Tiểu luận cao học môn các chuyên đề kinh tế toàn cầu hóa về kinh tế, vấn đề chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của việt nam và giải pháp chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của TP hà nội - Pdf 41

MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế
toàn cầu, trong đó ưu tiên thực hiện các công việc theo yêu cầu gia nhập WTO.
Đồng thời tiến hành đẩy mạnh hội nhập đa dạng hóa, đa phương hóa trên tất cả các
cấp độ thế giới, khu vực và song phương. Những nỗ lực hội nhập kinh tế trên tất cả
các cấp độ như vậy đã mang lại các thành quả rất đáng khích lệ trong công cuộc
phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, trước những yêu cầu của tình hình mới, tiến
trình thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam vẫn đang đứng
trước nhiều khó khăn thách thức do phải tiến hành đồng thời các lộ trình cam kết
theo nhiều cấp độ khác nhau.

Trong xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, hội nhập
vào nền kinh tế quốc tế đang trở thành một xu thế khách quan với hầu hết tất
cả các quốc gia trên thế giới. Việt Nam cũng đang từng bước tham gia hội
nhập cùng với nền kinh tế quốc tế mà mở đầu rõ nhất bằng sự kiện chúng ta
đã gia nhập vào WTO tháng 11/2007. Đây cũng là thời cơ nhưng cũng là
thách thức không nhỏ đối với Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay.
Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, em xin mạnh dạn chọn đề tài: “Toàn cầu
hóa về kinh tế, vấn đề chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và
giải pháp chủ động hội nhập kinh tế Quốc tế của TP.Hà Nội” để mong góp
một phần nhỏ vào những cố gắng chung trong việc xây dựng hệ thống lý luận
kinh tế Việt Nam trong thời đại ngày nay.

1


NỘI DUNG
CHƯƠNG I. Toàn cầu hoá
1. Khái luận chung về toàn cầu hoá
Toàn cầu hoá là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và
trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng

công nghiệp đã tạo ra thị trường thế giới...Thay cho tình trạng cô lập trước kia
của các địa phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những
quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc”.

3


Toàn cầu hóa kinh tế khởi nguồn từ trao đổi thương mại, dần dần phát
triển sang nhiều lĩnh vực khác như sản xuất, dịch vụ, đầu tư, môi trường, xã
hội. Nó thu hút tất cả các nền kinh tế của các quốc gia, không phân biệt giàu,
nghèo, phát triển hay chưa phát triển, quốc gia lớn và cả quốc gia bé, các
nước có chế độ chính trị khác nhau.
Toàn cầu hóa kinh tế làm cho các mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia
gắn bó với nhau, phụ thuộc vào nhau, tác động lẫn nhau. Thông qua toàn cầu
hóa mà nền kinh tế các nước tạo ra những lợi thế mới để thúc đẩy lực lượng
sản xuất, kỹ thuật công nghệ phát triển từ đó làm cho nền kinh tế của từng
nước có thể vượt qua các thế yếu của mình mà tạo ra lợi thế mới và thế mạnh
mới. Nhưng ngược lại toàn cầu hóa cũng có thể làm cho nền kinh tế của từng
nước, từ chỗ có lợi thế so sánh, từ chỗ có thế mạnh lại trở thành nền kinh tế
yếu kém, không có lợi thế, nếu bỏ lỡ thời cơ.
Toàn cầu hóa kinh tế cũng dẫn đến xu thế khu vực hóa kinh tế. Khu vực
hóa kinh tế thực chất là sự tập hợp lực lượng của các nền kinh tế khu vực để
hỗ trợ nhau tạo ra sức mạnh của từng khu vực kinh tế thích ứng với toàn cầu
hóa kinh tế. Hiện tượng này chính là sự thể hiện sinh động, đa dạng mà thống
nhất của toàn cầu hóa. Chúng ta có thể kể ra đây rất nhiều khu vực kinh tế
như : ASEAN, Đại Tây Dương, EU, Bắc Phi, APEC, FTAA, Ấn Độ Dương ...
Xu thế toàn cầu hóa kinh tế được thể chế hóa thành nhiều văn bản mang
tính quốc tế như các công ước, hiệp định quốc tế và được tổ chức thành các tổ
chức kinh tế, thương mại, tài chính - tiền tệ. Đây là một quá trình đấu tranh
gay gắt kéo dài của các nền kinh tế của các quốc gia, giữa nước nghèo và

tỷ USD, giảm 14% so với năm 2003. Trong khi đó, FDI ở các nước đang phát
triển tăng 40%, với tổng giá trị 233 tỷ USD. Rõ ràng nếu không có toàn cầu
hoá kinh tế thì không thể quốc tế hoá vốn và di chuyển dễ dàng từ nước này
qua nước khác.
Toàn cầu hoá kinh tế chẳng những thúc đẩy FDI tăng lên mà ở mức độ
lớn đã thúc đầy tự do hoá đầu tư. Mấy năm qua, do môi trường đầu tư được
cải thiện, xu thế lưu thông tự do đầu tư đã tăng lên rõ rệt. “Báo cáo của Hội
nghị mậu dịch Liên Hợp quốc” năm 2004 cho biết hai nước có FDI đổ vào
5


nhiều nhất là Mỹ và Anh, trong đó Mỹ tiếp nhận tới 96 tỷ USD và nước Anh
tới 78 tỷ USD. Mặc dù các nước đang phát triển đã ra sức mở cửa thị trường
vốn của mình và đưa ra nhiều chính sách ưu đãi đối với đầu tư nước ngoài,
nhưng do cơ chế và thị trường còn nhiều khâu yếu kém, nên trình độ tự do
hoá tiền vốn của các nước đang phát triển kém hơn nhiều so với các nước
phát triển. Đây chính là vấn đề mà các nước đang phát triển cần nghiên cứu
và hoàn thiện để tận dụng được cơ hội tốt của toàn cầu hoá.
Ba là, toàn cầu hoá kinh tế đã “bật đèn xanh” cho tự do hoá lưu chuyển
tiền tệ. Trong điều kiện ngày nay, mọi tổ chức ngân hàng, tài chính, tiền tệ và
thị trường chứng khoán của các nước đều phải phát triển theo xu thế toàn cầu
hoá. Nếu ra đời xu thế này, thì không thể nói tới tự do hoá lưu chuyển tiền
vốn.
Ba thị trường chứng khoán nổi tiếng là New York, London và Tokyo
giờ đây đã len lỏi tới khắp nơi trên thế giới đề thu hút tiền vốn. Thông qua
việc không ngừng điều chỉnh tỷ giá hối đoái, những đồng tiền như USD, Euro
và đồng Franc của Thuỵ Sĩ đều trở thành đồng tiền dự trữ và có thể tự do lưu
hành ở các nước. Tóm lại, tiền tệ được tự do lưu hành như hiện nay rõ ràng do
tác động mạnh mẽ của tiến trình toàn cầu hoá.
Bốn là, toàn cầu hoá đã thúc đẩy phát triển sản xuất xuyên quốc gia.

và nhạy cảm như: lối sống, đạo đức, nghệ thuật... Bởi lẽ toàn cầu hóa kinh tế
là cơ sở, là điều kiện làm cho các dòng thác văn hóa, lối sống giữa các nước
tràn ngập vào nhau một cách ồ ạt, bất khả kháng, nước chủ nhà dù có muốn
chặn lại cũng không thể chặn nổi.

7


4. Kết luận chung về toàn cầu hoá
Nhận rõ mặt tích cực và mặt hạn chế của toàn cầu hóa kinh tế, tất cả các
quốc gia đều phải biết chủ động để bơi theo dòng chảy, nếu không sẽ bị vùi
lấp và nhấn chìm. Hiện nay các nước chậm phát triển đã và đang tập hợp để
đấu tranh chống o ép, chống lại sự đè nén của các nước lớn, cố gắng bằng mọi
cách giành lấy từng phần quyền lợi cho dân tộc, đất nước mình. Từ đó cho
thấy sự đoàn kết đấu tranh quốc tế của những người nghèo, của các quốc gia
nghèo trên thế giới cũng như từng khu vực hơn lúc nào hết, giờ đây được đặt
ra một cách khẩn thiết.
Trình độ vận dụng, mức độ khai thác mặt tích cực của toàn cầu hóa kinh
tế, khả năng hạn chế mặt tiêu cực của toàn cầu hóa kinh tế ở từng nước rất
khác nhau. Tất cả đều phụ thuộc vào chính chủ quan của mỗi nước, đó là bản
lĩnh vững vàng của mỗi dân tộc. Vai trò và khả năng của Đảng cầm quyền và
sự quản lý của nhà nước ở mỗi quốc gia. Ở đây nổi trội lên là sự chủ động,
sáng tạo trong đường lối, chính sách phát triển, chiến lược và chiến thuật dẫn
dắt nền kinh tế của từng quốc gia.

8


CHƯƠNG II. Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
1. Khái luận chung về hội nhập kinh tế quốc tế

thường nhấn mạnh trên thế giới có hai thị trường vận hành theo các quy luật
riêng). Cương lĩnh của Đảng được thông qua tại Đại hội VII có đánh giá rằng,
“nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hóa sâu
sắc, ảnh hưởng lớn tới nhịp độ phát triển lịch sử và cuộc sống các dân tộc”.
Đại hội IX lần đầu tiên đề cập khái niệm “toàn cầu hóa kinh tế”, coi đó là một
xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia… và Đại hội X
khẳng định lại “Toàn cầu hóa kinh tế tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa
đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thức lớn cho các quốc
gia, nhất là các nước đang phát triển." Là một bộ phận cấu thành của thế giới,
nước ta không thể không tính đến và đứng ngoài xu thế đó.

10


Trên thực tế nền kinh tế nước ta gắn kết khá chặt chẽ với kinh tế thế giới
cả ở “đầu vào” lẫn “đầu ra”. Để duy trì tốc độ tăng trưởng tương đối cao,
nước ta cần số vốn đầu tư không nhỏ song vốn trong nước lại có hạn nên
riêng trong 5 năm qua đã phải huy động khoảng 30% nhu cầu vốn từ bên
ngoài (cả FDI lẫn ODA) và nhập khẩu một lượng đáng kể máy móc, thiết bị,
nguyên nhiên vật liệu. Do thu nhập của các tầng lớp dân cư còn thấp và cần
có ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa phục vụ sản xuất, nhiều hàng hóa làm ra
phải tiêu thụ tại thị trường bên ngoài, do đó kim ngạch xuất khẩu của nước ta
chiếm tới trên 60% giá trị GDP (nếu tính cả giá trị xuất nhập khẩu thì chúng
chiếm trên 130% GDP, so với Trung Quốc tỷ lệ đó chỉ khoảng 57%).
Với nhận thức và nhu cầu nói trên, suốt mấy chục năm qua Đảng ta luôn
luôn nhấn mạnh yêu cầu mở rộng sự hợp tác kinh tế quốc tế, đẩy mạnh xuất
khẩu, tranh thủ vốn, công nghệ từ bên ngoài. Đại hội IX lần đầu tiên đã nêu
khái niệm “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” và tháng 11/2001 Bộ Chính trị
Trung ương Đảng đã thông qua nghị quyết riêng là Nghị quyết 07/NQ-TW về
hội nhập kinh tế quốc tế. Cũng theo tinh thần đó Đại hội X bổ sung thêm ý

Chúng ta đã làm 3 việc cơ bản: Quốc hội đã thông qua nhiều đạo luật,
văn bản dưới luật tạo hành lang pháp lý phù hợp cho hội nhập (Ví dụ: Luật
Doanh nghiệp, Luật Công ty, Luật Đầu tư nước ngoài…); thực hiện sự
chuyển đổi thể chế kinh tế, đổi mới chính sách và hệ thống kinh tế vĩ mô và
cố gắng cải cách kinh tế, xây dựng cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế; để thống nhất việc
chỉ đạo quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 10/2/1998 Thủ
tướng Chính phủ ra Quyết định 31/1998-TTg thành lập Uỷ ban quốc gia về
hợp tác kinh tế quốc tế. Uỷ ban này có nhiệm vụ giúp Thủ tướng chỉ đạo và
điều hành các bộ, ban, ngành trong việc tham gia hội nhập kinh tế quốc tế.
4. Thành tựu và hạn chế
a. Thành tựu
Việt Nam ra khỏi tình trạng bị bao vây cấm vận, cô lập tạo dựng được
môi trường quốc tế, khu vực thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, nâng cao vị thế nước ta trên chính trường và thương trường thế giới.
12


Tính đến năm 2004, Việt Nam đã ký 90 hiệp định thương mại song phương,
46 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư và 40 hiệp định chống đánh thuế
hai lần với các nước và vùng lãnh thổ,81 thoải thuận về đối xử tối huệ quốc;
có quan hệ thương mại với trên 160 nước và nền kinh tế: thiết lập quan hệ với
các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế; là thành viên của ASEAN, ASEM,
APEC...
Thực hiện thành công Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
(1991-2000) GDP tăng trưởng bình quân 8,2%/năm trong giai đoạn 1991
-2000, khoảng 7% trong hai năm 2001 và 2002, năm 2003 tăng 7.24%, năm
2004 là 7,69%, năm 2005 là 8,4% và năm 2006 là 8,17% và là nước có tốc độ
tăng GDP thứ hai thế giới, chỉ đứng sau Trung Quốc. Hạ tầng cơ sở được cải
thiện rõ rệt. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế một cách tích cực theo

đồng thời giảm đáng kể nợ nước ngoài. Các nhà tài trợ đã cam kết dành cho
nước ta gần 20 tỷ USD, chủ yếu là cho vay ưu đãi và một phần là viện trợ
không hoàn lại.
b. Hạn chế
Nhiều ngành, cấp và doanh nghiệp còn chưa nhận thức đầy đủ, những cơ
hội và thách thức của tiến trình hội nhập này cũng chưa thực sự nắm vững để
có kế hoạch chủ động nắm bắt thời cơ, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và
vừa còn ít hiểu biết về lộ trình và các yêu cầu của hội nhập. Đa số vẫn trông
chờ ở sự bảo hộ của Nhà nước.
Hệ thống pháp luật, chính sách quản lý nền kinh tế thị trường không
đồng bộ, còn thay đổi, chưa phù hợp thông lệ quốc tế, do đó chưa đáp ứng
yêu cầu hội nhập. Chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế thiếu đồng bộ, nhất
quán và chưa phù hợp với điều kiện toàn cầu hóa và HNKT quốc tế, năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp nhìn chung còn yếu, chính sách vĩ mô chưa
tạo được động lực khuyến khích doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thêm vào đó năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập còn yếu, việc chỉ
đạo và thực hiện quá trình hội nhập còn bất cập; chưa có một chiến lược tổng
thể về hội nhập kinh tế quốc tế cho cả giai đoạn dài với các lộ trình mở cửa
trong từng lĩnh vực cụ thể.
14


CHƯƠNG III. Giải pháp nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế
sau khi Việt Nam gia nhập WTO của TP.Hà Nội
Nền kinh tế nước ta đang hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới. Là
Thủ đô, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, thương mại và du lịch của Việt
Nam, Hà Nội càng phải đi đầu trong tiến trình hội nhập.
Ngày 4/4/2013, Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Nguyễn Văn Sửu ký
ban hành Kế hoạch số 58/KH-UBND về việc đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả
Hội nhập kinh tế quốc tế thành phố Hà Nội giai đoạn 2013 - 2015.

tại các sở, ngành, đơn vị; rà soát sửa đổi những văn bản, cơ chế, chính sách
cho phù hợp với những cam kết HNKTQT mà Việt Nam tham gia nhằm tạo
môi trường pháp lý minh bạch để thu hút đầu tư nước ngoài. Rà soát, sửa đổi
và ban hành các cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển, nhằm tạo môi
trường thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động kinh doanh và
đầu tư. Thực hiện hiệu quả các chương trình hỗ trợ DN phù hợp với cam kết
HNKTQT.
3.2. Nâng cao năng lực cạnh tranh các sản phẩm và doanh nghiệp
Mặc dù đã đạt được những thành tựu lớn, song, hiện sức cạnh tranh của
nền kinh tế Thủ đô nói chung, các DN và các sản phẩm nhìn chung chưa
tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của Hà Nội. Tiềm năng thị trường trong
nước còn chưa được khai thác hiệu quả do DN trên địa bàn chủ yếu là DN
vừa và nhỏ, có quy mô vốn thấp, phụ thuộc nhiều vào vốn vay (vốn vay cao
gấp 2-5 lần vốn điều lệ); DN thiếu nhạy bén và năng động sáng tạo, chưa kết
hợp sức mạnh của các DN trong cùng ngành nghề, cùng chuỗi sản xuất; tăng
trưởng xuất khẩu chưa vững chắc, hàng hóa xuất khẩu chủ yếu vẫn là hàng sơ
chế và gia công; công nghiệp phụ trợ phát triển còn chậm nên hiệu quả xuất
khẩu chưa cao; hệ thống quản lý phân phối hàng hóa và dịch vụ chưa tốt, tình
trạng hàng giả, hàng lậu diễn biến phức tạp.
Năm 2012, theo công bố kết quả điều tra của Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (CPI) của TP. Hà
Nội giảm so với năm 2011, vì vậy năm 2013, lãnh đạo thành phố đã chỉ đạo
quyết liệt đối với các sở, ban, ngành tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành
16


chính trên cơ sở thực hiện các giải pháp đồng bộ, khả thi để nâng cao chỉ số
năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Theo đó, Hà Nội sẽ tiếp tục đẩy mạnh cải cách
thủ tục hành chính để cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, giải phóng mọi
nguồn lực xã hội và góp phần nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.

tạo điều kiện cho các DN giới thiệu, quảng bá sản phẩm và tìm kiếm đối
tác;... hỗ trợ DN về thông tin thị trường, về đăng ký, bảo hộ và phát triển
thương hiệu, về áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc
tế. Thực hiện các chương trình nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện cho các DN trên
địa bàn nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, áp dụng khoa học
kỹ thuật, công nghệ mới vào các ngành, lĩnh vực. Đặc biệt là Chương trình hỗ
trợ phát triển các ngành dịch vụ trình độ, chất lượng cao, tập trung vào các
ngành dịch vụ thương mại, bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, và
Chương trình hỗ trợ khuyến khích DN áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất, áp dụng vào các sản phẩm có thế mạnh của Thủ đô

18


KẾT LUẬN
Đã 16 năm kể từ ngày Việt Nam nộp đơn ra nhập WTO và 4 năm là thành
viên của tổ chức thương mại lớn nhất thế giới này, nền lập pháp Việt Nam đã phải
trải qua rất nhiều đợt cải cách sâu rộng, toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt là
trong lĩnh vực kinh tế thương mại và quản lý nhà nước. WTO là bàn đạp tốt, là cơ
hội để nước ta xóa bỏ cơ chế bao cấp, đổi mới tư duy theo nền kinh tế thị trường,
phát triển nhanh đất nước cho phù hợp với xu thế chung của khu vực và thế giới. Sự
mạnh tay của các cơ quan lập pháp, của các cấp chính quyền nhằm thực hiện các
cam kết của Việt Nam đã mang lại bộ mặt mới cho hệ thống pháp luật và thể chế
nước ta. Tốc độ ban hành các văn bản quy phạm là khá cao tuy nhiên trong quá
trình soạn thảo cần có sự cân nhắc, dự đoán cao hơn nữa để tránh tình trạng luật vừa
ban hành xong lại phải sửa đổi, gây khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp
trong và ngoài nước. Việt Nam thực sự đã nỗ lực trong việc tạo lập một nền lập
pháp vững mạnh và một nền hành chính trong sạch. Những kết quả mà chúng mang
lại là khá rõ ràng. Trong thời gian tới chúng ta nên tận dụng hơn nữa vị thế thành
viên của WTO để chuyển biến mọi mặt của đất nước, đưa nước ta thành một nước

Xuân Tiến, Trương Bá Thanh / NXB hành chínhh quốc gia
- “Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam” – Ngô Văn
Điểm / NXB Chính Trị Quốc Gia
- “Toàn cầu hoá, tăng trưởng và nghèo đói: Xây dựng một nền kinh tế
thế giới hội nhập” : sách tham khảo/ Vũ Hoàng Linh dịch / NXB Văn Hoá
Thông Tin
- Tạp chí cộng sản số 34/2002, 65/2002, 12/2007, 785/2008
- Tổng cục thống kê Việt Nam

20


MỤC LỤC

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status