Nghiên cứu đặc điểm dinh học và kỹ thuật gẫy trồng cây bương lông điện biên (dendrocalamus giganteus munro) tại một số tỉnh miền núi phía bắc - Pdf 41

Header Page 1 of 113.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CÂY BƯƠNG LÔNG
ĐIỆN BIÊN (DENDROCALAMUS GIGANTEUS MUNRO) TẠI
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Mã số : ĐH 2014 -TN03 -05

Chủ nhiệm đề tài: ThS. Đặng Thị Thu Hà

Thái Nguyên - 2016

Footer Page 1 of 113.


Header Page 2 of 113.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CÂY BƯƠNG LÔNG
ĐIỆN BIÊN (DENDROCALAMUS GIGANTEUS MUNRO) TẠI
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Mã số: ĐH 2014 - TN03 - 05


Nội dung nghiên cứu

1

TS. Nguyễn Thanh Tiến

Khoa LN

Điều tra số liệu

2

ThS. Lê văn Phúc

Khoa LN

Phân tích CĐ

3

ThS. Trần Thị Hương Giang

Khoa Lâm Nghiệp

Điều tra số liệu

4

ThS. Nguyễn việt Hưng

TS. Nguyễn Anh Dũng

Chủ tịch UBND xã,
huyện


Header Page 4 of 113.

ii

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ............................................................................ iii
DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................................iv
DANH MỤC CÁC HÌNH .............................................................................................v
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài...............................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ....................................................................................2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.....................................................................3
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .....................................4
1.1. Những nghiên cứu về tre trúc trên thế giới ..............................................................4
1.2. Những nghiên cứu về tre trúc ở Việt Nam...............................................................10
1.3. Thảo luận chung .....................................................................................................19
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..........................20
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..........................................................................20
2.2. Nội dung nghiên cứu ..............................................................................................20
2.3. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................20
CHƯƠNG 3. ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU ...........................28
3.1. Vị trí địa lý ..............................................................................................................28
3.2. Tổng hợp các nét đặc trưng của tỉnh Điện Biên và Tỉnh Phú Thọ .........................28
3.3. Nhận xét và đánh giá chung điều kiện khu vực nghiên cứu ...................................30


CTTN

Công thức thí nghiệm

D00

Đường kính gốc

DL

Đường kính lóng

D1.3

Đường kính ở vị trí 1m30

Đ/C

Đối chứng

FAO

Tổ chức Lương nông thế giới

L

Chiều dài lóng

LN


TB

Trung bình

TCN

Tiêu chuẩn ngành

TCVN

Tiêu chuẩn Việt Nam

TN

Thí nghiệm

TTKHLN

Trung tâm khoa học lâm nghiệp

RL

Chiều rộng lá

Rmo

Chiều rộng mo

Footer Page 5 of 113.

Bảng 4.19. Kết quả điều tra khai thác và sử dụng cây Bương lông điện biên ..............60
Bảng 4.20. Kết quả tổng hợp kinh nghiệm và các biện pháp kỹ thuật trồng Bương lông
điện biên tại huyện Điện Biên .......................................................................................61

Footer Page 6 of 113.


Header Page 7 of 113.

v

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Cách tiếp cận và giải quyết các nội dung của luận án ...................................21
Hình 4.1.Rễ của cây Bươnglông điện biên ....................................................................31
Hình 4.2. Thân ngầm của cây Bương lông điện biên ....................................................32
Hình 4.3. Thân khí sinh và bụi cây Bương lông điện biên ............................................32
Hình 4.4. Cây Bương lông điện biên cắt thành các đoạn ở các vị trí chiều cao khác nhau ..32
Hình 4.5. Đo bề dày vách thân khí sinh cây Bương lông điện biên tại vị trí 1m3. ........35
Hình 4.6. Cành chét cây Bương Lông điện biên ...........................................................35
Hình 4.7. Cành và lá cây Bương lông điện biên............................................................37
Hình 4.8. Hoa cây Bương lông điện biên chụp tháng 3 năm 2015 ...............................39
Hình 4.9. Mắt ngủ thân ngầm cây Bương lông điện biên .............................................57

Footer Page 7 of 113.


Header Page 8 of 113.

1
MỞ ĐẦU

thôn mới, việc phát triển vùng nguyên liệu tre, trúc theo Quyết định số 11/2011/QĐTTg ngày 18 tháng 02 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ cần được quan tâm nghiên
cứu theo hướng phát triển bền vững.

Footer Page 8 of 113.


Header Page 9 of 113.

2

Loài Bương lông điện điên (Dendrocalamus giganteus Munro) là một trong những
loài tre có kích thước lớn và vách thân dày, cứng và bền ở Việt Nam, chiều cao 15 -20
m, đường kính gốc 20-25cm, chiều dài đốt từ 25 - 30 cm, ít cành nhánh, khả năng cung
cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến sản phẩm rất cao. Mặt khác, hiện nay việc
kinh doanh cây Bương lông điện biên vẫn theo hướng quảng canh, dựa vào kinh nghiệm
của người dân địa phương và điều kiện tự nhiên sẵn có là chính nên năng suất không cao
như vốn có của nó. Đặc biệt việc phát triển mở rộng diện tích trồng loài cây này rất khó
khăn do nhân giống bằng gốc rất hạn chế về số lượng giống, người dân chưa nắm được
kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp chiết cành hoặc giâm hom cành nên số lượng
giống cung cấp ra thị trường ít chưa đáp ứng được nhu cầu nhân rộng mô hình.Hơn nữa
người dân địa phương chỉ cho rằng trồng bằng giống gốc mới cho năng suất, trong khi
đó nhiều loài tre mọc cụm khác việc nhân giống và trồng bằng giống cành đã đem lại
hiệu quả kinh tế rất cao như: Luồng, Mai xanh, vv...
Như vậy, việc gây trồng Bương lông điện biên còn thiếu hướng dẫn kỹ thuật
nhân giống có khả năng đáp ứng số lượng giống lớn cho gây trồng nhân rộng; thiếu
biện pháp kỹ thuật trồng rừng, kỹ thuật và công nghệ chế biến chưa được quan tâm
nghiên cứu. Để bảo tồn và phát triển loài cây này cần thiết phải có những nghiên cứu
sâu về đặc điểm hình thái, sinh thái học và gây trồng làm cơ sở đề xuất các giải pháp
khai thác và phát triển loài cây trên địa bàn. Với ý nghĩa đó, việc thực hiện đề tài
“Nghiên cứu đặc điểm sinh học Bương lông điện biên (Dendrocalamus giganteus


Header Page 11 of 113.

4
CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Những nghiên cứu về tre trúc trên thế giới
1.1.1. Đặc điểm phân bố và sinh thái tre trúc
Các loài tre trúc thuộc lớp một lá mầm (Moonotyledoneae), bộ Cỏ (Poales), họ
Hòa thảo (Poaceae), họ phụ tre (Bambusoideae).
1.1.1.1. Nghiên cứu về phân bố
Công trình đầu tiên nghiên cứu tre trúc trên thế giới là của tác giả Munro xuất
bản vào năm 1868 với tựa đề "Nghiên cứu về Bambusaceae", tác giả đã khái quát một
cách tổng quát về họ phụ tre, trúc (Dẫn theo Nguyễn Ngọc Bình và cs, 2007) [4]. Sau
đó là ấn phẩm của tác giả Gamble (1896) [72] viết về "Các loài tre trúc ở Ấn Độ", đã
mô tả khá chi tiết về đặc điểm phân bố, một số đặc điểm hình thái và sinh thái của 151
loài tre trúc có ở Ấn Độ, Pakistan, Myanma, Malaysia và Indonesia.
Theo Koichiro Ueda (1976) [27] trên thế giới, người ta gặp được 1250 loài tre
trúc thuộc 47 giống. Các loài này đều thấy phân bố rộng và có khối lượng cây rất
nhiều, song phần lớn đều mọc tự nhiên ở các nước trong vùng Đông Nam châu Á, bao
gồm Trung Quốc (miền Nam Trung Quốc, đảo Đài Loan), Philippin, Thái Lan, Miến
Điện, Ấn độ, Pakixtan, Indonexia và các nước thuộc châu Mỹ v.v.. Không gặp được
loài nào vốn có nguồn gốc tại châu Âu và có rất ít là loài cây bản địa ở châu Úc.
Theo Tewari (1992) [94] đã công bố số liệu cho biết trên thế giới hiện nay 80%
rừng tre trúc phân bố ở Châu Á, tất cả các rừng nhiệt đới và á nhiệt đới đều có tre trúc
xuất hiện. Độ cao phân bố của loài từ sát biển tới 4000 m (so với mực nước biển) song
tập trung chủ yếu ở vùng thấp cho tới đai cao trung bình, tác giả đã xác định được vùng
phân bố chung cho tre trúc và bản đồ phân bố một số chi tre trúc quan trọng của thế
giới.Nhìn vào bản đồ phân bố cho thấy trung tâm phân bố tre trúc tập trung chủ yếu vào

vực Châu Á và Thái Bình Dương. Ở Trung Quốc, Nhật bản là quốc gia có diện tích tre
trúc mọc tương đối lớn, với 237 loài tre trúc khác nhau, chủ yếu là các loài tre mọc
tản, dạng roi.
Nhận xét: Trên thế giới, tre trúc đã được các tác giả nghiên cứu từ thế kỉ XIX.
Các nghiên cứu về tre trúc đều tập trung xác định các khu vực phân bố, thống kê về
diện tích, số lượng loài và chi theo các yếu tố khí hậu, địa hình, và đất... Đây là cơ sở
dữ liệu phân tích tính đa dạng phân bố của tre trúc ở mỗi vùng khác nhau để so sánh
và đánh giá giữa các vùng và các quốc gia.
1.1.1.2. Nghiên cứu về sinh thái tre trúc
Khi nghiên cứu những đặc trưng sinh thái của loài Trúc núi đá (Depanostachyum
luodianense), Liu Jiming (2009) cho rằng: loài cây này phân bố ở 5 kiểu tiểu sinh cảnh
khác nhau như: mặt đất - mặt đá - rãnh đá - kẽ đá - hốc đá, ở mỗi kiểu này đều có
những đặc trưng sinh thái khác nhau. Qua đó thể hiện sự thích ứng của loài với các
nhân tố môi trường xung quanh trong phạm vi hẹp (tiểu sinh cảnh) hay phạm vi rộng
hơn ở mức độ quần thể, quần xã. Trong môi trường "cô lập” kết cấu cành, lá, lóng, đốt
của loài có sự thay đổi khi ở các vị trí khác nhau tương ứng với các tiểu sinh cảnh khác
nhau; ngoài ra kết cấu này còn thay đổi theo tuổi, thực tế là góc phân cành và số cành

Footer Page 12 of 113.


Header Page 13 of 113.

6

thứ cấp. Đồng thời nghiên cứu của tác giả đưa đến nhận định: quần xã Trúc núi đá có
chức năng giữ nước tốt hơn quần xã cây bụi và cỏ; có tác dụng cải thiện rõ rệt tới lý
hóa tính của đất. Sự chặt phá tùy tiện của con người là nguyên nhân gây nguy cơ thoái
hóa rừng Trúc núi đá (Dẫn theo Trần Ngọc Hải, 2012) [19].
Dựa vào một số nhân tố như nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm.... Zhou Fangchun

đến sinh trưởng và năng suất của các loài tre ở Thái Lan cho rằng: sử dụng hỗn hợp
phân NPK 15-15-15 có hiệu quả rõ rệt đến năng suất của các loài Tầm vông, Mạnh
tông, D. strictus và Bambusa sp. Bón 100kg NPK/ha sẽ đủ để tăng năng suất và bón
200 kg NPK/ha là thích hợp. Prosea (1995) [82] cho rằng bón 20 - 25kg phân hữu cơ
cho mỗi khóm trước mùa sinh trưởng, phân hóa học bón 4 lần mỗi năm, mỗi lần bón
cho 1ha là 80kg NPK theo tỷ lệ 40:10:30 và 0,65 Si.

Footer Page 14 of 113.


Header Page 15 of 113.

8

Công trình“Bamboo rediscovered”của Victor Cusack (1997) [96] đề cập đến
biện pháp bón phân làm cho nhiều loài tre trúc phát triển tốt, măng to, nhưng phải bón
một cách hợp lý tuỳ thuộc vào loài nhất định. Về thâm canh một số loài tre cho thấy
đối với loài Mạnh tông hàng năm bón 300kg phân NPK (15:15:15)/ha kết hợp khoảng
40 - 60kg bụi rơm hoặc cỏ khô để phủ và 0,65kg silic dioxyt/ha. Đối với loài Mai xanh
bón 40kg NPK (40:30:10)/ha và bón 4 lần trong năm kết hợp 0,65kg silic
dioxyt/ha/năm và 20 - 25kg phân compost trước mùa sinh trưởng. Tác giả cho rằng do
tre là một loài rễ nông cho nên bón phân một lượng nhỏ hơn nhưng bón nhiều lần
trong năm sẽ tốt hơn. Ở Indonesia sau khai thác măng, nông dân thường pha trộn một
lượng lớn phân bón cùng với phân hữu cơ phủ gốc, bón theo rãnh đào xung quanh bụi
khoảng 2 m. Cách bón này cắt đứt một phần rễ và sẽ kích thích rễ phát triển trực tiếp
vào rãnh có phân bón.
Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2001) [64] bằng các thí nghiệm với
loài tre Mai xanh và Lục trúc cho thấy phân bón làm tăng nhiệt độ trong đất giúp
không khí và nước lưu thông tốt hơn, kích thích măng ra sớm hơn, sản lượng măng và
thân khí sinh tăng cao hơn. Điều này cho thấy việc bón phân cho rừng Dendrocalamus

1.1.3. Nghiên cứu về chi Luồng (Dendrocalamus) và cây Bương lông điện biên
(Dendrocalamus giganteus Munro) trên thế giới
1.1.3.1. Nghiên cứu về chi Luồng (Dendrocalamus) trên thế giới

Chi Luồng (Dendrocalamus) có khoảng 60 loài trên thế giới (Ohrnberger, (1999)
[81], Yi et al, (2008) [100], Guo et al, (2010) [73]. Chi Luồng phân bố rộng rãi ở các
vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của châu Á, từ Ấn Độ và Nepal, Trung Quốc,
Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam, Malaysia và Papua New Guinea
(Stapleton, (1994) [90], Dransfied & Widjaja, (1995) [67], Ohrnberger (1999) [81],
Seethalakshmi & Kumar (1998) [88], Li & Stapleton (2006) [77]. Riêng miền nam
Trung Quốc có 37 loài (Guo, 2010) [73]. Phân bố ở độ cao vài chục mét đến 1700m,
trong điều kiện núi ẩm, chủ yếu sống ở trong rừng, dọc theo suối và trong rừng thứ
sinh nghèo (Ohnberger, 1999) [81].
- Về điều kiện lập địa trồng rừng
Theo tác giả Dai Qihui (1998) [66] đã khuyến nghị nên chọn nơi có độ dày tầng đất
cao, đất còn tốt, ẩm và thoát nước tốt để trồng các cây thuộc chi Dendrocalamus. Trồng ở
các thung lũng, dọc bờ sông, suối và cũng có thể trồng ở chân và sườn đồi thường sinh
trưởng tốt. Nếu trồng nơi đất khô xấu thì có thể sống nhưng măng và thân cây sẽ nhỏ,
không mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đây có thể coi là kinh nghiệm có ý nghĩa quan trọng
trong việc chọn lập địa phù hợp để kinh doanh rừng Bương lông theo hướng bền vững.
+ Về kỹ thuật trồng, Dai Qihui (1998) [66] cho biết dù cây con Dendrocalamus
được tạo hạt hay từ nhân giống sinh dưỡng, trước khi trồng nên cắt ngọn chỉ để lại 2-3
đốt. Đối với cây con được tạo từ hạt thì đặt cây con ở tư thế thẳng đứng, lấp đất và phủ
lên gốc cây 3 - 4cm. Với cây đem trồng bằng gốc, đặt cây ở tư thế thẳng đứng, lấp đất
và phủ đất cách cổ rễ 10cm.
+ Về kỹ thuật bón phân, Dai Qihui (1998) [66] cho biết: đối với cây
Dendrocalamus trồng lấy măng, để sản xuất 100kg măng tươi, cây cần 500 - 700g
Nitơ, 100 - 150g Phốt pho và 200 - 250g Kali từ đất. Như vậy, nếu muốn thu hoạch

Footer Page 16 of 113.

trên thế giới
Hiện nay trên thế giới chưa có công trình nghiên cứu nào về đặc điểm sinh học
sinh thái và kỹ thuật gây trồng loài Bương lông điện biên.
1.2. Những nghiên cứu về tre trúc ở việt nam
1.2.1. Nghiên cứu về đặc điểm phân bố và sinh thái của tre trúc
Ở Việt Nam, tre trúc là nguồn vật liệu quan trọng thứ 2 sau gỗ, được gây trồng
rộng rãi trên toàn lãnh thổ và có vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa xã hội của
người dân. Tre trúc là nguyên liệu tạo ra hàng trăm loại mặt hàng tiêu dùng trong nước
và xuất khẩu có giá trị. Chính vì vậy, ngay từ những năm đầu của thế kỉ XX, nguồn tài
nguyên từ tre trúc ở nước ta đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.

Footer Page 17 of 113.


Header Page 18 of 113.

11

1.2.1.1. Về phân bố tre trúc
Theo Thái Văn Trừng (1978) [50]; Nguyễn Tử Ưởng (2001) [57]; Nguyễn Ngọc
Bình và Phạm Đức Tuấn (2007) [4] tre nứa phân bố rộng từ vùng nhiệt đới, á nhiệt đới
đến ôn đới, từ 510vĩ Bắc đến 470vĩ độ Nam. Việt Nam là một trong những vùng trung
tâm phân bố tre nứa trên thế giới do có điều kiện tự nhiên thuận lợi, như chế độ nhiệt,
ẩm và thổ nhưỡng, tuy nhiên diện tích, trữ lượng và thành phần loài có khác nhau giữa
các vùng trong nước; những vùng có diện tích và trữ lượng nhiều là: Tây Nguyên, Bắc
Trung Bộ, Đông Bắc, Đông Nam Bộ và Tây Bắc.
Theo Nguyễn Tử Ưởng (2001) [57]; Nguyễn Ngọc Bình và cs. (2007) [4], Việt
Nam có 1.489.068 ha bằng 4,53% diện tích toàn quốc với tổng trữ lượng là
8.400.767.000 cây.
Camus & Camus (1923) [63] đã thống kê có 73 loài tre trúc thuộc 14 chi ở Việt

và có giá trị tham khảo để nghiên cứu đề xuất các giải pháp kỹ thuật gây trồng, khai
thác, bảo quản thân tre trúc và măng phục vụ nhu cầu sử dụng của xã hội.
Năm 2007, nhóm tác giả Nguyễn Hoàng Nghĩa và Trần Văn Tiến (2007) [39]
đưa ra danh sách về các loài tre trúc có ở Việt Nam, trong 194 loài tre trúc thuộc 26
chi, có 80 loài đã tạm thời được định danh, còn lại là các loài chưa có tên hoặc có các
loài/phân loài mới. Việc xác định rõ đâu là loài hoặc phân loài là một công việc rất khó
khăn. Quá trình khảo sát đã phát hiện một số chi được coi là mới đối với nước ta là chi
Giang (Maclurochloa) với 17 loài, chi tre quả thịt mới được phát hiện,Tre lông Bidoup
(Kinabaluchloa) có ngoại hình giống loài cùng chi ở Malaixia (Wong, 1995) [98]. Một
số chi có nhiều loài là chi Tre có 55 loài, chi Luồng có 21 loài, chi Le có 16 loài, chi
Nứa có 14 loài và chi Vầu đắng có 11 loài. Công trình nghiên cứu của Nguyễn Hoàng
Nghĩa có thể được coi là tài liệu duy nhất từ trước đến nay đã liệt kê đầy đủ nhất về số
lượng chi, loài tre trúc với nhiều thông tin có ý nghĩa về phân bố, đặc tính hình thái,
sinh thái, công dụng và có giá trị như một cẩm nang để tra cứu, đặc biệt là nhận dạng
loài tre.
Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn (2007) [4] cho rằng, từ độ cao ngang mặt
biển đến vùng núi cao của Việt Nam như Hoàng Liên, Tây Côn Lĩnh, Ngọc Lĩnh… đều
có tre mọc. Nhưng về mặt phân bố của tre trúc có thể chia làm 2 đai độ cao rõ rệt: Ở đai
độ cao trên 700 - 800 m hầu hết là các loài tre có thân ngầm mọc tản, tiêu biểu cho khí
hậu á nhiệt đới như các chi: Sặt (Arundinaria), Vầu, Trúc, Trúc vuông
(Chimonobambusa)… Còn đai độ cao dưới 700 - 800 m hầu hết là các loài tre mọc cụm
tiêu biểu cho khí hậu nhiệt đới thuộc các chi như: Tre, Luồng… Cá biệt có những loài
tre mọc cụm phân bố ở độ cao 1.000m như Bương lớn (D. aff giganteus), hoặc loài tre
mọc tản phân bố xuống độ cao 400 - 500 m như Vầu đắng (Indosasa angustata).
Theo nghiên cứu của Lê Viết Lâm và cs. (2005) [29] tre phân bố ở hầu hết các
vùng và độ cao khác nhau của Việt Nam, các loài tre trúc phân bố theo vùng sinh thái
thể hiện rất rõ. Nhiều loài tre trúc là các loài đặc hữu hoặc đặc trưng của từng vùng như:
vùng Tây Bắc có Mạy sang, Mạy bông, Mạy bói (B. burmanica), Mạy púa cai na (D.
pachystachys)… Vùng Đông Bắc có Vầu đắng, Trúc sào (Ph. edulis), Trúc cần câu (Ph.
sulphurea)… Vùng Trung tâm có Giang, Diễn trứng (D. parvigemniferus), Diễn đá

sinh, số lượng cành và cách phân cành; các bộ phận và hình thái lá quang hợp, mo
nang và hoa.
Trong cuốn “Kỹ thuật trồng một số loài tre trúc song mây”, Nguyễn Huy Sơn và
cs. (2013) [44] đã khái quát đặc điểm sinh thái của loài cây Bương mốc thích hợp với
khí hậu mưa mùa, có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô, nhiệt độ trung bình hàng
năm từ 20 - 24oC, lượng mưa trung bình hằng năm từ 1.500 mm trở lên. Phân bố ở độ
cao từ 80 - 800 m so với mực nước biển, nhưng thích hợp nhất là từ 80 - 300 m. Độ
dốc từ 10 - 20o. Có thể trồng Bương mốc trên nhiều loại đất khác nhau, độ dày tầng đất
từ 50cm trở lên, nhưng tốt nhất là đất có tầng từ trung bình đến dày (≥ 70cm), phát
triển trên các loại đá mẹ phiến thạch sét, diệp thạch, sa thạch, đá vôi, hay đất dốc tụ và
bồi tụ giàu mùn ở ven khe cạn hay ven suối, đất tơi xốp, ẩm thường xuyên và thoát
nước tốt.

Footer Page 20 of 113.


Header Page 21 of 113.

14

1.2.2. Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng
Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng, khai thác tre đã được quan tâm nghiên cứu khá
sớm ở Việt Nam, từ những năm 60 của thế kỷ 20.
Năm 1963, Phạm Quang Độ (1963) [16] có ấn phẩm “Trồng và khai thác tre nứa
trúc”với nội dung giới thiệu sơ lược về đời sống của tre trúc và phương pháp gây
trồng. Cùng năm đó, Hồng Minh (1963) [35] trong ấn phẩm “Kỹ thuật trồng tre
trúc”đã giới thiệu sơ lược về đặc điểm hình thái, sinh thái, kỹ thuật chọn giống, gây
trồng, chăm sóc và bảo vệ cho 12 loài tre trúc ở Miền Bắc Việt Nam. Trần Xuân Thiệp
(1999) [47] đã đưa ra kết quả nghiên cứu thực nghiệm kinh doanh rừng Vầu đắng
(Arundinarial) tại Bắc Quang - Hà Tuyên.

dầy, không úng ngập, dễ thoát nước, giống trồng phải tốt, chọn cây không dưới 8
tháng đến 1,5 năm tuổi. Hoàng Xuân Tý (1972) [55] trong ấn phẩm“Tìm hiểu đất rừng
tre trúc thuần loài”cho biết, trồng tre Diễn và Tre gai thuần loài làm cho tính chất vật
lý của đất bị thoái hóa nhanh chóng, giảm hàm lượng mùn, đạm, lân và kali. Do vậy
khuyến cáo không nên trồng rừng tre trúc thuần loài, mà phải trồng xen với cây gỗ để
đảm bảo độ phì của đất.
Tác giả Phạm Văn Điển và cs. (2009) [17] giới thiệu về kỹ thuật gây trồng cây
Bương (Sinocalamus flagelliter) cho biết cây Bương ưa đất bằng phẳng, ven chân núi,
dọc theo sông suối, quanh làng bản, cây Bương thường mọc trên đất feralit mùn trên
núi đất giàu mùn, hơi ẩm, tơi xốp hoặc hơi chặt, có kết cấu hạt hoặc viên, thành phần
cơ giới thịt nhẹ, đá lẫn trung bình. Cây Bương đặc biệt phát triển tốt ở các loại đất có
nguồn gốc đá vôi.
Nguyễn Huy Sơn và cs. (2013) [44] cho rằng, có thể trồng Bương mốc trên nhiều
loại đất khác nhau, độ dày tầng đất từ 50cm trở lên, nhưng tốt nhất là đất phát triển
trên các loại đá phiến thạch sét, diệp thạch, sa thạch, đá vôi hay đất dốc tụ và bồi tụ,
giàu mùn ở ven sông suối, đất tơi xốp, ẩm và thoát nước tốt.
Nhận xét: Ở Việt Nam, các nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng đã xác định được loại
đất thích hợp đối với một số loài tre trúc như Luồng, Diễn, Tre gai, Bương mốc,
Bương... Đối với lĩnh vực trồng thâm canh tre trúc đây là những nhân tố cần phải được
quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng suất măng và thân khí sinh.
1.2.2.2. Nghiên cứu về mật độ trồng
Kết quả nghiên cứu về mật độ trồng tre trúc trong một số tài liệu chưa có sự
thống nhất như: Đối với Điềm trúc, sách của Prosea (1995) [82] cho rằng mật độ là
400 và 625 khóm/ha; Anh Tùng (1999) [53] chọn mật độ 400 - 500 khóm/ha đối với
Điềm trúc, còn Lục trúc chọn mật độ 500 - 625 khóm/ha; Ngô Quang Đê, (1994) [14]
chọn mật độ với loài mọc cụm như Luồng, Diễn nếu đất bằng, trồng thuần loài có thể
với mật độ trồng 500 - 670 cây/ha; nếu trồng hỗn loài thì chỉ nên 200 - 400 cây/ha (cự
ly 5 x 10m hoặc 4 x 6m); Đỗ Văn Bản (2005) [1] đưa ra mật độ trồng Điềm trúc, Lục
trúc, Tạp giao là 400 - 625 khóm/ha; CNBRC (2001, 2008) chọn mật độ 650 -700
khóm/ha (Dẫn theo Lê Văn Thành (2013) [46].

già cỗi, năng suất thấp, cây mẹ nhỏ dần.... có thể bón thúc mỗi năm 1 lần vào đầu mùa
mưa, mỗi gốc bón từ 15 - 30kg phân hữu cơ kết hợp với 0,5 - 0,7 kg (NPK), đào rãnh
rộng khoảng 20 cm, sâu khoảng 25 cm xung quanh gốc và cách gốc từ 30 - 40cm, rải
phân đều trong rãnh, lấp và vun đất vào gốc cây cao hơn mặt đất xung quanh khoảng
5cm, đồng thời cắt tỉa cây già chỉ để lại mỗi bụi 7 cây theo tỷ lệ 3:3:1, tức là 3 cây 1
năm tuổi, 3 cây 2 năm tuổi và 1 cây 3 năm tuổi.
Nhận xét: Cơ bản các tài liệu nghiên cứu về cách thức bón phân, liều lượng bón
phân cho rừng sản xuất tre trúc đều đề cập đến việc bón kết hợp giữa phân hữu cơ và
phân vô cơ (NPK) nhưng tỷ lệ và liều lượng bón lại khác nhau. Như vậy, đề tài cần khảo
nghiệm được trồng và sử dụng công thức phân bón áp dụng cho loài Bương lông điện
biên tại tỉnh Phú Thọ, để có cơ sở đưa ra một số kết luận về ảnh hưởng tích cực của
phân bón, liều lượng phân cần bón, loại phân bón, tỷ lệ phân bón phù hợp với điều kiện
kinh tế - xã hội, phong tục tập quán canh tác của người dân sau khi kết thúc đề tài.

Footer Page 23 of 113.


Header Page 24 of 113.

17

1.2.3. Nghiên cứu về chi Luồng và cây Bương lông điện biên ở Việt Nam
1.2.3.1. Về chi Luồng
Năm 1923, Camus & A. Camus (1923) [63], đã thống kê được chi Luồng có 8
loài ở Việt Nam. Sau quá trình điều tra và tổng hợp lại đến năm 2007 nhóm tác giả
Nguyễn Hoàng Nghĩa và Trần Văn Tiến (2007) [39] đã xác định ở Việt Nam có 21
loài thuộc chi Luồng.
Chi Luồng bao gồm nhiều loài mọc cụm, thân tròn thẳng. Mo thân mau rụng và
thường khá to, tai mo biến động, phiến mo hình tam giác. Hoa tự chùy lón, ít hoa
(không quá 6 hoa), lưỡng tính. Không có mày cực nhỏ (loduicule). Nhị 6, chỉ nhị tự

hỗn hợp bùn rơm phía ngoài có bao nilon giữ ẩm đạt tỷ lệ ra rễ rất cao (97,5%) là
phương pháp dễ áp dụng, mang lại hiệu quả rất cao.
Khi nghiên cứu đặc điểm đất trồng rừng Luồng và ảnh hưởng của các phương thức
trồng rừng Luồng, Nguyễn Ngọc Bình (2001) [3] chỉ ra rằng Luồng sinh trưởng tốt ở
nơi có đất chua pH(H2O): 4,8 - 5,9; pH(KCL): 4,2 - 5,0 ở tầng đất mặt hàm lượng mùn
và N tổng số tương quan rất chặt, hàm lượng K2O dễ tiêu trong đất tương quan tương
đối chặt còn hàm lượng P2O5 dễ tiêu lại tương quan không chặt với sinh trưởng về
đường kính cây Luồng, tác giả cho rằng nên trồng Luồng theo phương thức hỗn giao với
cây họ đậu như Keo là thích hợp nhất để tránh làm suy thoái đất rừng.
Theo Đỗ Văn Bản (2005) [1] hàng năm 50% số tre được thu hoạch từ một số loài
tre với đặc điểm bề dày thân khí dày như Luồng, Tre tàu (Dendrocalamus latiflorus
Munro), Mạy sang, Tre gai, và Là Ngà Nam Bộ sẽ đưa vào sử dụng làm nguyên vật
liệu trong thời gian dài.
1.2.3.2. Nghiên cứu về cây Bương lông điện biên ở Việt Nam
Loài Bương lông điện biên, còn có các tên gọi khác như Mạy púa mơi, Bương
lớn, Bương lớn điện biên, nghiên cứu lần đầu tiên ghi nhận bởi nhóm nghiên cứu tre
trúc (Lê Viết Lâm và cộng sự, 2005) [29], nhóm tác giả đã xác định tên khoa học của
Bương lông điện biên là Dendrocalamus sinicus L.C. Chia & J.L. Sun. Nguyễn Hoàng
Nghĩa (2005) [37] cũng ghi nhận loài cây này là Dendrocalamus sinicus L.C. Chia &
J.L. Sun trong cuốn Tre trúc Việt Nam, trang 151. Nhưng Nguyễn Văn Thọ (2012)
[80], cho biết loài cây Bương lông điện biên mới này giống với loài D.sinicus Chia et
Sun nhưng khác bởi mo thân sớm rụng, lưỡi mo dài 7-10mm, lưỡi lá phẳng, mép
nguyên, phủ lông thưa, không có răng cưa.
Theo đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ cấp nhà nước năm 2012 [11] do Viện
khoa học lâm nghiệp chủ trì đề tài lấy tên khoa học của cây Bương lông điện biên là
Dendrocalamus giganteus Munro.
Vì thời gian thực hiện đề tài hạn chế nên đề tài chưa đủ thời gian xác định tên
khoa học chính xác cho loài cây Bương lông điện biên, nên đề tài lấy tên khoa học cho
cây theo tên đề tài cấp nhà nước là Dendrocalamus giganteus Munro.
Nhận xét: cho đến nay nghiên cứu về cây Bương lông điện biên ở trong nước rất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status