ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THANH HẢI
QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THANH HẢI
QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng
Hà Nội - 2016
: BLTTDS
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
: CHXHCN
Hội đồng xét xử
: HĐXX
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
: HĐTPTANDTC
Tòa án nhân dân
: TAND
Tòa án nhân dân Tối cao
: TANDTC
Tố tụng dân sự
: TTDS
Luật Hôn nhân và Gia đình
: Luật HN và GĐ
cầu và rút đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập.................... 39
2.3. Quyền tự định đoạt của đƣơng sự trong việc tham gia hòa giải và tự
thỏa thuận giải quyết vụ án dân sự ............................................................. 47
2.4. Quyền tự định đoạt của đƣơng sự trong việc kháng cáo, thay đổi, bổ
sung và rút yêu cầu kháng cáo ..................................................................... 54
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 .............................................................................. 63
Chƣơng 3 ........................................................................................................ 64
v
THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT ........................... 64
CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ ........ 64
3.1. Thực tiễn thực hiện quyền tự định đoạt của đƣơng sự trong giải
quyết vụ án dân sự ở Việt Nam hiện nay .................................................... 64
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và triển khai thực hiện
có hiệu quả các quy định về quyền tự định đoạt của đƣơng sự trong giải
quyết vụ án dân sự ở nƣớc ta hiện nay........................................................ 73
KẾT LUẬN .................................................................................................... 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................... 89
vi
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong tố tụng dân sự quyền tự định đoạt của đương sự được xem là một
quyền tố tụng đặc biệt quan trọng, chi phối quá trình tố tụng dân sự và tạo nên
đặc trưng cơ bản của tố tụng dân sự so với các loại hình tố tụng khác như tố
tụng hình sự, tố tụng hành chính. Các mâu thuẫn, tranh chấp trong đời sống
Ngày 28/11/2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa XIII, kỳ họp thứ sáu đã thông qua Hiến pháp mới - Hiến pháp nước
cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, trong đó quy định Tòa án
nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
thực hiện quyền tư pháp; có nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền công
dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và
lợi ích của tổ chức, cá nhân. Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 thì nhiều
nội dung quan trọng về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt
động của Tòa án nhân dân, về Thẩm phán và Hội thẩm đã được bổ sung, sửa
đổi. Các quy định của Hiến pháp năm 2013 là sự thể chế hóa các quan điểm,
chủ trương, định hướng của Đảng về cải cách tư pháp và đã được cụ thể hóa
một bước trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân năm 2014 và nhiều đạo luật quan trọng khác. Các quy định
của Hiến pháp năm 2013 cần tiếp tục được cụ thể hóa trong các luật tố tụng
nói chung và Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự nói riêng , tạo cơ sở pháp lý cho việc giải
quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Để đáp ứng các yêu cầu trên, bên cạnh sự phát triển ngày càng sâu rộng
về mọi mặt của đời sống xã hội, ngày 25/11/2015, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc
hội khóa XIII, Quốc hội đã thông qua Dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa
đổi), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016. Theo đó, Bộ luật Tố tụng dân sự
(sửa đổi) năm 2015 được ban hành đã cụ thể hóa nhiều quy định của Hiến pháp
năm 2013, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với các quy định của Luật tổ chức
2
Tòa án nhân dân năm 2014, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành
án dân sự và các luật khác có liên quan; góp phần khắc phục các tồn tại, bất cập
sau thực tiễn mười (10) năm thi hành Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm2004; bảo đảm
việc giải quyết các vụ việc dân sự một cách dân chủ, bình đẳng, công khai, công
tốt nghiệp của Vũ Thị Thu Ngần, năm 2012 với đề tài “Quyền tự định đoạt
của đương sự trong TTDS – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”.
Bên cạnh đó, còn có một số sách chuyên khảo như: “Pháp luật TTDS
và thực tiễn xét xử” của tác giả Tưởng Duy Lượng do Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia xuất bản năm 2009; “Tìm hiểu về quyền tự định đoạt của đương sự
theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn
Phương Hạnh do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản năm
2012.
Ngoài ra, còn có các bài viết đăng trên các tạp chí như: “Nguyên tắc
quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự
Việt Nam” của TS. Nguyễn Ngọc Khánh, đăng trên Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật, số 5/2005; “Việc thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự tại
phiên tòa sơ thẩm”, đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 9/2007; “Sự
thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa dân sự sơ thẩm” của tác giả Bùi
Thị Huyền, đăng trên Tạp chí Luật học số 8/2007; “Về nguyên tắc quyền tự
định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự” của tác giả Lê Minh Hải, đăng
trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật tháng 4/2009; “Một số vướng mắc trong
quá trình thực hiện Bộ luật Tố tụng dân sự - Những kiến nghị, giải pháp hoàn
thiện” của TS. Nguyễn Văn Cường, Tạp chí Tòa án nhân dân (TAND) số 02,
tháng 01/2010; “Một số vấn đề cần đặt ra khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố
tụng dân sự” của TS. Nguyễn Văn Cường, Tạp chí TAND, số 11, tháng
6/2010; “Những vấn đề sửa đổi, bổ sung một số điều của Phần chung của Bộ
luật Tố tụng dân sự” của TS. Nguyễn Văn Cường - ThS. Phan Thị Thu Hà,
Tạp chí TAND, số 23, 24, 25 tháng 12/2011…
4
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu kể trên đã có đề cập đến quyền
tự định đoạt của đương sự trong TTDS nói chung, một số công trình đã chỉ ra
về quyền tự định đoạt của đương sự trong thủ tục việc dân sự.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Ngoài ra,
để giải quyết vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn sẽ sử dụng
một số phương pháp nghiên cứu khoa học khác như phương pháp phân tích
hệ thống, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống
kê…
5. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ các vấn đề lý luận, nội dung
các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện quyền tự định
đoạt của đương sự trong các vụ án dân sự tại Tòa án. Từ đó đưa ra một số giải
pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật và thực hiện có hiệu quả các
quy định của pháp luật về quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS nhằm
đảm bảo thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự trên thực tế.
Để thực hiện được mục tiêu này, luận văn đã hoàn thành một số nhiệm
vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền tự định đoạt của
đương sự trong TTDS;
- Nghiên cứu các quy định của Pháp luật TTDS Việt Nam có liên quan
tới quyền tự định đoạt của đương sự, tìm hiểu thực tiễn xét xử đảm bảo thực
hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự. Từ đó chỉ ra
những điểm bất cập, thiếu hợp lý trong các quy định của pháp luật về quyền
tự định đoạt của đương sự trong TTDS;
- Đề xuất một giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện những quy định về
quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS.
6
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT
CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của quyền tự định đoạt của đƣơng sự trong
giải quyết vụ án dân sự
1.1.1. Khái niệm quyền tự định đoạt của đương sự trong giải quyết vụ
án dân sự
Xã hội là hệ thống các quan hệ đa dạng và phức tạp. Quyền và lợi ích
của các chủ thể là tiền đề, động lực để các chủ thể tham gia vào các quan hệ
xã hội. Khi tham gia vào các quan hệ xã hội, các chủ thể phải thực hiện đúng
các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Việc một chủ thể
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo
quy định của pháp luật có thể sẽ xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của
chủ thể khác và dẫn đến tranh chấp.
Các chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm có quyền sử dụng
các biện pháp do pháp luật quy định để bảo vệ quyền, lợi ích đó như yêu cầu
người có hành vi trái pháp luật chấm dứt hành vi trái pháp luật, yêu cầu Tòa
án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của họ. Căn cứ Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 thì Tòa án
nhân dân là cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam. Theo đó, khi có
chủ thể yêu cầu bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của họ trong trường hợp
có vi phạm hoặc có tranh chấp thì Tòa án phải xem xét thụ lý giải quyết để
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Các vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp
luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động do Tòa
án giải quyết được gọi là vụ việc dân sự. Trong đó, đối với những việc có
tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên được gọi là vụ án dân sự; đối
8
Ở góc độ thuật ngữ thì “Quyền” là một khái niệm pháp lý dùng để chỉ
những điều mà pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá nhân, tổ
chức để theo đó mà cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai
được ngăn cản, hạn chế. Mặt khác, “Quyền” còn được hiểu là quyền năng mà
pháp luật thực định quy định cho mỗi chủ thể pháp luật, cho phép các chủ thể
đó làm một việc gì đó, yêu cầu hoặc ngăn cản người khác làm một việc gì đó
vì lợi ích của chính mình hoặc vì lợi ích người khác. Như vậy, có thể nhận
thấy, dấu hiệu đặc trưng của quyền là được ghi nhận về mặt pháp lý và được
bảo đảm thực hiện bởi các quy định của pháp luật, đồng thời phải có sự thừa
nhận về mặt xã hội, gắn liền với các chủ thể và được thể hiện cụ thể trong
thực tế đời sống thông qua các quan hệ xã hội nhất định. Đối với cá nhân, các
quyền cơ bản phát sinh và ghi nhận khi cá nhân phát triển đến một giai đoạn
nhất định, tham gia những quan hệ xã hội, những lĩnh vực hoạt động nhất
định.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “định đoạt” được hiểu là “quyết định dứt
khoát, dựa vào quyền hành tuyệt đối của mình” [47]. Theo Từ điển giải thích
thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội, thì quyền tự định đoạt
của đương sự là “Quyền tố tụng dân sự của đương sự tự quyết định việc bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ tại Tòa án… Trong tố tụng dân sự, đương
sự có quyền quyết định việc khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của mình; rút đơn khởi kiện, thay đổi yêu cầu khi khởi kiện; hòa
giải với đương sự phía bên kia” [48, tr.224]. Khi nói đến khái niệm “quyền”
thì nội hàm của nó đã bao hàm cả tính “tự định đoạt” của chủ thể có quyền,
nhưng không phải trong mọi trường hợp thuộc tính “tự định đoạt” cũng được
phản ánh đầy đủ trong phạm vi quyền. Chỉ trong các quan hệ dân sự, hôn
nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thì quyền “tự định đoạt”
của chủ thể mới được sử dụng rộng rãi và sâu sắc.
10
chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự và đảm
bảo cho các quyền này được thực thi trên thực tế.
Quyền tự định đoạt của đương sự thể hiện sự tự do ý chí của đương sự
trong việc giải quyết tranh chấp, nhưng đương sự không được thể hiện ý chí
định đoạt một cách tùy tiện mà phải thực hiện trong khuôn khổ nhất định do
pháp luật quy định, sao cho không xâm phạm tới các quyền tố tụng và quyền,
lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác hoặc lợi ích của Nhà nước và xã hội.
Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 (sau đây gọi tắt là
BLTTDS) quy định về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, theo
đó:
Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có
thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết
vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và
chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền
chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau
một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Quyền tự định đoạt của đương sự không phải là vô hạn định mà phải
được giới hạn bởi pháp luật, không xâm phạm đến quyền lợi của các chủ thể
khác. Quyền tự định đoạt này phải đặt trong mối tương quan với nghĩa vụ của
đương sự với các chủ thể khác và phải được đặt trong mối quan hệ với trách
nhiệm của công dân đối với Nhà nước và xã hội.
Qua những phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm về quyền tự định
đoạt của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự như sau:
Quyền tự định đoạt của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự là một
quyền tố tụng được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự, theo đó đương
sự thể hiện tự do ý chí của mình bằng việc tự mình lựa chọn quyết định các
12
13
và chỉ giải quyết trong phạm vi đương sự yêu cầu, tức là phụ thuộc vào ý chí
của đương sự, từ đó đảm bảo quyền và lợi ích của các đương sự.
Thứ ba, việc pháp luật tố tụng ghi nhận quyền tự định đoạt của đương
sự trong giải quyết vụ án dân sự đã tạo điều kiện cho đương sự quyết định
việc giải quyết tranh chấp. Thể hiện ở việc các chủ thể tham gia tố tụng có
quyền tự do định đoạt các quyền dân sự của mình nhằm bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp trước các vi phạm bằng việc khởi kiện hoặc rút đơn khởi kiện không
yêu cầu Tòa án giải quyết nữa hoặc các bên tự thỏa thuận, thương lượng với
nhau về việc giải quyết tranh chấp. Qua đó, góp phần làm giảm bớt áp lực giải
quyết các tranh chấp của Toà án, giúp cho việc giải quyết tranh chấp được
nhanh chóng, tiết kiệm được chi phí và thời gian của Tòa án và của đương sự.
Quyền tự định đoạt giúp đương sự quyết định phương thức giải quyết
vụ việc một cách thuận tiện, nhanh chóng và hiệu quả. Những tác dụng này có
ý nghĩa quan trọng trong việc ổn định trật tự xã hội và giúp nhân dân chủ
động trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
1.2. Cơ sở của việc ghi nhận quyền tự định đoạt của đƣơng sự
trong Pháp luật tố tụng dân sự
Nghiên cứu quyền tự định đoạt của đương sự trong giải quyết vụ án dân
sự, trước hết cần nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc pháp
luật quy định quyền tự định đoạt của đương sự.
1.2.1. Cơ sở lý luận
Trước khi tham gia vào một quan hệ tố tụng dân sự cụ thể thì các
đương sự chính là chủ thể của quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh
thương mại, lao động. Trong các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng này, các chủ
thể có các quyền dân sự nhất định và chỉ khi một trong các quyền dân sự của
chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó mới có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu Tòa
án bảo vệ. Như vậy, các quyền dân sự của chủ thể là cơ sở của quyền tố tụng
của đương sự, pháp luật còn quy định trong quá trình giải quyết vụ án dân sự
15
các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi, bổ sung yêu cầu… Nếu không có
quyền tự định đoạt trong TTDS thì sẽ không thể bảo đảm được nguyên tắc
bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự. Bởi vậy, quy định về quyền tự định đoạt
của đương sự tại Điều 5 BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 là rất cần thiết.
Bên cạnh đó, các quan hệ dân sự bao trùm lên tất cả các mặt của đời
sống xã hội nên các tranh chấp xảy ra cũng rất nhiều. Vì vậy, nếu Tòa án
muốn giải quyết các vấn đề phát sinh một cách nhanh chóng và kịp thời, nâng
cao hiệu quả cũng như sự tín nhiệm của nhân dân thì việc quy định quyền tự
định đoạt của đương sự trong TTDS là việc làm cần thiết. Chính vì lẽ đó pháp
luật quy định cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức một số quyền lợi nhất định để
họ có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị người khác xâm
phạm. Cụ thể, đương sự (cơ quan, tổ chức, cá nhân) có quyền tự mình thực
hiện khởi kiện và yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự tùy vào tính chất của vụ
việc. Đây là một trong những quyền tố tụng quan trọng của đương sự, nhờ
vào quyền tự định đoạt mà đương sự được quyền chủ động trong việc khởi
kiện, yêu cầu giải quyết vụ việc dẫn tới vụ việc dân sự được giải quyết nhanh
chóng, đúng đắn, khách quan hơn.
1.2.2. Cơ sở thực tiễn
Xã hội ngày càng phát triển dẫn đến phát sinh ngày càng nhiều quan hệ
dân sự và không thể tránh khỏi mâu thuẫn. Giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp
là một nhu cầu tất yếu và giải quyết tại Tòa án là một trong các phương thức
giải quyết tranh chấp chủ yếu. Xuất phát từ bản chất của các quan hệ pháp
luật dân sự là các bên có quyền tự định đoạt và căn cứ nhu cầu giải quyết kịp
thời, nhanh chóng các tranh chấp, pháp luật quy định đương sự có quyền tự
định đoạt trong tố tụng dân sự.
1.3. Lƣợc sử quá trình hình thành và phát triển của các quy định về
quyền tự định đoạt của đƣơng sự trong Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
17
Để có cái nhìn một cách hệ thống, tổng quát về quyền tự định đoạt của
đương sự trong giải quyết vụ án dân sự ở Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu
quá trình hình thành và phát triển của các quy định về quyền tự định đoạt của
đương sự trong Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam là điều cần thiết. Có thể
chia thành các giai đoạn cụ thể như sau:
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa ra đời, để kịp thời ổn định tình hình trật tự xã hội trong nước, Nhà
nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới trong đó có những văn bản
chứa đựng các quy phạm pháp luật TTDS như Sắc lệnh số 47/SL ngày
10/10/1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành, cho phép áp dụng luật lệ
cũ để xét xử trong phạm vi cả nước, nếu những quy định trong luật lệ cũ
“không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể Dân chủ
Cộng hòa”. Tiếp đó, tại Điều 3, Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 về Tổ
chức Tòa án và các ngạch thẩm phán quy định: “Ban tư pháp xã có quyền hòa
giải tất cả các việc dân sự và thương sự và nếu hòa giải thành sẽ lập biên bản
hòa giải, có các ủy viên và những người đương sự ký”. Sắc lệnh số 51/SL
ngày 17/4/1946 ấn định thẩm quyền của Tòa án và sự phân công giữa các
nhân viên trong Tòa án, Điều 9 của Sắc lệnh quy định: “Khi nhận được đơn
kiện về dân sự hay thương sự, ông thẩm phán sơ cấp phải đòi hai bên đến để
thử hòa giải. Biện pháp hòa giải có hiệu lực từ chứng thư”. Sắc lệnh số
16/SL ngày 10/10/1945 quy định về tổ chức đoàn thể luật sư có nêu: “Các
luật sư có quyền bào chữa ở trước tất cả các Tòa án hàng tỉnh trở lên và
trước các Tòa án quân sự”. Đến năm 1950 nhà nước ta ban hành Sắc lệnh số
bản cũ từ trước năm 1945 đồng thời củng cố, tăng cường vai trò, vị trí của
Tòa án nhân dân (tách Tòa án ra khỏi Bộ Tư pháp) cho phù hợp với tình hình
mới. Các văn bản đó là: Hiến pháp 1959, Luật Tổ chức TAND năm 1960,
Luật Tổ chức VKSND năm 1960, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959.
19