thu thập số liệu, nắm tình hình thực tế tại đơn vị.
Cuối cùng, tôi xin trân trọng cám ơn tập thể lớp cao học Quản trị Kinh
doanh, khóa 10A năm học 2009 – 2011, Trường Đại học Kinh tế- Đại học Huế;

hợp lý các nguồn thu vào NSNN là nhiệm vụ trọng tâm của chính quyền thành phố.
Xuất phát từ thực tế đó, việc nghiên cứu đề tài “Giải pháp gia tăng nguồn thu
trong cân đối ngân sách Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình” đã được lựa
chọn làm luận văn Thạc sỹ nhằm góp phần giải quyết vấn đề cấp bách nói trên.
2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn tiến hành thu thập số liệu từ các phòng ban chuyên môn, điều tra đối
tượng nộp ngân sách để phân tích, đánh giá các vấn đề về mặt định tính, định lượng
liên quan đến công tác thu ngân sách. Sử dụng phương pháp phân tổ thống kê,
phương pháp phân tích, phương pháp chuyên gia, chuyên khảo, sử dụng phần mềm
thống kê thông dụng để xử lý số liệu.
3. Kết quả nghiên cứu và những đóng góp khoa học của luận văn
Giải pháp gia tăng nguồn thu trong cân đối ngân sách Thành phố Đồng Hới
mà luận văn đưa ra có thể làm tài liệu tham khảo cho việc lãnh đạo, điều hành quản
lý thu NSNN góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Thành phố
Đồng Hới giai đoạn tới.

iii


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
BQ
CNXD
CTN-NQD
ĐVT
FDI
GTSX
GTGT
GDP
HCSN
HH

Gross Domestic Product: Tổng sản phẩm quốc nội
Hành chính sự nghiệp
Hiện hành
Hội đồng nhân dân
Kế hoạch
Kinh tế - xã hội
Kinh tế thị trường
Ngân sách
Ngân sách nhà nước
Ngân sách trung ương
Ngân sách địa phương
Nhà nước
Nông lâm thủy sản
Non-governmental Organizations: Tổ chức phi Chính phủ
Quyền sử dụng
So sánh
Sử dụng đất
Trách nhiệm hữu hạn
Trung bình
Thu nhập doanh nghiệp
Thành phố
Uỷ ban nhân dân
Xây dựng cơ bản
Xã hội chủ nghĩa
Đô la Mỹ

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.4. Tình hình thực hiện khoản thu Thuế CTN NQD của Thành phố Đồng Hới
giai đoạn 2006 – 2010................................................................................................38
giai đoạn 2007 - 2010...............................................................................................104

viii


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ngân sách nhà nước (NSNN) là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc
gia, là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, định hướng phát triển sản xuất, điều
tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội. Vì vậy, NSNN có vai trò
rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối
ngoại của đất nước.
Quản lý thu NSNN là khâu rất quan trọng của chính sách tài chính quốc gia.
Tăng cường quản lý thu ngân sách nhằm động viên đầy đủ, hợp lý các nguồn thu
vào NSNN, tạo nguồn lực tài chính để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội (KT-XH), cũng cố quốc phòng, an ninh. Đối với những địa phương chưa tự
cân đối ngân sách, quản lý thu ngân sách là biện pháp nhằm hướng đến tự cân đối
ngân sách, tăng cường tính tự chủ, giảm sự lệ thuộc vào ngân sách cấp phát.
Thành phố Đồng Hới là một trong bảy huyện, thành phố trực thuộc, là trung
tâm chính trị - kinh tế - văn hoá - xã hội và khoa học kỹ thuật của tỉnh Quảng Bình.
Trong những năm qua, thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố không những
đạt và vượt kế hoạch được hội đồng nhân dân (HĐND) Tỉnh, Thành phố giao mà còn
tăng đều qua các năm. Tuy nhiên, Đồng Hới vẫn là một trong những địa phương đang
hưởng trợ cấp cân đối từ Ngân sách cấp trên. Hoạt động quản lý ngân sách còn thiếu
tập trung, thống nhất; tình trạng thất thu vẫn còn xẫy ra; một số nguồn thu tỷ lệ còn
thấp; cơ cấu nguồn thu thiếu bền vững và cân đối, chủ yếu tập trung vào nguồn thu từ
cấp quyền sử dụng đất trên địa bàn Thành phố (chiếm trên 50% tổng thu Ngân sách
địa phương); 16/16 xã phường thuộc thành phố chưa tự cân đối được thu chi ngân
sách. Vì vậy, làm thế nào để có thể quản lý nguồn thu ngân sách một cách có hiệu
quả vẫn đang là câu hỏi lớn đối với chính quyền địa phương.
Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã chọn đề tài “Giải pháp gia tăng nguồn thu
trong cân đối ngân sách Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình” làm luận văn
Thạc sỹ của mình.

công tác thu, nộp ngân sách nhằm đánh giá thực trạng công tác quản lý và phát triển
các nguồn thu. Mẫu điều tra được lựa chọn một cách ngẫu nhiên cho cả đối tượng
quản lý nguồn thu ngân sách và đối tượng đóng góp nguồn thu ngân sách nhằm có
đánh giá khách quan giữa các đối tượng khác nhau.

2


3.2. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Để tiến hành phân tích đánh giá thực trạng thu ngân sách trên địa bàn nghiên
cứu theo các tiêu thức khác nhau, luận văn sử dụng phương pháp phân tổ thống kê để
tổng hợp và hệ thống hóa tài liệu thu thập được. Trong quá trình phân tích, tính toán
đã sử dụng phần mềm thống kê SPSS để xử lý số liệu.
3.3. Phương pháp phân tích
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để xác định xu hướng biến động của
từng nguồn thu trong cân đối ngân sách nhằm phục vụ cho việc phân tích đánh giá
công tác thu ngân sách;
Dùng các phương pháp phân tích thống kê, phân tích kinh tế và thống kê
toán để phân tích, đánh giá và kiểm định thực trạng thu trong cân đối ngân sách trên
cơ sở các số liệu thứ cấp và sơ cấp đã được tổng hợp.
3.4. Phương pháp chuyên gia và chuyên khảo
Ngoài những phương pháp kể trên, Luận văn còn thu thập ý kiến của các
chuyên gia và các nhà quản lý có liên quan đến công tác thu ngân sách như: Các cán
bộ lãnh đạo Thành phố và cấp xã, phường, các cán bộ làm công tác tài chính lâu
năm, Giám đốc các doanh nghiệp tư nhân và Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)
trực thuộc Chi cục thuế quản lý thu để có căn cứ khoa học cho việc rút ra các kết
luận một cách xác đáng và đề ra các giải pháp tăng nguồn thu trong cân đối ngân
sách trên địa bàn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng và nội dung nghiên cứu

thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được
thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà
nước [23]
Thực chất, Ngân sách nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn
liền với quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi
Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các
chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định.
Về bản chất, NSNN là các quan hệ lợi ích kinh tế giữa Nhà nước với các chủ
thể khác như doanh nghiệp, cơ quan hành chính sự nghiệp (HCSN), hộ gia đình, cá

4


nhân và các tổ chức khác trong và ngoài nước gắn liền với quá trình tạo lập, phân
phối và sử dụng quỹ NS [1]
NSNN bao gồm những nguồn thu cụ thể được định hướng nộp vào quỹ tiền
tệ, đồng thời NSNN gồm những khoản chi được cấp ra từ quỹ tiền tệ ấy. Nguồn thu
của NSNN do luật quy định, cụ thể là Luật thuế và các văn bản nhà nước quy định.
Về chi có quy định tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước. Trên cơ sở nguồn thu và
nhiệm vụ chi nhằm đạt được mục tiêu cân đối ngân sách.
Hệ thống NSNN của các nước trên thế giới được tổ chức phù hợp với bộ
máy quản lý hành chính (QLHC) nhà nước. Đối với nước ta, NSNN được tổ chức
thành: NS Trung ương và NS địa phương. NSĐP bao gồm NS của đơn vị hành
chính các cấp có Hội đồng Nhân dân (HĐND) và Ủy ban Nhân dân (UBND).
NSĐP bao gồm NS tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (TW); NS cấp quận,
huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và NS xã, phường, thị trấn [7]
1.1.2. Đặc điểm của ngân sách nhà nước
Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh
tế - chính trị của nhà nước, nhà nước ban hành những luật lệ nhất định để thực hiện
chức năng của mình.

của kinh tế thị trường. Nhà nước sử dụng NSNN thông qua công cụ là chính sách
thuế khóa và chi tiêu công để thực chính sách xã hội, cung cấp hàng hóa dịch vụ
công, phát triển cân đối các vùng miền, thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ môi
trường sinh thái.
Thứ tư, NSNN như là công cụ để định hướng hình thành cơ cấu kinh tế, thúc
đẩy phát triển sản xuất. Thông qua hoạt động chi NS, nhà nước sẽ đầu tư vào các
ngành, lĩnh vực then chốt nhằm đảm bảo tính ổn định hoặc chuyển sang cơ cấu mới
hợp lý hơn. Định hướng kích thích hoặc hạn chế sản xuất, tạo môi trường kinh
doanh lành mạnh, bảo đảm tính công bằng và hiệu quả kinh tế - xã hội.
Thứ năm, NSNN là công cụ kinh tế quan trọng mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngoại, kích thích xuất khẩu, bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng.
Ở điều kiện nhất định, nhà nước ban hành hệ thống những cơ chế chính sách
để thực hiện, đồng thời sử dụng NSNN hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm khuyến
khích phát triển sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu, thúc đẩy và khuyến khích hoạt
động xuất nhập khẩu phát triển.

6


1.2. QUẢN LÝ THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.2.1. Thu ngân sách nhà nước
1.2.1.1. Khái niệm
Thu NSNN là việc nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần
nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thoả mãn các nhu cầu của nhà
nước. Xét về hình thức, thu NSNN là một hoạt động, là quá trình của nhiều hành vi,
hành động của Nhà nước. Xét về nội dung, thu NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng
các quyền lực có được của mình để động viên, phân phối một bộ phận của cải của xã
hội dưới dạng tiền tệ về tay nhà nước nhằm hình thành nên quỹ NSNN [6]
1.2.1.2. Đặc điểm của thu ngân sách nhà nước
Thu NSNN có những đặc điểm đó là: Thu NSNN luôn gắn với quyền lực của

1.2.1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước
* Nhân tố GDP bình quân đầu người
Đây là nhân tố quyết định đến mức động viên ngân sách nhà nước. Khi trình
độ kinh tế phát triển và mức thu nhập bình quân của người dân tăng lên, không chỉ
tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn ngân sách,
mà còn đòi hỏi các chính sách, chế độ, định mức kinh tế - tài chính, mức chi tiêu
ngân sách phải thay đổi phù hợp với sự phát triển kinh tế và mức thu nhập, mức
sống của người dân. Đây là nhân tố được các quốc gia trên thế giới quan tâm trong
quá trình quản lý hoạch định chính sách thu chi NSNN.
* Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển kinh tế. Tỷ suất doanh lợi
cao thì nguồn tài chính càng lớn từ đó nguồn động viên vào NSNN sẽ càng nhiều.
Căn cứ vào tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế để xác định tỷ suất thu NSNN. Đối với
nước ta hiện nay tỷ suất doanh lợi còn thấp nên mức động viên vào NSNN chưa cao.
* Tiềm năng tài nguyên thiên nhiên của đất nước
Đối với quốc gia có nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú sẽ tác động tích
cực đến mức động viên NSNN. Đối với nước ta, nếu tỷ trọng xuất khẩu dầu thô và
khoáng sản lớn hơn 20% thì mức động viên NSNN cao và có khả năng tăng nhanh.
* Mức độ trang trải các khoản chi phí của nhà nước
Nhân tố này ảnh hưởng bởi: Quy mô tổ chức bộ máy nhà nước và hiệu quả
hoạt động của bộ máy nhà nước; Nhiệm vụ kinh tế -xã hội mà nhà nước đảm nhiệm
trong từng thời kỳ; Chính sách sử dụng kinh phí của nhà nước.

8


* Nhân tố về thể chế tài chính
Thể chế tài chính là nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu, chi ngân sách. Đó
chính là những văn bản của Nhà nước có tính quy phạm pháp luật chi phối mọi quá
trình hoạt động của các cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý thu, chi ngân

vực: SNKT; SNGD, y tế, văn hóa, xã hội; chi QLNN; chi ANQP… Đặc điểm cơ
bản của chi thường xuyên đó là: những khoản chi có tính chất liên tục; chi mang
tính chất tiêu dùng; phạm vi, mức độ chi thường xuyên phụ thuộc vào cơ cấu tổ
chức của bộ máy nhà nước và quy mô cung ứng các hàng hóa công của Nhà nước.
1.2.2.2. Nội dung các khoản chi NSNN
- Chi đầu tư phát triển: Gồm chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn do trung ương quản lý; Đầu tư
và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, góp vốn cổ phần, liên doanh
vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước
theo quy định của pháp luật; Chi hỗ trợ tài chính, bổ sung vốn, hỗ trợ và thưởng
xuất khẩu cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật; Phần
chi đầu tư phát triển trong các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước; Chi
hỗ trợ các tổ chức tài chính của Nhà nước do Trung ương quản lý; Chi bổ sung dự
trữ nhà nước; Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật;
- Chi thường xuyên: Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y
tế, xã hội, văn hóa thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công
nghệ, môi trường, các sự nghiệp xã hội khác; Các hoạt động sự nghiệp kinh tế;
Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; Hoạt động của cơ quan nhà nước; Hoạt
động của Đảng Cộng sản Việt Nam; Hoạt động của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam; Liên đoàn Lao động Việt Nam; Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Hội Liên hiệp
Phụ nữ Việt Nam; Hội Nông dân Việt Nam; Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh; Trợ giá theo chính sách của Nhà nước; Phần chi thường xuyên trong các
chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước; Hỗ trợ Quỹ Bảo hiểm xã hội; Trợ
cấp cho các đối tượng chính sách xã hội; Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; Các khoản chi thường
xuyên khác theo quy định của pháp luật;
- Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay;
- Chi viện trợ cho các Chính phủ và tổ chức nước ngoài;

10


và trách nhiệm trong việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước.

11


1.3.1. Các nguyên tắc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Phân cấp quản lý NSNN đảm bảo các nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế, xã hội, quốc phòng an ninh
của nhà nước và năng lực quản lý của mỗi cấp trên địa bàn.
Thứ hai, ngân sách trung ương và ngân sách địa phương được phân định
nguồn thu, nhiệm vụ chi cụ thể: Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, đảm bảo
thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia như: các dự án đầu tư
phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có tác động đến cả nước hoặc nhiều địa
phương, các chương trình, dự án quốc gia, các chính sách xã hội quan trọng, điều
phối hoạt động kinh tế vĩ mô của đất nước, đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại
và hỗ trợ địa phương chưa cân đối được thu, chi ngân sách;
Thứ ba, việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính
quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, thời gian thực hiện
phân cấp này phải phù hợp với thời kỳ ổn định ngân sách ở địa phương; cấp xã
được tăng cường nguồn thu, phương tiện và cán bộ quản lý tài chính - ngân sách để
quản lý tốt, có hiệu quả các nguồn lực tài chính trên địa bàn được phân cấp;
Thứ tư, kết thúc mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, căn cứ vào khả năng nguồn
thu và nhiệm vụ chi của từng cấp, theo thẩm quyền quy định Quốc hội, Hội đồng
nhân dân điều chỉnh mức bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp
dưới; Ủy ban thường vụ quốc hội, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc điều
chỉnh tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp [7]
1.3.2. Yêu cầu của phân cấp nguồn thu cho các cấp chính quyền địa phương
Phân cấp về nguồn thu cho NS các cấp chính quyền địa phương phải đảm bảo
các yêu cầu sau:
- Gắn với nhiệm vụ và khả năng của từng cấp, hạn chế việc bổ sung từ ngân

Chính phủ các nước, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài cho chính phủ Việt
Nam; phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản phí và lệ phí do
các cơ quan, đơn vị thuộc trung ương tổ chức thu không kể phí xăng, dầu và lệ phí
trước bạ; phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật các khoản thu sự nghiệp
của các đơn vị do các cơ quan trung ương trực tiếp quản lý; chênh lệch thu lớn hơn
chi của ngân hàng nhà nước Việt Nam; thu kết dư ngân sách trung ương; thu chuyển

13


nguồn ngân sách từ ngân sách TW năm trước chuyển sang; các khoản phạt tịch thu và
thu khác của ngân sách TW theo quy định của pháp luật [7].
Các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100% bao gồm: Thuế nhà,
đất; thuế tài nguyên không kể thuế tài nguyên thu được từ hoạt động dầu khí; thuế
môn bài; thuế chuyển quyền sử dụng đất; tiền cho thuê đất, thuê mặt nước không kể
tiền thuê mặt nước thu từ hoạt động dầu khí, tiền đền bù thiệt hại đất; tiền thuê bán
nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước; lệ phí trước bạ; thu từ hoạt động xổ số kiến thiết; thu
nhập từ vốn góp của ngân sách địa phương; tiền thu hồi vốn của ngân sách địa
phương tại các cơ sở kinh tế, thu từ quỹ dự trữ tài chính của cấp tỉnh; viện trợ không
hoàn lại của các tổ chức cá nhân nước ngoài trực tiếp cho địa phương theo quy định
của pháp luật.
Phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản phí, lệ phí do
các cơ quan, đơn vị thuộc địa phương tổ chức thu, không kể phí xăng, dầu và lệ phí
trước bạ; Thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác; phần nộp ngân sách
theo quy định của pháp luật từ các khoản thu sự nghiệp của các đơn vị do địa
phương quản lý. Huy động từ các tổ chức cá nhân theo quy định của pháp luật;
đóng góp tự nguyện của các tổ chức cá nhân ở trong và ngoài nước; thu từ huy động
xây dựng. Thu từ kết dư ngân sách địa phương; các khoản phạt, tịch thu và thu khác
của ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật; thu bổ sung từ ngân sách
cấp trên; thu chuyển nguồn từ ngân sách địa phương năm trước sang ngân sách địa

hành quyết định số 12/2010/QĐ-UB ngày 22/10/2010 về việc phân cấp nguồn thu,
nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách Tỉnh Quảng Bình năm 2011 và thời kỳ ổn định
ngân sách mới theo quy định của Luật ngân sách
Nguồn thu 100% của NS Thành phố bao gồm: Thuế môn bài (trừ thuế môn bài
thu từ các cá nhân và nhóm kinh doanh nhỏ ở xã, thị trấn); các khoản phí, lệ phí, thu
từ hoạt động sự nghiệp của các cơ quan thuộc thành phố quản lý; viện trợ không
hoàn lại của pháp luật; đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các
công trình kết cấu hạ tầng theo quy định; đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá
nhân ở trong và ngoài nước; thu kết dư ngân sách; bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh;
các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân
sách cấp huyện và ngân sách cấp xã gồm: Thuế chuyển quyền sử dụng đất; thuế
nhà, đất; tiền sử dụng đất; thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế tài nguyên; lệ phí
trước bạ; thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước và một số khoản thu khác

15


theo quy định của pháp luật. Thu lệ phí trước bạ, không kể lệ phí trước bạ nhà đất
phát sinh trên địa bàn.
2.3.3.3. Phân định nhiệm vụ thu đối với ngân sách xã, phường
Theo quy định của Luật, ngân sách xã, phường có các nguồn thu sau:
Nguồn thu 100% gồm: Thuế môn bài thu từ các cá nhân và nhóm kinh doanh
nhỏ; thuế sát sinh; các khoản phí, lệ phí và đóng góp thu cho ngân sách xã theo quy
định của pháp luật; thu hoa lợi công sản khác; tiền thu từ hoạt động sự nghiệp do
xã, thị trấn quản lý; các khoản đóng góp tự nguyện cho xã, thị trấn; viện trợ không
hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở trong và ngoài nước trực tiếp cho các xã, thị
trấn theo quy định của pháp luật; thu kết dư ngân sách xã, thị trấn; bổ sung từ ngân
sách cấp trên; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
Nguồn thu điều tiết gồm: Thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà đất, thuế

hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch vốn đầu tư phát triển thuộc NSNN và văn
bản hướng dẫn của UBND cấp tỉnh;
Số kiểm tra về dự toán ngân sách do cơ quan có thẩm quyền thông báo;
Tình hình thực hiện dự toán ngân sách năm trước. [3]
1.4.2. Quy trình lập dự toán, phân bổ ngân sách nhà nước
Quy trình lập dự toán, phân bổ ngân sách gồm có 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Hướng dẫn lập dự toán ngân sách và thông báo số kiểm tra.
Căn cứ Chỉ thị của Thủ tưởng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển KT XH và dự toán NSNN năm sau; Thông tư hướng dẫn lập dự toán NSNN và thông
báo số kiểm tra về dự toán NSNN của Bộ Tài chính cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương. UBND cấp tỉnh hướng dẫn và thông báo số kiểm
tra về dự toán NS cho các đơn vị trực thuộc và Ủy ban nhân dân cấp huyện. UBND
cấp huyện tiếp tục hướng dẫn và thông báo số kiểm tra về dự toán NS cho các đơn
vị trực thuộc và UBND cấp xã.
- Giai đoạn 2: Lập và thảo luận dự toán ngân sách.
Trên cơ sở các văn bản hướng dẫn và số kiểm tra, các đơn vị tiến hành lập dự toán
thu, chi NS trong phạm vi nhiệm vụ được giao, báo cáo cơ quan quản lý cấp trên
trực tiếp. Đơn vị dự toán cấp I xem xét, tổng hợp, lập dự toán tổng thể báo cáo cơ

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status