BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM
KHOA KINH TẾ
NGUYỄN DUY LINH
NHỮNG THÁCH THỨC CỦA CÔNG CUỘC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
TẠI CÁC CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER
TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU
Ở HUYỆN TRÀ CÚ
TỈNH TRÀ VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÁNG 9-2010
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM
KHOA KINH TẾ
NGUYỄN DUY LINH
NHỮNG THÁCH THỨC CỦA CÔNG CUỘC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
TẠI CÁC CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER
TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU
Ở HUYỆN TRÀ CÚ
TỈNH TRÀ VINH
TS. NGUYỄN TẤN KHUYÊN
Đại học Kinh Tế TP.HCM
3. Phản biện 1
TS. NGUYỄN HỮU DŨNG
Đại học Kinh tế TP.HCM
4. Phản biện 2
TS. LÊ QUANG THÔNG
Đại học Nông Lâm TP.HCM
5. Ủy viên
TS. ĐẶNG THANH HÀ
Đại học Nông Lâm TP.HCM
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
HIỆU TRƯỞNG
3
LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Tôi tên: Nguyễn Duy Linh, sinh ngày 22 tháng 09 năm 1969.
Quê quán: Thị xã Trà Vinh, Tỉnh Trà Vinh.
Con ông Nguyễn Văn Bường và bà Đặng Thị Thu Vân.
Tốt nghiệp tú tài tại Trường phổ thông trung học thị xã Trà Vinh năm 1987.
Tốt nghiệp hệ Cao đẳng ngành Kinh tế nông nghiệp năm 1992 tại trường Đại
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn Thạc sỹ khoa học kinh tế, tôi đã nhận được sự giúp đở
tận tình của Ba Mẹ, quý cơ quan và các nhà khoa học.
Lời đầu tiên con xin chân thành khắc ghi công ơn của Ba Mẹ, người đã sinh
thành và dưỡng dục cho con nên người.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến tiến sỹ Trần Đắc Dân, người đã tận tình giúp
đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu nhà trường, Phòng sau đại học, Khoa
kinh tế Trường đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, đã tạo điều kiện về mọi
mặt giúp tôi hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Ban Dân tộc, Sở Lao động Thương binh và Xã hội,
Cục thống kê, Sở Nông nghiệp PTNT, Ngân hàng CSXH tỉnh và chi nhánh huyện Trà
Cú, UBND huyện Trà Cú, UBND 3 xã Tân Hiệp, Long Hiệp, Ngọc Biên và các anh
Trưởng ban nhân dân các ấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho trong quá trình thu thập số
liệu.
Tác giả luận văn
Nguyễn Duy Linh
6
TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Những thách thức của công cuộc xóa đói giảm nghèo tại
các cộng đồng người dân tộc Khmer, trường hợp nghiên cứu ở huyện Trà Cú, tỉnh
Trà Vinh”. Được tiến hành nhằm:
Phân tích các hoạt động của chương trình xóa đói giảm nghèo. Xác định
những khó khăn và thách thức của chương trình nơi cộng đồng người dân tộc Khmer.
Đề tài được tiến hành, thực hiện từ tháng 03 đến tháng 05 năm 2010 tại 3 xã
Vinh province.
The study result has showed that, there are two groups of factors of challenges which have
affected to the hunger eradication and poverty alleviation program: one is by the subjective
factors from the beneficiaries themselves and the other is by the objective factors from the
failure of poverty programs.
8
MỤC LỤC
TRANG
Trang tựa
Trang Chuẩn y
i
Lý lịch cá nhân
ii
Lời cam đoan
iii
Cảm tạ
iv
Tóm tắt
3
1.3
Phạm vi nghiên cứu
3
1.4
Phạm vi không gian
3
1.5
Phạm vi thời gian
4
1.6
Đối tượng nghiên cứu
4
1.7
Cấu trúc của đề tài
7
9
2.1.3.1
Dân số và tập quán
7
2.1.3.2
Đời sống văn hóa tinh thần
8
2.1.4
Vấn đề nghèo đói và người Khmer Trà Vinh
8
2.1.4.1
Thực trạng nghèo đói của người Khmer
9
2.2
Tổng quan huyện Trà Cú
13
2.2.1
Vị trí địa lý
13
2.2.2
Tình hình kinh tế xã hội
14
2.3
Kết quả của chương trình xóa đói giảm nghèo
15
2.3.1
Kết quả giảm nghèo của tỉnh qua hai giai đoạn
15
Cơ sở lý luận
22
3.1.1
Khái niệm về nghèo đói
22
3.1.2
Các thước đo nghèo đói
23
3.1.3
Nguyên nhân của đói nghèo
24
3.1.4
Lý thuyết về sinh kế
27
3.1.5
3.2.3
Phương pháp thu thập số liệu
33
3.2.3.1
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
33
3.2.3.2
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
33
3.2.3.3
Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
34
3.2.3.4
Chọn địa điểm nghiên cứu
34
Những thay đổi của sinh kế và tài sản sinh kế của người Khmer nghèo
40
4.1.4
Đặc điểm về vị trí địa lý của cộng đồng người Khmer nghèo
42
4.2
Những thách thức mang tính chủ quan
43
4.2.1
Phong tục tập quán của người Khmer
43
4.2.2
Trình độ học vấn của người Khmer
46
4.2.3
Dự án nhà ở cho người nghèo
56
11
4.3.4
Dự án khuyến nông - khuyến ngư
60
4.3.5
Dự án hỗ trợ vốn cho người nghèo
62
4.3.6
Dự án cơ sở hạ tầng
66
4.4
Thị trường nông sản địa phương
70
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CAMA (The Christian and Missionary Alliance) Liên minh Cơ đốc giáo và truyền giáo
CTMTQG
Chương trình mục tiêu Quốc gia
ĐBKK
Đặc biệt khó khăn
ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long
FFS
(Farmer Field School) Tập huấn khuyến nông tại hiện trường
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
IFAD
Quỹ Phát triển Nông nghiệp Quốc tế
IMPP
Dự án Cải thiện sự tham gia thị trường cho người nghèo
Diễn biến hộ nghèo tỉnh Trà Vinh năm 2009
7
Bảng 2.2
Diễn biến hộ nghèo
9
Bảng 2.3
Tỷ lệ Khmer và hộ Khmer nghèo phân theo huyện
10
Bảng 4.1
Đặc điểm kinh tế - xã hội của mẩu
36
Bảng 4.2
Các khoản chi tiêu bình quân hộ/năm
45
Bảng 4.3
Bảng 4.8
Diễn biến hộ nghèo qua các năm 2005 - 2009
55
Bảng 4.9
Biến động hộ nghèo qua 2 năm 2008 – 2009
56
Bảng 4.10 Số hộ nghèo được hưởng chính sách nhà ở
57
Bảng 4.11 Biến động hộ nghèo tại địa bàn xã nghiên cứu năm 2009
59
Bảng 4.12 Kết quả đầu tư phát triển sản xuất năm 2009 từ nguồn NHCS
62
Bảng 4.13 Mục đích sử dụng nguồn vốn NH.CSXH của hai nhóm hộ
64
Bảng 4.14 Số lượt hộ nghèo Khmer nợ tiền vay từ các nguồn
58
Hình 4.3
Những dãy nhà của mạnh thường quân cất đang vắng bóng người
59
Hình 4.4
Những con đường thiếu tầm nhìn chiến lược
69
phát triển kinh tế địa phương
15
5
1.1 Đặt vấn đề
Chương 1
GIỚI THIỆU
Đói nghèo là một vấn đề mang tính toàn cầu, nó không chỉ là vấn đề riêng của
một vùng lãnh thổ hay một quốc gia cụ thể nào. Tất cả các quốc gia trên toàn Thế
giới dù phát triển, đang phát triển hay kém phát triển đều có mối lo riêng và quan tâm
giải quyết đến vấn đề đói nghèo. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, quá trình
quả khảo sát mức sống dân cư năm 1993 và 2006 cho thấy tốc độ giảm nghèo của
đồng bào dân tộc thiểu số chậm hơn người Kinh và người hoa; Tỷ lệ nghèo của
đồng bào dân tộc thiểu số từ 84,4% năm 1993 giảm còn 52,3% vào năm 2006, trung
bình mỗi năm giảm 2,4%; Trong khi đó tỷ lệ nghèo của người Kinh và Hoa là
53,9% năm 1993 giảm còn 10,36% vào năm 2006 trung bình mỗi năm giảm 3,15%.
Trà Vinh là một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long với tỉ lệ người
dân tộc Khmer chiếm trên 30% dân số tỉnh, nền kinh tế chậm phát triển so với các
tỉnh trong khu vực và cả nước. Năm 2009, hộ nghèo tập trung chủ yếu ở các xã
vùng sâu, vùng xa và đa số hộ nghèo là hộ đồng bào dân tộc với điều kiện sinh sống
rất khó khăn, trình độ văn hóa còn hạn chế, thiếu kiến thức để ứng dụng kỹ thuật
vào sản xuất. Năm 1995 tỷ lệ hộ đói nghèo trong tỉnh là 25,65% với 46.497 hộ, năm
2009 còn 21,15% với 51.082 hộ. Trong tình hình đó, năm 1995 huyện Trà Cú có
11.915 hộ nghèo chiếm 38,30%, năm 2009 13.539 hộ nghèo chiếm 33,31% (có
9.823 hộ người Khmer nghèo) là huyện mà dân số phần lớn là người Đồng bào dân
tộc (chiếm gần 60% tổng số hộ) và có tỷ lệ hộ Khmer nghèo cao nhất trong tỉnh
chiếm 40,01% với 9.823 hộ nghèo và chiếm 72,55% trên tổng số hộ nghèo chung
của huyện.
Những năm qua với sự tác động của nhiều nguồn lực từ các chương trình
mục tiêu quốc gia, đặc biệt là chương trình 135 (giai đọan 1 và 2), chương trình 134
đến các vùng đông đồng bào dân tộc sinh sống. Qua đó, đã có rất nhiều những cá
thể, nhóm cộng đồng người Khmer Trà Vinh đã thoát nghèo đồng thời có không ít
hộ vẫn ở mức nghèo đói. Để tìm hiểu nguyên nhân của sự khác biệt giữa các cá thể,
nhóm cộng đồng người Khmer nghèo tại vùng nghiên cứu như: sự khác biệt trong
sinh kế (giữa các cá thể và các nhóm có cùng điều kiện như nhau), khả năng tiếp
nhận và sử dụng nguồn lực, hiệu quả, tác động của chương trình xóa nghèo đến
từng nhóm hộ và đặc biệt là vốn xã hội mà họ tích lũy được đã hỗ trợ họ như thế
nào trong vấn đề thoát nghèo. Với lý do trên đề tài Những thách thức của công
cuộc xóa đói giảm nghèo tại các cộng đồng người Khmer. Trường hợp nghiên
cứu ở huyện Trà Cú - Trà Vinh được thực hiện tại huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh,
trong thời gian từ tháng 03 đến tháng 09 năm 2010.
nghèo tại địa phương và tổng quan về tài liệu nghiên cứu (chương 2). Chương 3
những cơ sở, quan điểm và những khái niệm liên quan đến những nội dung chính
của nghiên cứu, phân tích nhằm giải quyết những vấn đề mà các mục tiêu đề tài đặt
ra. Chương 4 phần kết quả chính của nghiên cứu đề tài, và cuối cùng là đưa ra
những kết luận và đề xuất dựa trên những kết quả nghiên cứu được trình bày trong
chương 5.
6
Chương 2
TỔNG QUAN ĐỊA BÀN VÀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan tỉnh Trà Vinh
Vị trí địa lý của tỉnh Trà Vinh giới hạn từ: 9o31’46’’ đến 10o04’05” vĩ độ
Bắc và 105o57’16” đến 106o36’04” kinh độ Đông.
Nguồn: />
Hình 2.1: Bảng đồ vị trí địa lý tỉnh Trà Vinh
2.1.1 Vị trí địa lý – dân số - lao động
Trà Vinh là một tỉnh đồng bằng, nằm giữa hai Sông Tiền và Sông Hậu. Phía
đông giáp Biển Đông, phía tây giáp tỉnh Vĩnh Long, cách TP.HCM 210 km theo
đuờng Quốc lộ 53, 130 km theo đường Quốc lộ 60 (đi qua tỉnh Bến Tre) và cách
TP. Cần Thơ 100 km theo đường Quốc lộ 1 và 53, với diện tích đất tự nhiên 222,5
7
nghìn ha, trong đó đất nông nghiệp là 182 nghìn ha chiếm 81,8%, đất lâm nghiệp
5,6 nghìn ha chiếm 2,5%, đất mặt nước nuôi trồng thủy sản 22,6 nghìn ha chiếm
Bảng 2.1. Diễn biến hộ nghèo tỉnh Trà Vinh năm 2009
Huyện, Thị xã
Tổng số Số hộ
Thực hiện năm 2009
Hộ
Tỷ lệ
hộ
Nghèo Hộ thoát Hộ
nghèo
hộ
Hộ
đầu năm nghèo
có
đến
nghèo
mới mới bổ
Phát sung 01/05/09 (%)
sinh
37
Thị xã Trà Vinh
22.630 1.621
Huyện Càng Long
35.798 6.545
Huyện Châu Thành 33.735 7.054
Huyện Cầu Kè
2.1.3 Tổng quan về người Khmer Trà Vinh
1.685
5.499
7.760
6.799
5.083
7.223
13.539
3.494
51.082
7,45
15,36
23,00
24,39
20,23
22,93
33,31
14,42
21,15
Nguồn: Cục Thống Kê 2009
2.1.3.1. Dân số và tập quán
Người Khmer là một trong số 3 cộng đồng dân tộc (Kinh, Khmer, Hoa) sinh sống
lâu đời ở Trà Vinh Từ nửa sau thế kỷ 17. Cộng đồng người Khmer sinh sống trong những
cộng đồng riêng với những phong tục văn hóa riêng biệt. Dân số người Khmer Trà vinh
theo số liệu thống kê 2009 hiện có 73.969 hộ với 323.990 người đang sinh sống đều khắp
các nơi trong tỉnh nhưng tập trung nhiều nhất là các huyện Châu Thành, Trà Cú, Cầu
Khmer ở Việt Nam hiện nay theo Phật giáo Tiểu thừa (Lê Hương, 1969). Các tục lệ,
thói quen người đời đều chiếu theo lời Phật dạy, căn cứ theo kinh sách nhà Phật.
Ngôi chùa trong xóm ấp là trung tâm điểm của các cuộc hội họp, lễ bái, vui chơi,
học tập (Toan Ánh và Cửu Long Giang, 2002).
Mỗi năm người Khmer có riêng 8 lần lễ và đều cử hành ở chùa. Trong đó, 3
lễ quan trọng nhất là Chôl Ch’năm Thmây, Đôn Ta, Ok Ang Bok. Chỉ có lễ Vào
năm mới theo sự tích Bà La Môn, các lễ còn lại theo Phật giáo (Lê Hương,1969).
2.1.4 Vấn đề nghèo đói và người Khmer Trà Vinh
Tỷ lệ hộ nghèo của Trà Vinh qua các năm đều giảm từ 24,4% năm 1998
xuống còn 22,4% năm 2001 và 19,74% năm 2002, bình quân mỗi năm giảm gần
1% các năm sau đó đến hết giai đọan I của chương trình 135. Bước sang giai đoạn
II tốc độc giảm nghèo của tỉnh có tăng cao, bình quân khoảng 2,08% hàng năm, từ
31,57% năm 2005 xuống còn 21,15% năm 2009.
Bảng 2.2. Diễn biến hộ nghèo
Đvt
2005
2006
2007
2008
2009
231.849
235.299
21,07
21,15
- Tổng số hộ Khmer
Hộ
68.221
68.463
-
-
- Hộ Khmer nghèo
Hộ
30.712
29.589
- Tỷ lệ hộ Khmer nghèo
%
45,02
Bảng 2.3. Tỉ lệ hộ Khmer và hộ Khmer nghèo tỉnh Trà Vinh phân theo huyện
Huyện, thị xã
Thị xã Trà Vinh
Huyện Càng Long
Huyện Châu Thành
Huyện Cầu Kè
Huyện Tiểu Cần
Huyện Cầu Ngang
Huyện Trà Cú
Huyện Duyên Hải
Toàn tỉnh
Tổng
Tổng số
% hộ
Số hộ dân cư hộ Khmer Khmer
22.630
4.677
20,67
35.798
33.735
27.881
25.121
31.503
40.641
24.234
241.543
2.317
11.353
1.110
23,73
1.051
3.738
2.896
2.360
4.334
9.823
1.262
26.574
45,36
32,93
33,39
29,52
39,55
40,01
36,60
35,93
Nguồn: Cục Thống kê 2009
2.1.4.2 Nguyên nhân nghèo của người Khmer
Nhiều yếu tố tổng hợp đã tạo nên sự nghèo đói, trong đó có nguyên nhân nền
kinh tế toàn tỉnh chưa phát triển mạnh, nhất là lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Tuy nhiên đối với người dân tộc Khmer, nguyên nhân
nghèo đói mang một tính chất cụ thể hơn. Dưới đây xin trích dẫn quan điểm của đại
diện của hai cơ quan có mối quan hệ gần gũi với người dân tộc Khmer là Sở Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn và Ban Dân tộc tỉnh, về nguyên nhân nghèo đói của
người Khmer ở Trà Vinh.
Sản xuất bị thiên tai, thất mùa;
-
Gia đình bệnh hoạn phải tốn tiền nhiều, vay ngoài nặng lãi;
-
Gia đình đông con, ít lao động, chi phí cao, dễ bệnh tật;
-
Trình độ học vấn thấp -> Thiếu KHKT -> SX kém hiệu quả;
-
Phần lớn làm ăn thiếu tính toán, SX còn manh mún tự cung tự cấp.
2.1.4.3 Các chương trình xóa đói giảm nghèo ở Trà Vinh
Cũng như nhiều năm trước, năm 2009 tỉnh Trà Vinh đã thực hiện nhiều
chương trình, dự án để nâng cao đời sống nói chung và giúp đỡ hộ nghèo nói riêng
đặc biệt là người Khmer. Các chương trình dự án này rất đa dạng, bao gồm 9
chương trình dự án như sau:
(1) Chính sách hỗ trợ về y tế
(2) Chính sách miễn, giảm học phí và các khoản đóng góp đối với học sinh
nghèo
(3) Chính sách miễn giảm thuế nông nghiệp
(4) Dự án hỗ trợ về nhà ở
(5) Dự án hỗ trợ tín dụng từ Ngân hàng phục vụ người nghèo.
chóng ổn định sản xuất và đời sống.
Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, gắn với chế biến, tiêu thụ
sản phẩm để khai thác nguồn tài nguyên và sử dụng lao động tại chỗ, tạo thêm
nhiều cơ hội về việc làm và tăng thu nhập, ổn định đời sống, từng bước phát triển
sản xuất hàng hóa.
Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn phù hợp với quy hoạch sản xuất và bố trí
lại dân cư, trước hết là hệ thống đường giao thông; nước sinh hoạt; hệ thống điện ở
những nơi có điều kiện, kể cả thủy điện nhỏ.
Quy hoạch và xây dựng các trung tâm cụm xã, ưu tiên đầu tư xây dựng các
công trình về y tế, giáo dục, dịch vụ thương mại, cơ sở sản xuất tiểu thủ công
nghiệp, cơ sở phục vụ sản xuất và phát thanh truyền hình.
Đào tạo cán bộ xã, bản, làng, phum, soóc, giúp cán bộ cơ sở nâng cao trình
độ quản lý hành chính và kinh tế để phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội tại địa
phương.
2.1.5.2 Chương trình 134
Là chương trình thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở
và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn cùng
42