Một số biện pháp tăng cường kiểm soát, chống thất thu bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp tại bảo hiểm xã hội thành phố hải phòng - Pdf 41

1
1

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã
được chỉ rõ nguồn gốc.
Hải Phòng, ngày tháng
Tác giả

năm 2016.

Phạm Thị Vân Anh

LỜI CẢM ƠN

1


2
2

Trong quá trình học tập, nghiên cứu mặc dù gặp nhiều khó khăn, song
tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, lãnh đạo
cơ quan, bạn bè, đồng nghiệp, các đơn vị liên quan và gia đình đã tạo điều
kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này.
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS.
TS Nguyễn Thái Sơn đã nhiệt tình hướng dẫn, bổ sung kiến thức, gợi mở
nhiều vấn đề quan trọng giúp tôi hoàn thành luận văn.

Giải thích

BHXH

Bảo hiểm xã hội

BHYT

Bảo hiểm y tế

DNNQD

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

DNFDI

Doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài

DN

Doanh nghiệp

LĐTBXH

Lao động thương binh xã hội

KHTC

Kế hoạch tài chính


Ngân hàng công thương

NCL

Ngoài công lập

SDLĐ

Sử dụng lao động

TCHC

Tổ chức hành chính

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

ILO

Tổ chức lao động quốc tế
DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

4

Tên bảng

Trang


5

Kết quả thu BHXH bắt buộc theo khối loại hình năm 2011 -

38

2015.
So sánh doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và doanh nghiệp

40

tham gia BHXH
Số lao động không tham gia BHXH tại thành phố Hải

44

Phòng
Lãi suất chậm đóng BHXH bắt buộc
Số tiền nợ đọng BHXH bắt buộc của các đơn vị tại BHXH
Hải Phòng

47
48


6
6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Tình hình thu theo khối, loại hình

36
37


7

MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài

An sinh xã hội có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển
bền vững của mỗi quốc gia. Do đó chế độ an sinh xã hội đều có liên quan đến
quyền lợi và sự phát triển của con người, bởi con người chính là mục tiêu “hạt
nhân” của phát triển bền vững. Ngày nay an sinh xã hội được coi là công cụ
để xây dựng một xã hội phát triển, công bằng, văn minh. Nó cũng thể hiện
quyền của con người, đảm bảo sự đoàn kết, thống nhất và tương trợ cộng
đồng đối với những rủi ro trong cuộc sống. Giải quyết tốt vấn đề an sinh xã
hội sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đầy nền kinh tế của đất
nước phát triển.
Ở Việt Nam, bảo hiểm xã hội đã phát huy vai trò trụ cột trong hệ thống
an sinh xã hội. Những năm qua, chính sách bảo hiểm xã hội đã tác động tích
cực tới việc phát triển kinh tế, ổn định tình hình chính trị, xã hội góp phần
thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn
minh”.
Bảo hiểm xã hội không phải đơn thuần chỉ là số tiền mà người lao động
và chủ sử dụng lao động đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội để giải quyết chế
độ chính sách cho người tham gia bảo hiểm xã hội. Thông qua các chế độ
chính sách bảo hiểm xã hội cũng cho thấy sự sẻ chia giữa những người lao
động trong xã hội, tạo thu nhập ổn định cho người lao động khi hết tuổi lao

định tình hình an ninh chính trị và thực hiện tốt công tác an sinh xã hội tại
thành phố Hải Phòng.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác thu, thất thu
-

BHXH và chống thất thu BHXH
Nghiên cứu thực trạng thất thu BHXH tại Bảo hiểm thành phố Hải Phòng

-

trong giai đoạn 2012-2015.
Đề xuất giải pháp chống thất thu BHXH trong giai đoạn tới nhằm giúp người
lao động được hưởng chế độ BHXH đầy đủ hơn, tốt hơn, góp phần tăng
nguồn thu BHXH; phát triển kinh tế, ổn định tình hình an ninh chính trị và
thực hiện tốt công tác an sinh xã hội tại thành phố Hải Phòng.
3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung chủ yếu vào các nội dung
sau:
8


9
-

Thực trạng thất thu BHXH tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng.
Một số biện pháp tăng cường kiểm soát, chống thất thu BHXH tại Bảo hiểm
xã hội thành phố Hải Phòng.
4. Giả thuyết nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng thất thu bảo hiểm xã hội,

Hải Phòng.
Do điều kiện về thời gian và nguồn lực, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu
về BHXH bắt buộc, không nghiên cứu về BHYT, BH thất nghiệp.
* Phạm vi về không gian
Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi quản lý của cơ quan Bảo hiểm
xã hội thành phố Hải Phòng.
* Phạm vi về thời gian
- Các số liệu thực trạng được thu thập từ năm 2011-2015
7. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: vận dụng phương pháp duy vật biện chứng
kết hợp với duy vật lịch sử, phân tích, so sánh, tổng hợp, kết hợp phân tích lý
luận và thực tiễn.

10


11

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT, CHỐNG THẤT THU BHXH
1.1. Khái quát chung về Bảo hiểm xã hội
1.1.1.Khái niệm về Bảo hiểm
Bảo hiểm là một cách thức trong quản trị (rủi ro), thuộc nhóm biện
pháp tài trợ rủi ro, được sử dụng để đối phó với những rủi ro có tổn thất,
thường là tổn thất về tài chính, nhân mạng.
Bảo hiểm được xem là một cách thức chuyển giao rủi ro tiềm năng một
cách công bằng từ một cá thể sang cộng đồng thông qua phí bảo hiểm.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Bảo hiểm được xây dựng dựa
-


nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao động theo quy định của pháp
luật hoặc chết.”[1, tr 5].
Theo Điều 3 Luật Bảo hiểm số 71/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006:
“Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu
nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai
sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc
chết, trên cơ sở đóng vào quỹ Bảo hiểm xã hội”[1, tr 18].
Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao
động và người sử dụng phải tham gia.
Mặc dù cách diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung cả hai khái niệm trên
-

đều thể hiện rất rõ bản chất và đặc trưng cần có của Bảo hiểm xã hội. Cụ thể là:
Bảo hiểm xã hội là những quy định của nhà nước nhằm đảm bảo quyền lợi

-

của người lao động.
Người lao động được trợ giúp vật chất trong những trường hợp ốm đau, thai
sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc

-

chết.
Người lao động phải có trách nhiệm đóng góp để bảo đảm quyền lợi cho
chính họ.
1.1.3. Đặc điểm của Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm ra đời, tồn tại và phát triển như một nhu cầu khách quan. Nền
kinh tế càng phát triển thì việc thuê mướn lao động càng trở nên phổ biến thì
việc đòi hỏi sự phát triển và đa dạng của Bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm xã hội

cơ chế quản lý của Nhà nước. Bảo hiểm xã hội bắt buộc nhà nước đứng ra
thực hiện do vậy thực sự chưa có thị trường Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Xét
thực chất thị trường Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam thể hiện độc quyền, đó là: Cung
cấp Bảo hiểm xã hội do Nhà nước độc quyền cung, cầu thì bắt buộc cầu và mức
hưởng Bảo hiểm xã hội còn thấp nên dẫn đến chất lượng dịch vụ còn kém.

Thứ tư: Thực hiện thống nhất việc quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã
hội thực hiện nhiệm vụ thu, quản lý và chi trả các chế độ Bảo hiểm xã hội
chặt chẽ, đúng đối tượng và đúng thời hạn. Nguồn đóng góp của các bên tham
gia được đưa vào quỹ riêng, độc lập với Ngân sách nhà nước và quỹ Bảo
hiểm xã hội được quản lý tập trung, thống nhất và được sử dụng theo nguyên
tắc hạch toán cân đối thu - chi theo quy định của pháp luật, bảo toàn và phát
triển.
13


14

Thứ năm: Người lao động được hưởng trợ cấp Bảo hiểm xã hội trên cơ
sở mức đóng và thời gian đóng Bảo hiểm xã hội, có chia sẻ rủi ro và thừa kế.
Thông thường, mức đóng góp và mức hưởng trợ cấp đều có mối liên hệ đến
thu nhập (Tiền lương, tiền công) của người lao động. Điều này thể hiện tính
công bằng xã hội gắn liền giữa quyền và nghĩa vụ của người lao động.
1.1.4. Nội dung, mục đích và ý nghĩa của Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, là trụ
cột trong hệ thống an sinh xã hội của nhà nước, giữ vai trò quan trọng trong
đời sống kinh tế xã hội ở nước ta. Từ khí ra đời và phát triển cho đến nay, Bảo
hiểm xã hội luôn giữ vững bản chất là hoạt động vừa mang tính cộng đồng,
vừa mang tính kinh tế lại vừa mang tính nhân văn, xã hội. “Bảo hiểm xã hội
là nhu cầu của người lao động và có nhiệm vụ bảo vệ người lao động trước

14


15

pháp luật của nhà nước dưới dạng hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương,
phương hướng và biện pháp để giải quyết những vấn đề xã hội nhất định,
trước hết là những vấn đề xã hội liên quan đến công bằng xã hội, nhằm góp
phần ổn định, phát triển đất nước, thúc đẩy tiến bộ xã hội. Chính sách BHXH
là một trong những chính sách xã hội cơ bản, liên quan đến quyền và lợi ích
của người lao động, có vai trò to lớn trong việc ổn định đời sống cho người
lao động.
• Ý nghĩa của Bảo hiểm xã hội đối với nhà nước:
- Bảo hiểm xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Kể từ khi nền kinh tế
chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã mang lại
gương mặt tươi sáng cho sự phát triển toàn diện của đất nước. Cùng với sự
phát triển kinh tế là sự lớn mạnh không ngừng của hệ thống an sinh xã hội,
đặc biệt là chính sách BHXH đã phát huy vai trò trụ cột trong hệ thống an
sinh xã hội, góp phần tích cực vào việc ổn định xã hội, thực hiện mục tiêu
-

“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Bảo hiểm xã hội góp phần vào việc phân phối lại thu nhập quốc dân. Bảo
hiểm xã hội là một công cụ đắc lực của Nhà nước, góp phần vào việc phân
phối lại thu nhập quốc dân một cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân
cư, đồng thời giảm chi cho ngân sách nhà nước, đảm bảo an sinh xã hội bền

-

vững.

diện phải tham gia BHXH nhưng không muốn tham gia, có tham gia nhưng
không tham gia cho đủ số lao động; đóng BHXH với mực thấp hơn mực
lương thực tế của người lao động; chậm đóng, nợ đọng, chây ỳ…gây thất thu
quỹ BHXH.
Chống thất thu BHXH là quá trình, là sự tác động bằng những giải
pháp, biện pháp nhằm giảm số người thuộc diện tham gia BHXH nhưng
không được tham gia hoặc không tham gia BHXH; đảm bảo thu đúng, thu đủ,
thu kịp thời, hạn chế nợ đọng, chây ỳ hay không đóng BHXH cho người lao
động.
1.2.2. Phân loại thất thu BHXH
* Trốn đóng BHXH là việc các đơn vị, doanh nghiệp không thanh toán
khoản tiền BHXH phải nộp theo quy định. Để trốn đóng BHXH, các đối
tượng tham gia có nhiều hình thức cụ thể với mức độ tinh vi khác nhau.

16


17

Hình thức trốn đóng BHXH rõ ràng nhất là các đối tượng thuộc diện
tham gia BHXH bắt buộc hoàn toàn không đăng ký tham gia BHXH. Hình
thức này rất dễ nhận thấy ở những nước mà sự cưỡng chế tuân thủ luật không
hề có hiệu quả, trốn đóng BHXH diễn ra tràn lan. Có các trường hợp chủ sử
dụng lao động đăng ký BHXH rồi nhưng lại không chuyển tiền đóng BHXH.
Tinh vi và sáng tạo hơn là các hình thức trốn đóng một phần. Tức là các
đối tượng tham gia BHXH vẫn đăng ký đóng BHXH theo quy định, nhưng
tìm mọi cách để chỉ đóng một phần so với toàn bộ số tiền phải đóng BHXH
theo nghĩa vụ. Trốn đóng một phần là khi thu nhập của người lao động không
được khai báo đầy đủ để chỉ đóng BHXH thấp hơn số tiền BHXH nhẽ ra phải
đóng tính theo số thu nhập thực tế mà người lao động nhận được. Hình thức

doanh nghiệp. Đối với người lao động, có không ít trường hợp thực sự không
biết mình có quyền được hưởng BHXH và tham gia BHXH. Mặt khác, lại
cũng có bộ phận biết quyền và nghĩa vụ BHXH nhưng lại hiểu không thấu
đáo. Tiền đóng BHXH là một khoản chiết khấu từ lương nên họ cho rằng số
tiền đó chính là nguyên nhân làm giảm thu nhập hiện tại và không muốn đóng

-

BHXH.
Ý thức tuân thủ pháp luật BHXH không tốt. Có những người sử dụng lao
động có nhận thức về BHXH nhưng vẫn cố tình trốn đóng BHXH hoặc chây
ỳ. Phần lớn do người sử dụng lao động là các doanh nghiệp không có chiến
lược kinh doanh bền vững mà chủ yếu là làm ăn theo kiểu “chộp giật”, chỉ
muốn càng thu được nhiều lợi nhuận hiện tại càng tốt. Cách thường làm là

-

trốn đóng BHXH để giảm chi phí.
Tình trạng khó khăn về tài chính. Một số chủ sử dụng lao động khởi sự kinh
doanh, vốn ít và còn nhiều khó khăn nên đôi khi lờ đi trách nhiệm và nghĩa vụ
BHXH cho người lao động. Khá hơn một chút là họ có đăng ký tham gia
BHXH, nhưng không đầy đủ, chỉ tập trung cho một số ít người lao động cần
thiết. Một số khác lại đang ở tình trạng làm ăn suy yếu, có xu hướng thua lỗ,
do đó sẽ chây ỳ đóng BHXH hoặc chiếm dụng tiền đóng BHXH để tăng vốn
làm ăn. Nguyên nhân này càng bộc lộ rõ trong các giai đoạn khủng hoảng nền
kinh tế, lạm phát cao.
Nguyên nhân từ phía Cơ quan Bảo hiểm xã hội gắn với năng lực quản
lý cụ thể:
Thanh kiểm tra BHXH còn hạn chế và chưa phát huy hết chức năng,
chưa kiểm soát hết lượng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Một mặt có thể

tính chất như lương) ghi trên hợp đồng lao động. Đối với các doanh nghiệp
thì tiền lương và phụ cấp nói trên phải thực hiện theo đúng thang bảng lương
mà doanh nghiệp đã đăng ký với Sở, phòng lao động thương binh xã hội địa
phương.
1.3.2. Quy trình thu BHXH [8]
*Người sử dụng lao động và người lao động kê khai hồ sơ tham gia
BHXH bắt buộc
19


20
-

Người lao động: Kê khai các thông tin cần thiết vào ‘Tờ khai tham gia
BHXH, BHYT’ (Mẫu số TK1-TS). Khi kê khai các thông tin thì người lao
động phải căn cứ vào hồ sơ gốc. Đối với những lao động đã hưởng chế độ
một lần nhưng chưa hưởng chế độ BHTN thì nộp thêm giấy xác nhận thời

-

gian tham gia BHTN nhưng chưa hưởng BHTN do cơ quan BHXH cấp.
Đơn vị sử dụng lao động: có trách nhiệm hướng dẫn người lao động kê khai
tờ khai tham gia BHXH, BHYT. Sau đó 02 lập danh sách lao động tham gia
BHXH, BHYT (Mẫu số D02-TS) và gửi cho cơ quan BHXH trong thời hạn
30 ngày kể từ ngày giao kết hợp đồng hoặc hợp đồng làm việc hoặc ngày có
hiệu lực ghi trong quyết định tuyển dụng. Trong trường hợp đơn vị kê khai
đăng ký tham gia BHXH lần đầu thì phải gửi kèm theo Bản sao quyết định
thành lập hoặc Giấy phép kinh doanh hoặc Giấy phép hoạt động. Đối với các
đơn vị hoạt động sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, ngư nghiệp, diêm
nghiệp đóng BHXH theo quý hoặc 6 tháng một lần thì phải gửi kèm theo

-

BHXH VN 01 bản trước ngày 15/6 hàng năm.
c. Công tác quản lý thu BHXH bắt buộc
BHXH thành phố và BHXH quận, huyện không được phép sử dụng tiền thu
BHXH vào bất cứ mục đích gì. Trường hợp đặc biệt, nếu sử dụng thì phải có

-

ý kiến bằng văn bản của Tổng Gíam đốc BHXH Việt Nam.
Định kỳ hàng quý, BHXH tỉnh (Phòng Kế hoạch – Tài chính) và BHXH quận,

-

huyện gửi thông báo quyết toán cho Phòng Thu hoặc bộ phận Thu.
Định kỳ 6 tháng hoặc hàng năm, BHXH Việt Nam tiến hành thẩm định số thu

-

BHXH đối với BHXH tỉnh.
* Quản lý tiền thu BHXH bắt buộc
Đơn vị sử dụng lao động và người lao động có thể đóng BHXH theo hai
phương thức là chuyển khoản hoặc tiền mặt, cụ thể là đơn vị sử dụng lao động
có thể chuyển khoản vào tài khoản thu của cơ quan BHXH mở tại ngân hàng
hoặc Kho bạc Nhà nước hoặc nộp tiền trực tiếp tại ngân hàng hoặc Kho bạc
Nhà nước; BHXH quận, huyện, BHXH thành phố chuyển toàn bộ số tiền đã
thu BHXH, BHYT, BHTN kịp thời về tài khoản chuyên thu của BHXH cấp
trên theo quy định. Số tiền thực thu BHXH, BHYT, BHTN là số tiền đã
chuyển vào tài khoản chuyên thu của BHXH các cấp theo chứng từ báo có
của ngân hàng, Kho bạc Nhà nước. Cơ quan BHXH không được sử dụng tiền

Đối tượng tham gia BHXH được phân thành hai dạng:
Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là những người lao động trong độ
tuổi lao động nằm trong diện phải tham giatheo Luật BHXH.
Đối tượng tham gia BXHH tự nguyện là những cá nhân tự nguyện
trong độ tuổi lao động thuộc những thành phần kinh tế khác, những người lao
động độc lập, tự do, nông dân, thợ thủ công…do công việc và nơi làm việc
không ổn định nên không được tham gia loại hình BHXH bắt buộc, BHXH là
phương pháp chấp nhận được đối với những người lao động đã từng có quá
trình tham gia BHXH bắt buộc nhưng chưa đủ điều kiện hưởng nay muốn
đóng góp vào chế độ dài hạn.
Về tỷ lệ thu BHXH, không phải ngẫu nhiên mà các nhà hoạch đinh, xây
dựng các chính sách BHXH định ra một tỷ lệ bất kỳ mà dựa trên căn cứ pháp
luật, trong đó có các căn cứ chủ yếu:
- Các chế độ và mức hưởng tối đa cho từng chế độ BHXH đã được
Chính phủ quy định.
- Giá trị thực tế của mức tiền lương tối thiểu ở các thời kỳ khác nhau.
- Số người tham gia BHXH và dự kiến số tăng lên hàng năm.
1.3.4. Vai trò của công tác kiểm soát, chống thất thu BHXH
Để đảm bảo sự công bằng khi tham gia BHXH, quyền lợi của người lao
động được hưởng trên cơ sở đóng BHXH, có thu mới có chi đó là nguyên tắc
hoạt động của các cơ quan BHXH. Do đó thu BHXH là nhiệm vụ trọng tâm
của ngành BHXH. Bởi đây là công việc có vị trí quan trọng, có thể nói đây là
22


23

"đầu vào" đối với ngành và ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển
của ngành BHXH. Mở rộng được đối tượng thu BHXH là công tác khá khó
khăn phức tạp còn quản lý đối tượng thu BHXH đã được qui định là vấn đề


1.3.5. Các phương pháp, công cụ kiểm soát, chống thất thu BHXH
Trong hệ thống BHXH bắt buộc, nghĩa vụ và trách nhiệm đóng góp
được cụ thể hóa trong các quy định của Luật và các văn bản dưới Luật. Đây
chính là căn cứ pháp lý để có thể xác định được các trường hợp trốn đóng
BHXH gây thất thu quỹ BHXH và ở mức độ vi phạm nào.
Cơ sở pháp lý đầu tiên được nhắc đến là quy định các đối tượng phải
tham gia BHXH. Luật BHXH quy định cụ thể các nhóm người lao động phải
thực hiện đăng ký tham gia và đóng góp vào quỹ BHXH.
Một số công cụ kiểm soát hữu hiệu chống thất thu quỹ BHXH:
a. Kiểm soát đăng ký ban đầu nộp bảo hiểm xã hội

Kiểm soát ban đầu ở khâu đăng ký ban đầu nộp BHXH do bộ phận tiếp
nhận hồ sơ thu BHXH thực hiện để đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật
BHXH qua việc đăng ký, kê khai thông tin về nhân thân, mức lương, thu nhập
của người LĐ và đơn vị SDLĐ.
b. Kiểm soát thực hiện thu, đối chiếu bảo hiểm xã hội

Qua việc kiểm tra đối chiếu hồ sơ nộp BHXH tại trụ sở cơ quan BHXH
phát hiện những sai sót yêu cầu người LĐ và người SDLĐ giải trình, bổ sung
để chứng minh tính chính xác, trung thực, hợp lý của các chỉ tiêu đã kê khai
trong hồ sơ đối chiếu nộp BHXH.
Kiểm soát quản lý nợ bảo hiểm xã hội chống thất thu BHXH
Kiểm soát nợ BHXH là phương pháp đảm bảo cho việc tiền thu nộp
BHXH đã kê khai được nộp vào quỹ BHXH đúng thời hạn, qua đó đánh giá
tính tuân thủ pháp luật của người LĐ và đơn vị SDLĐ.
c. Kiểm soát quản lý thông tin về quá trình tham gia BHXH

Thông tin về người nộp BHXH là yếu tố quan trọng và quyết định trong
quản lý thu BHXH; các cơ quan chức năng tuỳ theo lĩnh vực công việc của

BHXH của tháng

đơn vị

+

(i-1)

Số tiền lãi

(1.2)

chậm nộp

Chỉ tiêu này được dùng để đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch tổng
số tiền thu BHXH bắt buộc hàng năm, so sánh mức độ thu BHXH đạt được
của năm sau so với năm trước.
1.4.2. Chỉ tiêu về số lượng và tỷ lệ tăng số đơn vị sử dụng lao động
(1)

Tổng số đơn vị

=

SDLĐ năm (i)
(2) Tỷ lệ tăng số đơn
vị SD LĐ hàng năm
(đơn vị tính %)

=


+

Tiền lãi do
chậm đóng
tháng (n)

(1.5)



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status