Header Page 1 of 166.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ TRANG
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TÌNH HUỐNG HỌC TẬP VÀ HƯỚNG DẪN
HỌC SINH GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG HỌC TẬP KHI DẠY HỌC VỀ
CHƯƠNG "CHẤT RẮN VÀ CHẤT LỎNG. SỰ CHUYỂN THỂ"
(VẬT LÍ 10 CƠ BẢN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2009
Footer Page 1 of 166.
Header Page 2 of 166.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ TRANG
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TÌNH HUỐNG HỌC TẬP VÀ HƯỚNG DẪN
HỌC SINH GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG HỌC TẬP KHI DẠY HỌC VỀ
CHƯƠNG "CHẤT RẮN VÀ CHẤT LỎNG. SỰ CHUYỂN THỂ"
(VẬT LÍ 10 CƠ BẢN)
Chuyên ngành: Phương pháp giảng dạy
Mã số
lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học, bảo
đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh, đồng thời tăng
cường sử dụng phương tiện dạy học. Để làm được điều đó thì một trong
những biện pháp quan trọng là nghiên cứu và định hướng hoạt động nhận
thức của học sinh trong giờ học. Trong lĩnh vực này đã có một số tác giả
nghiên cứu, như:
Luận văn thạc sĩ của Trịnh Thị Hải Yến với đề tài:"Sử dụng phương
pháp nhận thức (phương pháp mô hình) trong dạy học vật lí phổ thông nhằm
phát triển tư duy học sinh". Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Thanh Hà thực
hiện "Nghiên cứu sử dụng một số phương pháp dạy học nhằm tích cực hoá
hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học phần dụng cụ quang
học, tán sắc và giao thoa ánh sáng ở trường THPT nhằm nghiên cứu đầy đủ
sâu sắc sự phối hợp các phương pháp dạy học ở THPT. Luận văn thạc sĩ của
Footer Page 3 of 166.
-1-
Header Page 4 of 166.
Trần Văn Nguyệt đi sâu nghiên cứu về các tình huống có vấn đề, các kiểu
hướng dẫn học sinh tích cực, tự lực giải quyết vấn đề khi dạy học chương "Áp
suất của chất lỏng và chất khí" v.v.
Tuy nhiên chương "Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể", phần kiến
thức có nhiều ứng dụng quan trọng trong kĩ thuật và trong cuộc sống hàng
ngày thì còn ít được nghiên cứu.
Từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: Nghiên cứu xây dựng tình
huống học tập và hướng dẫn học sinh giải quyết tình huống học tập khi dạy
học một số kiến thức chương " Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể ".(Vật lý
những khó khăn, sai lầm phổ biến khi dạy học phần kiến thức đó.
- Đề xuất các biện pháp xây dựng tình huống học tập và hướng dẫn học
sinh giải quyết tình huống học tập trong giờ học Vật lý.
- Thiết kế tiến trình dạy - học trên cơ sở xây dựng các tình huống học
tập và hướng dẫn học sinh giải quyết tình huống học tập, khi dạy học một
số kiến thức chương "Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể" (Vật lý lớp
10 cơ bản).
- Thực nghiệm sư phạm.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận.
- Khảo sát thực tế.
- Thực nghiệm sư phạm.
7. Đóng góp của đề tài
1) Hệ thống hoá một số vấn đề cơ bản về lí luận dạy học hiện đại. Đề
xuất các biện pháp xây dựng tình huống học tập và hướng dẫn học sinh giải
quyết tình huống học tập trong giờ học, vận dụng vào việc dạy học kiến thức
Vật lý 10 cơ bản.
2) Kết quả thiết kế các bài dạy như trên có thể dùng làm tài liệu tham
khảo cho giáo viên.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương.
Footer Page 5 of 166.
-3-
Header Page 6 of 166.
dưới sự chỉ đạo của người giáo viên là một quá trình thống nhất giữa mục
đích, nội dung, phương pháp là hình thức tổ chức dạy học do nhiệm vụ và tính
chất của nhà trường quy định nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học, đạt được
chất lượng và hiệu quả dạy học.
- Dạy là quá trình tổ chức nhận thức cho học sinh của người giáo viên,
bản chất của dạy học là tổ chức các tình huống học tập, các tình huống trong
đó học sinh sẽ hoạt động tích cực dưới sự hướng dẫn ít nhiều của giáo viên
nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả dạy học cao nhất. Trong quá trình này
học sinh đang phải hoạt động tích cực, phải được tăng cường củng cố khen
thưởng động viên. Vậy dạy học là dạy cho học sinh biết hành động, trong cái
gọi là hành động mà học sinh cần biết bao gồm hành động chiếm lĩnh tri thức
Footer Page 7 of 166.
-5-
Header Page 8 of 166.
và cả hành động vận dụng tri thức do vậy việc tổ chức các tình huống học tập
của giáo viên đảm bảo sự đòi hỏi thích ứng của học sinh qua đó học sinh
chiếm lĩnh tri thức đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách của mình.
- Học (hoạt động học tập) của học sinh là hoạt động của chủ thể (người
học) thích ứng với tình huống, qua đó chủ thể chiếm lĩnh những kinh nghiệm
xã hội lịch sử biến thành năng lực thể chất và năng lực tinh thần của cá nhân
hình thành và phát triển nhân cách cá nhân. Nói cách khác học là một quá
trình hoạt động tự giác, tích cực của học sinh nhằm chiếm lĩnh tri thức, kỹ
năng, kỹ sảo, phát triển được trí tuệ thể chất và hình thành nhân cách của bản
thân. Mỗi tri thức mà người học tiếp nhận được phải là kết quả của sự thích
ứng của người học với những tình huống mới nhất định. Như vậy học là một
Quá trình dạy học các tri thức thuộc một môn khoa học cụ thể được
hiểu là quá trình hoạt động của giáo viên và học sinh trong sự tương tác thống
nhất biện chứng của ba thành phần trong hệ dạy học:
- Giáo viên.
- Học sinh.
- Tư liệu hoạt động dạy học (môi trường) trong sự vận hành của hệ
tương tác dạy học gồm ba thành phần trên đây thì thầy giáo là người tổ chức,
kiểm tra định hướng hành động của học sinh theo một chiến lược hợp lý sao
cho học sinh tự chủ chiếm lĩnh tri thức cho mình theo một chiến lược hợp lý
từ đó để học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức cho mình do đó năng lực trí tuệ
và nhân cách toàn diện của họ từng bước được phát triển. Hoạt động của giáo
viên với tư liệu hoạt động dạy học (môi trường) là sự tổ chức tư liệu qua đó
cung cấp tư liệu và tạo tình huống hoạt động của học sinh.
Tác động trực tiếp của giáo viên tới học sinh là sự định hướng của giáo
viên đối với hành động của học sinh với tư liệu là sự định hướng của giáo
viên đối với sự tương tác trao đổi giữa học sinh với nhau và qua đó đồng thời
còn định hướng cả sự cung cấp những thông tin liên hệ ngược từ phía học
Footer Page 9 of 166.
-7-
Header Page 10 of 166.
sinh cho giáo viên. Đó là những thông tin cần thiết cho sự tổ chức và định
hướng của giáo viên với hành động của học sinh. Hoạt động của học sinh
với tư liệu hoạt động dạy học là sự thích ứng của học sinh đối với tình huống
học tập đồng thời là hoạt động chiếm lĩnh, xây dựng tri thức cho bản thân
mình và sự tương tác đó của học sinh với tư liệu đem lại cho giáo viên
"thầy - trò; trò - trò", tổ chức cho người học hợp tác và học hỏi lẫn nhau trên
cơ sở phát huy tính tích cực, tự lực chủ động tham gia hoạt động của tập thể
người học. Học sinh là chủ thể của quá trình học tập, chỉ thực sự đạt kết quả
cao nếu học sinh là người có ý thức chủ động tích cực và sáng tạo.
1.2. Phương pháp dạy học
1.2.1. Chức năng và đặc điểm của phương pháp dạy học
Theo nghĩa triết học phương pháp (hay còn gọi là thách thức, thủ thuật)
là sự vận động của nội dung tới mục đích. Quá trình dạy học ở phổ thông
bao gồm hoạt động dạy (Tổ chức, điều khiển) của giáo viên và hoạt động
của học sinh.
Chức năng của giáo viên là dạy, chức năng của học sinh là học và dạy
như thế nào, học như thế nào để đạt hiệu quả cao đó là phương pháp dạy học.
* Chức năng cơ bản của phương pháp dạy học.
+ Chức năng nhận thức.
+ Chức năng phát triển trí tuệ.
+ Chức năng giáo dục.
Như vậy khái niệm phương pháp dạy học phổ thông là tổng hợp các
hình thức hoạt động của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện tốt các nhiệm
vụ dạy học góp phần tạo điều kiện tốt nhất cho các em bước chân vào ngưỡng
cửa của các trường Đại Học, Cao Đẳng và đáp ứng được yêu cầu ngày càng
cao của xã hội.
* Đặc điểm của phương pháp dạy học.
- Phương pháp dạy học mang tính mục đích, để đạt được mục đích phải
có phương pháp dạy học nào đó. Nói cách khác phương pháp dạy học phải
gắn liền với các yêu cầu của xã hội. Ngoài việc trang bị tri thức khoa học còn
phải rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp cho học sinh. Phương pháp dạy
học phải có tính kế thừa và phát huy các phương pháp dạy học mới.
Footer Page 11 of 166.
viên và hoạt động học của học sinh. Trong quá trình đó thống nhất cách thức
dạy, cách học là phương pháp dạy học.
Footer Page 12 of 166.
- 10 -
Header Page 13 of 166.
Việc phân loại phương pháp dạy học dựa trên luận điểm cơ bản về cấu
trúc bên ngoài và bên trong của phương pháp, căn cứ vào nguồn kiến thức và
đặc trưng của sự truyền nhận thông tin (bên ngoài), căn cứ vào lôgic trong
quá trình dạy học (cấu trúc bên trong), dựa vào phương pháp dạy học phổ
thông, phân tích bản chất của quá trình dạy học, căn cứ vào mục đích, nhiệm
vụ của lý luận dạy học. Người ta có thể phân ra thành các kiểu phương pháp
dạy học cơ bản sau:
- Kiểu thông báo, thu nhận, tái hiện của học sinh.
- Kiểu giải thích tìm kiếm bộ phận.
- Kiểu trình bày nêu vấn đề, giải quyết vấn đề, nghiên cứu.
Tuy nhiên cách phân loại như vậy chưa đặc trưng đầy đủ cho các
phương pháp điều khiển quá trình nhận thức của học sinh. Tuỳ theo mục tiêu,
nội dung, điều kiện dạy học, tình hình đặc điểm của học sinh... mà có sự lựa
chọn và phân phối chúng trong quá trình giảng dạy cho phù hợp.
Điều quan trọng đối giáo viên phải luôn tự trả lời câu hỏi: Dạy cái gì?
Người học phải biết gì? Hoặc biết làm gì trước trong và sau khi học? Thực tế
người học biết gì? Dạy như thế nào?
Để trả lời câu hỏi thứ tư đòi hỏi phải biết lựa chon các phương pháp và
thủ pháp dạy học thích hợp.
Để làm rõ cách thức và những ưu nhược điểm của từng phương pháp đã
thức sẵn có cho học sinh thuộc lòng, học máy móc, học suông. Giáo viên độc
quyền đánh giá kết quả học tập của học sinh.
* Ưu điểm của phương pháp này:
+ Giúp học sinh nắm vững những phần lý thuyết một cách thuận lợi
trong thời gian hạn hẹp, học sinh được cung cấp một lượng thông tin lớn.
+ Bồi dưỡng cho học sinh năng lực phát hiện, nảy sinh các thắc
mắc,hoài nghi khoa học rèn luyện phần nào óc phê phán, nắm được các mâu
thuẫn hành động nói chung
* Nhược điểm của phương pháp
Hạn chế việc học kết hợp với hành, dễ để học sinh thụ động tiếp thu tri
thức khoa học, ít gắn liền học tập với lao động sản xuất.
Footer Page 14 of 166.
- 12 -
Header Page 15 of 166.
1.2.2.2. Kiểu phương pháp giải thích, tìm kiếm từng bộ phận
(Phương pháp trực quan)
Thực chất của kiểu giải thích, tìm kiếm từng bộ phận là kiểu phương
pháp dạy học,trong đó có sự kết hợp giữa giải thích của giáo viên về một phần
tài liệu học tập,phần còn lại của tài liệu đó do các hoạt động tìm kiếm của
học sinh dưới các hình thức giải các bài tập nhận thức có vấn đề và những câu
hỏi có vấn đề.
Khi vận dụng phương pháp này có thể áp dụng nhóm phương pháp dạy
học trực quan với các phương pháp cụ thể là trình bày mẫu, hướng dẫn học
sinh quan sát, tổ chức cho học sinh tham quan, phương pháp luyện tập,
phương pháp ôn tập và phương pháp trình bày thí nghiệm .
quyết vấn đề từ khi còn đang đi học, họ có điều kiện vận dụng trong suốt cuộc
đời, học sinh có khả năng thích ứng nhanh với xã hội với tiến bộ khoa học
công nghệ phát triển không ngừng.
Thực tiễn phương pháp giải quyết vấn đòi hỏi người dạy và người học
phải làm chủ tri thức, làm chủ tình thế, phải chủ động sáng tạo phát triển tới
người học,phải sáng tạo ra tri thức mới,chứ không phải là người tiêu thụ tri
thức mới.
Phát huy cao độ tiềm năng tri thức đã có,phát hiện và sáng tạo ra những
ý tưởng mới nhăm giải quyết các vấn đề được đặt ra.Vì vậy đây là phương
pháp dạy học tích cực,ngày càng được vận dụng trong việc dạy học ở các cấp,
các ngành.
1.2.3. Một số cơ sở của việc lựa chọn phương pháp dạy học
1.2.3.1. Chọn những phương pháp dạy học có khả năng cao nhất đối
với việc thực hiện mục tiêu dạy học
Mỗi mô hình lí luận dạy học, PPDH đều có những điểm mạnh, điểm
hạn chế nhất định. Nhưng khi xem xét việc thực hiện một mục tiêu dạy học
nhất định thì có một số PPDH có khả năng cao hơn các PPDH khác.Chẳng
hạn nếu đặt mục tiêu nhanh chóng truyền thụ cho xong nội dung quy định thì
PPDH thuyết trình có vị trí quan trọng. Nhưng nếu đặt mục tiêu phát triển
năng lực tìm tòi sáng tạo của học sinh thì vấn đề sẽ khác đi.
Footer Page 16 of 166.
- 14 -
Header Page 17 of 166.
Việc lựa chọn các phương pháp dạy học thường bắt đầu từ việc xác
định đặc điểm, khả năng của mỗi phương pháp. Do đó ở đây chúng tôi xin nêu
sinh.
Trực quan
Nâng cao hiệu quả dạy học
Giáo
nhờ có những biểu tượng
nhiều thời gian
rõ ràng. Phát triển tư duy
chuẩn bị cho bài
trực quan, hình tượng trí
học. Tư duy trừu
nhớ.
tượng
sinh
viên
cần
của
tư. Mất nhiều thời
gian lên lớp
Footer Page 17 of 166.
- 15 -
Header Page 18 of 166.
Tái hiện
Truyền đạt lượng thông tin
Tính độc lập tư
nhanh và hệ thống, củng cố
duy kém
trí nhớ. Hình thành kỹ
năng, kỹ xảo.
Dạy
học
Cá nhân hoá việc lĩnh hội
Thời gian nhiều
tìm
tòi,nghiên cứu
PP đặt và
Phát triển kỹ năng hoạt
Cần
giải quyết
động nhận thức sáng tạo,
gian. Không dùng
vấn đề
kỹ năng nắm kiến thức độc
được khi cần rèn
lập. Có thể sử dụng khi
luyện kỹ năng, kỹ
kiến thức không hoàn toàn
xảo
mới mà phát triển một
PP
làm
Hình thành năng lực làm
Cần tính đến sự
việc
độc
việc độc lập. Biến kiến
hướng
lập
của
thức thành niềm tin. Rèn kỹ
giáo viên trước
năng, kỹ xảo thực hành.
những
Phát triển ý trí.
thích với nội dung dạy học. Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ mật thiết với
những hoạt động nhất định.
Footer Page 19 of 166.
- 17 -
Header Page 20 of 166.
1.2.3.3. Lựa chọn PPDH cần chú ý đến hứng thú, thói quen của học
sinh, kinh nghiệm sư phạm của giáo viên
1) Cần chuẩn đoán nhu cầu, hứng thú của học sinh khi lựa chọn các
PPDH.
Đối với việc trình bày thông tin cần ưu tiên lựa chọn các PP sử dụng
phương tiện nghe nhìn, sử dụng truyền thông đa phương tiện càng tốt.
Đối với các hoạt động chế biến thông tin cần tổ chức các hoạt động tự
phát hiện, phối hợp với làm việc theo nhóm, phát huy càng tối đa tính tích
cực, sáng tạo của học sinh càng tốt.
2) Chú ý thay đổi PPDH và hình thức tổ chức dạy học tránh nhàm chán,
gây hứng thú cho học sinh.
3) Ưu tiên lựa chọn các PPDH mà học sinh, giáo viên đã thành thạo.
Với các PPDH có ưu điểm tương đương, cần ưu tiên lựa chọn PPDH
mà GV và HS đã thành thạo, bởi vậy thực hiện dễ dàng hơn.
Không vì tiêu chí này mà quay trở lại vớ PP truyền thụ một chiều. Hiện
nay, rất cần thiết phải cho GV và HS trở nên quen thuộc với các kĩ thuật dạy
học mới có hiệu quả cao trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục.
1.2.3.4. Lựa chọn PPDH phù hợp với điều kiện dạy học
1) Ở đây đề cập đến PPDH diễn ra trong mối quan hệ với các điều kiện
vật chất, đặc biệt là thiết bị dạy học (TBDH). Đương nhiên là cần phải lựa
SGK đã trình bày các đơn vị kiến thức theo định hướng hoạt động. Trong
từng đơn vị kiến thức, GV có thể tổ chức những hoạt động khác nhau để HS
chiếm lĩnh kiến thức. Căn cứ vào nội dung kiến thức trong SGK, điều kiện
thiết bị, thời gian học tập và khả năng học tập của HS, GV cân nhắc và lựa
chọn nội dung để tổ chức cho HS hoạt động. Một số hoạt động thường gặp
trong dạy học vật lí là:
1. Tổ chức tình huống học tập (chủ yếu là xác định nhiệm vụ học tập)
– Đặt câu hỏi nghiên cứu
– Nêu dự đoán
– Đề ra giả thuyết
2. Thu thập thông tin
– Quan sát các hiện tượng, thí nghiệm, sự kiện
Footer Page 21 of 166.
- 19 -
Header Page 22 of 166.
– Tìm được những thông tin cần thiết từ sách, báo,...
– Lập kế hoạch khám phá
Ví dụ: Thiết kế thí nghiệm (TN); lựa chọn dụng cụ TN; chỉ ra đại lượng
cần đo; những điều cần xác định trong TN; những yếu tố cần giữ
nguyên, không thay đổi khi làm TN.
– Tiến hành khám phá
Ví dụ: bố trí, lắp đặt dụng cụ thiết bị TN; thực hiện TN theo hướng dẫn;
thay đổi phương án TN nếu kết quả không phù hợp với vấn đề đặt ra.
– Ghi các kết quả khám phá
Ví dụ: đọc số chỉ của các dụng cụ TN ở mức độ cẩn thận và chính xác
1.2.4.2. Dự kiến hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh hoạt động
Dù sử dụng phương pháp nào thì giáo viên cũng phải sử dụng một hệ
thống câu hỏi phù hợp để hỗ trợ cho phương pháp chính mà mình lựa chọn.
Hệ thống câu hỏi của giáo viên nhằm hướng dẫn học sinh tiếp cận, phát hiện
và chiếm lĩnh kiến thức trong từng hoạt động giữ vai trò chỉ đạo, quyết định
chất lượng lĩnh hội của lớp học.Trong mỗi hoạt động, giáo viên dự kiến hệ
thống câu hỏi xen kẽ với những yêu cầu học sinh hoạt động để hướng dẫn học
sinh tiếp cận, tự phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới. Mỗi hoạt động đều
nhằm mục tiêu (MT) chiếm lĩnh một kiến thức hay rèn luyện một kĩ năng cụ
thể phục vụ cho việc đạt được MT chung của bài học.
• Để đạt được yêu cầu đó giáo viên cần chú ý
1. Giảm số câu hỏi có yêu cầu thấp về mặt nhận thức, mang tính chất kiểm
tra, chỉ yêu cầu nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, thường
chỉ có một câu hỏi trả lời đúng, ngắn, không cần suy luận.
Loại câu hỏi này thường được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa kiến thức
đã học với kiến thức sắp học, khi học sinh đang tiến hành, luyện tập hoặc
khi củng cố kiến thức vừa mới học.
2.Tăng số câu hỏi then chốt nhằm vào những mục đích nhận thức cao hơn,
đòi hỏi sự thông hiểu, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa,
vận dụng kiến thức đã học cũng như các câu hỏi mở có nhiều phương án
trả lời.
Footer Page 23 of 166.
- 21 -
Header Page 24 of 166.
Loại câu hỏi này thường được sử dụng khi học sinh đang được cuốn hút
Header Page 25 of 166.
MT của loại câu hỏi này là để kiểm tra trí nhớ của học sinh về các dữ
liệu, số liệu, các định nghĩa, tên tuổi, địa điểm,...
Việc trả lời các câu hỏi này giúp học sinh ôn lại được những gì đã học,
đã đọc hoặc đã trải qua. Các từ để hỏi thường là: “CÁI GÌ…”, “BAO
NHIÊU…”, “HÃY ĐỊNH NGHĨA…”, “CÁI NÀO…”, “EM BIẾT NHỮNG
GÌ VỀ…”, “KHI NÀO...”, “BAO GIỜ…”, “HÃY MÔ TẢ...”…
Ví dụ: Hãy phát biểu định nghĩa chuyển động cơ học hoặc hãy liệt kê
một số vật liệu thường dùng để chống ô nhiễm tiếng ồn.
2. Câu hỏi Hiểu
Ứng với mức độ LH 2 “thông hiểu”
- MT của loại câu hỏi này là để kiểm tra cách HS liên hệ, kết nối các dữ liệu,
số liệu, tên tuổi, địa điểm, các định nghĩa…
- Việc trả lời các câu hỏi này cho thấy học sinh có khả năng diễn tả bằng lời
nói, nêu ra được các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong nội
dung đang học. Các cụm từ để hỏi thường là: “TẠI SAO…”, “HÃY PHÂN
TÍCH…”, “HÃY SO SÁNH…”, “HÃY LIÊN HỆ…”, “HÃY PHÂN
TÍCH…”,…
- Ví dụ: Hãy tính vận tốc của vật khi biết cụ thể độ dài quãng đường đi được
và thời gian để đi hết quãng đường đó; hoặc hãy xác định giới hạn đo và chia
nhỏ nhất của bình chia độ.
3. Câu hỏi Vận dụng
Ứng với mức độ LH 3 “vận dụng”
- MT của loại câu hỏi là để kiểm tra khả năng áp dụng các dữ liệu, các khái
niệm, các quy luật, các phương pháp… vào hoàn cảnh và điều kiện mới.
- Việc trả lời các câu hỏi áp dụng cho thấy học sinh có khả năng hiểu được
các quy luật, các khái niệm… có thể lựa chọn tốt các phương án để giải quyết,