Tiểu luận cao học môn các chuyên đề kinh tế toàn cầu hóa về kinh tế, vấn đề chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của việt nam và giải pháp chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh hải dương - Pdf 41

A. Lời mở đầu
Trong xu thế Toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, hội
nhập vào nền kinh tế quốc tế đang trở thành một xu thế khách quan với hầu
hết tất cả các quốc gia trên thế giới. Việt Nam cũng đang từng bước tham gia
hội nhập cùng với nền kinh tế quốc tế mà mở đầu rõ nhất bằng sự kiện chúng
ta đã gia nhập vào WTO tháng 11/2007. Đây cũng là thời cơ nhưng cũng là
thách thức không nhỏ đối với Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay.
Ở Việt Nam “Hội nhập kinh tế quốc tế” còn là một khái niệm mới mẻ,
được sử dụng nhiều từ giữ thập niên 1990 trở lại đây. Thuật ngữ hội nhập có
chung gốc tiếng Anh là Inteqration.
Hội nhập kinh tế thế giới là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế và thị
trường của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự
do hóavà mở cửa trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương.
Như vậy, hội nhập thực chất cũng là sự chủ động tham gia vào quá trình
toàn cầu hóa, khu vực hóa.
Hải Dương là một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng, thuộc Vùng kinh tế
trộng điểm phía Bắc, Việt Nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hải
Dương nằm cách thủ đô Hà Nội 57 km về phía Đông, cách thành phố Hải
Phòng 45 km về phía Tây. phía Tây Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía Bắc giáp
tỉnh Bắc Giang, phía Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía đông giáp thành
phố Hải Phòng, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình và Phía giáp tỉnh Hưng Yên.
Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hải Dương hiện là đô thị loại 2.
Theo quy hoạch năm 2007, Hải Dương nằm trong Vùng thủ đô với vai
trò là một trung tâm công nghiệp của toàn vùng. Đây cũng là thời cơ nhưng
cũng là thách thức không nhỏ đối với Hải Dương trong xu thế toàn cầu hoá
hiện nay. Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, tôi xin mạnh dạn chọn đề tài:
“Toàn cầu hóa về kinh tế, vấn đề chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của
Việt Nam và giải pháp chủ động hội nhập kinh tế Quốc tế của tỉnh Hải
Dương”
1


2


tốc độ giao dịch kinh doanh, rút ngắn khoảng cách về không gian và thời gian.
Công nghệ thông tin đồng thời cũng góp phần nâng cao trình độ dân trí, tạo
điều kiện cho dân chủ phát triển, thúc đẩy nhu cầu mở của, giao lưu hội nhập.
Hai là, Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thi trường
Qua trình quốc tế hoá, toàn cầu hoá có sự gắn bó chặt chẽ với tiến trình
phát triển của kinh tế thi trường. Kinh tế thị trường phát triển đã mở ra điều
kiện cho sự gia tăng xu thế quốc tế hoá, thể hiện trên hai khía cạnh chính: Thứ
nhất, kính tế thị trường mở ra cơ sở, điều kiện cho sự phát triển của lực lượng
sản xuất, làm cho quy mô sản xuất không bó hẹp trong phạm vi cua từng quốc
gia mà mang tầm quốc tế, như vậy cũng có nghĩa là thúc đẩy quá trình phân
công lao động quốc tế, gắn các quố gia vào sự ràng buộc của sản xuất và tiêu
thụ. Thứ hai, nền kinh tế thi trường phát triển của các quốc gia đưa lại cơ chế
thống nhất cho sử lý các mối quan hệ, đó là cơ chế thị trường.
Có thể nói, ngày nay nền kinh tế thế giới thống nhất với cơ chế vận hành
cơ chế thi trường.
Kinh tế thi trườngcàng phát triển thì sự giao thoa thâm nhập lẫn nhau
giữa các nền kinh tế càng tăng. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường
không chỉ ở sự mở rộng qui mô về không gian, về sự xâm nhập ràng buộc lẫn
nhau giữa các quốc gia mà còn thể hiện ở sự phát triển theo chiều sâu. Đó là
sự bùng nổ phát triển của thi trường tài chính gắn liền với sự xuất hiện của
một loạt công cụ mới trong thanh toán giao dịch. Thi trường sản phẩm hàng
hoá cũng gia tăng mạnh mẽ thể hiện ở qui mô chưa từng có của khối luqongj
giao dich thương mại và ở sự phát triển của các dang giao dịch mới như
thương mại dịch vụ và điện tử.
Như vậy có thể thấy sư phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị trường chínhlà
cơ sở, điều kiệncho quá trình quốc tế hoá. Nhìn chung các quốc gia trên thế
giới ngày nayđèu dựa trên cơ chế thị trường, sử dụng các phương tiện và công

Như vậy sự phát triển và xâm nhập ngày càng mạnh của các công ty
xuyên quốc gia vào các nền kinh tế dân tộc đã góp phần xoá bỏ sự ngăn cách
biệt lập trong phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Các quốc gia dân tộc
từng bước thamm gia, thích ứng với các chuẩn mực của nền kinh tế quốc tế
4


đồng thời nó cũng đem lại nét mới từ những bản sắc riêng, bổ sung vào nền
kinh tế toàn cầu làmm gia tăng tính đa dạng của nó.
Năm là, Sự hình thành và phát triển của các định chế toàn cầu và khu
vực.
Các định chế toàn cầu ra đời nhằm đáp ứng đòi hỏi của xu thế quốc tế
hoá, toàn cầu hoá kinh tế. Sự tồn tại và hoạt động của các định chế toàn cầu
và khu vực lại góp phần thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của xu thế toàn cầu
hoá.
Tác động của các tổ chức toàn cầu và đặc biệt là các tổ chức khu vực đến
xu thế toàn cầu hoá kinh tế thể hiện ở hai điểm chính:
Thứ nhất, việc tham gia vào các tổ chức này cho phép các quốc gia đựoc
hưỏng những ưu đãi của hoạt động kinh doanh khu vực; thúc đẩy các quốc gia
trong khu vực tiến đến những chuẩn mực chung trong quá trình sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm. Trên cơ sở các thoã thuận hợp tác song phương và đa
phươngđã làm tăng lên sự gắn bó tuỳ thuộc lân nhau giữa các nền kinh tế,
thực chất nó đã thúc đẩy phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc trong
nội bộ tổ chức.
Thứ hai hoạt động của các tổ chức này từ thấp đến cao sẽ đẩy đến hình
thành một thị trường thống nhất trong khu vực buộc các quốc gia tham gia
phải có lịch trình hội nhập tích cực để hoà đồng vào khu vực.
Nói tóm lại các tổ chức kinh tế toàn cầu và khu vực vừa là kết quả vừa là
động lực của quá trình toàn cầu hoá kinh tế.
Sáu là, Vai trò của chính phủ và sự chuyển đổi trong chính sách phát

b. Quá trình diễn ra toàn cầu hoá kinh tế.

6


Toàn cầu hóa kinh tế khởi nguồn từ trao đổi thương mại, dần dần phát
triển sang nhiều lĩnh vực khác như sản xuất, dịch vụ, đầu tư, môi trường, xã
hội. Nó thu hút tất cả các nền kinh tế của các quốc gia, không phân biệt giàu,
nghèo, phát triển hay chưa phát triển, quốc gia lớn và cả quốc gia bé, các
nước có chế độ chính trị khác nhau.
Toàn cầu hóa kinh tế làm cho các mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia
gắn bó với nhau, phụ thuộc vào nhau, tác động lẫn nhau. Thông qua toàn cầu
hóa mà nền kinh tế các nước tạo ra những lợi thế mới để thúc đẩy lực lượng
sản xuất, kỹ thuật công nghệ phát triển từ đó làm cho nền kinh tế của từng
nước có thể vượt qua các thế yếu của mình mà tạo ra lợi thế mới và thế mạnh
mới. Nhưng ngược lại toàn cầu hóa cũng có thể làm cho nền kinh tế của từng
nước, từ chỗ có lợi thế so sánh, từ chỗ có thế mạnh lại trở thành nền kinh tế
yếu kém, không có lợi thế, nếu bỏ lỡ thời cơ.
Toàn cầu hóa kinh tế cũng dẫn đến xu thế khu vực hóa kinh tế. Khu vực
hóa kinh tế thực chất là sự tập hợp lực lượng của các nền kinh tế khu vực để
hỗ trợ nhau tạo ra sức mạnh của từng khu vực kinh tế thích ứng với toàn cầu
hóa kinh tế. Hiện tượng này chính là sự thể hiện sinh động, đa dạng mà thống
nhất của toàn cầu hóa. Chúng ta có thể kể ra đây rất nhiều khu vực kinh tế
như : ASEAN, Đại Tây Dương, EU, Bắc Phi, APEC, FTAA, Ấn Độ Dương ...
Xu thế toàn cầu hóa kinh tế được thể chế hóa thành nhiều văn bản mang
tính quốc tế như các công ước, hiệp định quốc tế và được tổ chức thành các tổ
chức kinh tế, thương mại, tài chính - tiền tệ. Đây là một quá trình đấu tranh
gay gắt kéo dài của các nền kinh tế của các quốc gia, giữa nước nghèo và
nước giàu nhằm vừa bảo vệ lợi ích kinh tế của quốc gia mình vừa hòa thuận
để cùng phát triển, cạnh tranh và sinh tồn.

đẩy sự tăng trưởng kinh tế trong nước. Toàn cầu hóa kinh tế đang ngày càng
lôi cuốn nhiều dân tộc, quốc gia có trình độ phát triển kinh tế, chế độ chính trị
- xã hội khác nhau tham gia. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay và trong
nhiều năm tới Toàn cầu hóa kinh tế chưa phải là công thức tối ưu cho tất cả
các quốc gia, dân tộc. Toàn cầu hóa kinh tế chưa phải là môi trường tốt đẹp
mà vào đó ai cũng thắng, ai cũng có lợi như nhau và không ai phải trả giá. Xu
8


thế Toàn cầu hóa kinh tế diễn ra không trôi chảy, dễ dàng mà phải thông qua
quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh giữa hai nhóm nước: các nước phát triển
và các nước đang phát triển, trong sự thống nhất và mâu thuẫn giữa Toàn cầu
hóa và liên kết khu vực, giữa tự do hóa và bảo hộ mậu dịch...
a. Tích cực
- Toàn cầu hoá kinh tế thúc đẩy tự do hoá mậu dịch phát triển. Nhìn lại
tình hình buôn bán của các nước trên thế giới hiện nay, hầu như không còn
tồn tại tình trạng thị trường đơn nhất ngay cả ở cường quốc kinh tế phát triển.
Giờ đây, hầu như thị trường nội địa của các nước đều gắn với thị trường thế
giới, là bộ phận của thị trường thế giới. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước
cũng như ngành ngoại thương đóng vai trò rất lớn đối với tăng trưởng tổng
sản lượng quốc nội (GDP). Năm 2004, mức độ phụ thuộc của GDP Mỹ vào
ngành ngoại thương tới 25,9%, năm 2005, mức độ phụ thuộc của GDP Trung
Quốc với ngành ngoại thương và buôn bán đối ngoại tới 61%. Do tính phụ
thuộc vào ngành ngoại thương ngày càng cao, nên mức độ tự do hoá mậu dịch
của các nước trong khu vực Đông Nam Á cao hơn của các nước ở Mỹ Latinh.
Bởi vì, tới nay sự phát triển kinh tế của các nước Mỹ Latinh chủ yếu dựa vào
nội thu, trong khi nhân tố nhu cầu nước ngoài thấp hơn nhiều so với các nước
Đông Á.
b. Tiêu cực hay là mặt trái của quá trình toàn cầu hoá kinh tế
Những tác động tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa kinh tế bắt nguồn từ

- Toàn cầu hóa kinh tế làm trầm trọng thêm những bất công xã hội, làm
sâu thêm hố ngăn cách giàu nghèo trong từng nước và giữa các nước. Những
nước được hưởng lợi nhiều nhất trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế là những
nước có nền kinh tế thị trườngphát triển (Mỹ, EU, Nhật...), những nước chịu
nhiều thiệt thòi nhất trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế là những nước có
nền kinh tế đang và chậm phát triển, các yếu tố của kinh tế thị trường chưa
được hình thành đồng bộ.
1.4. Kết luận chung về toàn cầu hoá
Toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu của thế giới vì vậy không có một
quốc gia nào có thể đừng ngoài xu thế đó và nước ta cũng không ngoại lệ.
Toàn cầu hóa tác động vừa tiêu cực, vừa tích cực lên mọi mặt của đời sống
10


kinh tế xã hội. Điều qua trọng là chúng ta phải biết tận dụng thời cơ thuận lợi
đồng thời khắc phục những hạn chế, mặt trái của toàn cầu hóa để phát triển
đất nước, nâng cao vị thế của quốc gia trên trường quốc tế.
Nhận rõ mặt tích cực và mặt hạn chế của toàn cầu hóa kinh tế, tất cả các
quốc gia đều phải biết chủ động để bơi theo dòng chảy, nếu không sẽ bị vùi
lấp và nhấn chìm. Hiện nay các nước chậm phát triển đã và đang tập hợp để
đấu tranh chống o ép, chống lại sự đè nén của các nước lớn, cố gắng bằng mọi
cách giành lấy từng phần quyền lợi cho dân tộc, đất nước mình. Từ đó cho
thấy sự đoàn kết đấu tranh quốc tế của những người nghèo, của các quốc gia
nghèo trên thế giới cũng như từng khu vực hơn lúc nào hết, giờ đây được đặt
ra một cách khẩn thiết.
Trình độ vận dụng, mức độ khai thác mặt tích cực của toàn cầu hóa kinh
tế, khả năng hạn chế mặt tiêu cực của toàn cầu hóa kinh tế ở từng nước rất
khác nhau. Tất cả đều phụ thuộc vào chính chủ quan của mỗi nước, đó là bản
lĩnh vững vàng của mỗi dân tộc. Vai trò và khả năng của Đảng cầm quyền và
sự quản lý của nhà nước ở mỗi quốc gia. Ở đây nổi trội lên là sự chủ động,

triển, lại vừa trải qua chiến tranh tàn khốc, ác liệt...thì việc chủ động hội nhập
kinh tế với khu vực và thế giới thì lại càng cần thiết hơn bao giờ hết. Trong
quá trình hội nhập, với nội lực dồi dào sẵn có cùng với ngoại lực sẽ tạo ra thời

12


cơ phát triển kinh tế. Việt Nam sẽ mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu,
thu hút được vốn đầu tư nước ngoài, tiếp thu được khoa học công nghệ tiên
tiến, những kinh nghiệm quý báu của các nước kinh tế phát triển và tạo được
môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, một vấn đề bao giờ
cũng có hai mặt đối lập. Hội nhập kinh tế quốc tế mang đến cho Việt Nam rất
nhiều thời cơ thuận lợi nhưng cũng đem lại không ít khó khăn thử thách.
Nhưng theo chủ trương của Đảng: “ Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các
nước “, chúng ta sẽ khắc phục những khó khăn để hoàn thành sứ mệnh. Hội
nhập kinh tế quốc tế là tất yếu khách quan đối với Việt Nam.
2.1. Điều kiện để Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế.
Theo xu thế chung của thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước cố
gắng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đây không phải là một mục tiêu
nhiệm vụ nhất thời mà là vấn đề mang tính chất sống còn đối với nền kinh tế
Việt Nam hiện nay cũng như sau này. Bởi một nước mà đi ngược với xu
hướng chung của thời đại sẽ trở nên lạc hậu và bị cô lập, sớm hay muộn nước
đó sẽ bị loại bỏ trên đấu trường quốc tế. Hơn thế nữa, một nước đang phát
triển, lại vừa trải qua chiến tranh tàn khốc, ác liệt… thì việc chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế với khu vực và thế giới thì lại càng cần thiết hơn bao giờ
hết. Trong xu hướng chung đó, Việt Nam có nguồn nội lực dồi dào đủ mạnh
đề có thể đẩy mạnh phát triển nền kinh tế quốc gia và chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế.
2.2. Thực trạng hội nhập kinh tế của Việt Nam
a). Quan điểm, mục tiêu của đảng về hội nhập kinh tế quốc tế

b). Những chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm thúc đẩy tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế
Để thực hiện những mục tiêu theo những quan điểm trên, chính phủ đã
ban hành những chính sách nhằm thúc đẩy tiến trình hội nhập.
+ Nhà nước ban hành hệ thống luật đồng bộ bao gồm: luật đầu tư, luật
lao động, luật thương mại, luật ngân hàng, luật hải quan, luật bưu chính viễn
thông, luật xây dựng, luật khoa học công nghệ, luật tài nguyên...Sửa đổi và bổ
sung pháp luật và pháp lệnh hiện hành về thuế, khuyến khích đầu tư trong
14


nước và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam...Cải tiến việc ban hành văn bản
pháp luật...
+ Đối với những chính sách: Nhà nước ban hành chính sách thương
mại, tài chính, tiền tệ, đầu tư...để kích thích mở rộng thị trường, nâng cao
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp...tạo điều kiện cho nước ta hội nhập
kinh tế quốc tế.
c). Thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Con Đường hội nhập.
Theo quan điểm của đảng, Việt Nam tiến hành hội nhập từng bước, dần
dần mở cửa thị trường với lộ trình hợp lý. Một lộ trình “ quá nóng” về mức độ
%, thời hạn mở của thị trường vượt quá khả năng chịu đựng của nền kinh tế
sẽ dẫn tới thua thiệt, đổ vỡ hàng loạt doanh nghiệp, vượt khỏi tầm kiểm soát
của nhà nước, kéo theo nhiều hậu quả khó lường. Tuy nhiên, điều đó không
có nghĩa là lộ trình càng dài càng tốt, bởi kéo dài quá trình hội nhập sẽ đi liền
với duy trì quá lâu chính sách bảo hộ bao cấp của nhà nước, gây tâm lý trì trệ,
ỷ lại, không dốc sức cải tiến quản lý công nghệ, kéo dài tình trạng kém hiệu
quả, yếu sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Xác định lộ trình hội nhập là rất quan trọng. Đây không chỉ là xác định
thời gian mở cửa thị trường trong nước mà còn là xác định mục tiêu nền kinh

dịch vụ, vốn, công nghệ, nhân công… giữa Việt Nam và các nước được dễ
dàng, phù hợp với những quy định của các tổ chức/thể chế kinh tế khu vực và
thế giới mà Việt Nam tham gia.
Đồng thời việc đổi mới kinh tế trong nước, mở rộng và phát triển quan
hệ kinh tế-thương mại với các nước (đến nay, nước ta đã ký kết trên 70 hiệp
định thương mại song phương, trong đó đáng chú ý nhất và toàn diện nhất là
Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ ký năm 2001), Việt Nam đã lần lượt tham gia
vào nhiều tổ chức kinh tế, thương mại quốc tế.

16


Chương III. Tỉnh Hải Dương đã làm gì để hội nhập kinh tế quốc tế
sau khi Việt Nam gia nhập WTO?
3.1. Chủ trương chung
Ngay sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO) vào tháng 01/2007. Tại Hội nghị lần thứ 4 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tháng 02/2007, Đảng ta đã ban hành
Nghị quyết số 08-NQ/TW “Về một số chủ trương chính sách lớn để nền kinh
tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức
Thương mại Thế giới”. Để triển khai thực hiện Nghị quyết của Đảng, Chính
phủ đã có Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP ban hành Chương trình hành động
cụ thể hóa các nhóm nhiệm vụ lớn của Nghị quyết số 08-NQ/TW. Sau hơn 5
năm triển khai thực hiện, ngày 14/8/2012 Hội nghị toàn quốc đánh giá thực
hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết 16/2007/NQ-CP đã được tổ
chức tại Hà Nội dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ. Hội nghị đánh giá,
hầu hết các nhiệm vụ đề ra tại Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số
16/2007/NQ-CP đều đã được hoàn thành, góp phần vào phát triển kinh tế - xã
hội chung của cả nước, với một số điểm nổi bật như: Đã hình thành được một
hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ, đồng bộ, phù hợp với các quy định của

nước ngoài và các dự án có vốn đầu tư trong nước đem lại hiệu quả kinh tế xã hội thấp, gây ô nhiễm môi trường. Khuyến khích các dự án đem lại hiệu
quả kinh tế - xã hội, có trình độ khoa học kỹ thuật cao, thu hút nhiều lao động
và đảm bảo môi trường. Xây dựng và tổ chức triển khai tốt các chính sách
khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ thu hút các dự án đầu tư vào những vùng nông
thôn, đặc biệt là các dự án đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, chế biến hàng nông
sản thực phẩm, phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
Đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư và xúc tiến thương mại, nhất là đối
với đầu tư và phát triển thị trường trực tiếp nước ngoài; đặc biệt là thu hút đầu
tư đối với các đối tác trọng điểm có công nghệ tiên tiến như: EU, Nhật Bản,
Mỹ… Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, quán triệt nhận thức về hội
nhập kinh tế quốc tế trong toàn đảng, toàn dân; đa dạng hóa các hình thức và
nội dung thông tin truyền thông cho phù hợp với từng đối tượng. Đẩy mạnh
18


việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý và công tác
chuyên môn liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới hội nhập kinh tế quốc tế
trong giai đoạn tới.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và ý thức trách
nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh đối với công tác hội nhập
kinh tế quốc tế. Nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức
đồng thời củng cố tổ chức làm công tác hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong việc triển khai thực hiện các
chương trình, kế hoạch để thực hiện công tác hội nhập kinh tế quốc tế; bên
cạnh đó phải thường xuyên theo dõi, đánh giá kết quả đạt được của tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế, kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc để có
những giải pháp điều chỉnh bổ sung cho phù hợp.
b). Nhóm giải pháp ngành và doanh nghiệp:
Đẩy mạnh việc nâng cao năng lực cạnh tranh của tất cả các ngành kinh tế
trong tỉnh, đặc biệt là các ngành có năng lực cạnh tranh thấp. Đối với các mặt

thiện thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân. Tiếp tục tập trung phát triển thị
trường lao động, đặc biệt là khu vực nông thôn, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh
các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án, chính sách đã ban hành để
giảm nghèo bền vững, ổn định đời sống nhân dân trên địa bàn tỉnh. Tăng
cường các chính sách đảm bảo cuộc sống cho các hộ dân khi nhà nước thu hồi
đất nông nghiệp.
d) Nhóm giải pháp thể chế:
Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ hệ thống văn bản pháp quy đảm bảo phù
hợp với tình hình thực tế tại địa phương và các văn bản của Trung ương. Đẩy
nhanh và nâng cao chất lượng cải cách thủ tục hành chính theo hướng minh
bạch, thông thoáng, loại bỏ các thủ tục không cần thiết, đặc biệt là các thủ tục
liên quan đến doanh nghiệp. Nâng cao năng lực và tính chuyên nghiệp của
các cơ quan quản lý nhà nước. Bên cạnh đó cần nâng cao trình độ chuyên
môn và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức trong
việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn.

20


Tăng cường minh bạch các loại thông tin, nhất là các thông tin liên quan
đến doanh nghiệp, người dân. Tăng cường xây dựng mối quan hệ phối hợp
chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh; giữa các cơ
quan quản lý nhà nước các cấp với nhau; giữa các cơ quan quản lý và cộng
đồng doanh nghiệp, cộng đồng dân cư./

21


KẾT LUẬN
Đường lối đổi mới đã đưa đất nước ta vào một thời kỳ mới, thời kỳ mở

- Bài tham luận: “Hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam” – PGS.TS Trần
Nguyễn Tuyên.
- “Tác động của việc gia nhập các tổ chức thương mại thế giới và hội
nhập kinh tế quốc tế đến phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam – Một năm
nhìn lại” – Bộ trưởng bộ thương mại: Trương Đình Tuyển
- “Hội nhập kinh tế quốc tế với phát triển bền vững” – Lê Thế Giới, Võ
Xuân Tiến, Trương Bá Thanh / NXB hành chínhh quốc gia
- “Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam” – Ngô Văn
Điểm / NXB Chính Trị Quốc Gia
- “Toàn cầu hoá, tăng trưởng và nghèo đói: Xây dựng một nền kinh tế
thế giới hội nhập” : sách tham khảo/ Vũ Hoàng Linh dịch / NXB Văn Hoá
Thông Tin
- Tạp chí cộng sản số 34/2002, 65/2002, 12/2007, 785/2008
- Tổng cục thống kê Việt Nam
- Website Sở Công Thương Hải Dương: http://sct.haiduong.gov.vn

23


MỤC LỤC

24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status