TÌM HIỂU về CHÍNH SÁCH GIÁO dục đào tạo đối với ĐỒNG bào dân tộc THIỂU số - Pdf 41

ĐỀ TÀI
TÌM HIỂU VỀ CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC-ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC THIỂU SỐ

NHÓM KH14 NS2
1.
2.
3.
4.
5.
6.

Nguyễn Thị Ngọc Lâm (nhóm trưởng)
Vũ Thị Chi
Nguyễn Thị Trà
Phạm Thị Thường
Khương Văn Huy
Đặng Thị Vân

BỐ CỤC BÀI TẬP
I. Tổng quan về chính sách GD-ĐT đối với vùng dân tộc thiểu số
1. Chính sách GD-ĐT được hiểu như thế nào?
2. Vai trò của chính sách GD-ĐT đối với vùng dân tộc thiểu số
3. Mục tiêu của chính sách GD-ĐT đối với vùng dân tộc thiểu số
4. Các nhóm chính sách GD-ĐT đối với dân tôc thiểu số.
II.
1.

2.

III.

yếu tố cơ bản để PT XH, tăng trưởng KT nhanh và bền vững
2. Vai trò của chính sách GD-ĐT khi triển khai ở các vùng dân tộc thiểu số.
Giáo dục đào tạo luôn là quốc sách hàng đầu được Đảng và Nhà nước ta đặc
biệt chú trọng. GD-DT đóng vai trò quan trọng, là nhân tố chìa khóa, là động lực
thúc đẩy nền kinh tế phát triển. GD –ĐT có tác động to lớn đên toàn bộ đời sống
vật chất và tinh thần của xã hội và đặc biệt đối với vùng dân tộc thiểu số khi nơi
đây , trình độ dân trí rất thấp, nguồn nhân lực có trình độ vô cùng hạn chế, tình
hình kinh tế xã hội còn khó khăn, bất cập . Do đó phát triển GD-ĐT, đào tạo nguồn
nhân lực là cơ sở để thực hiện phát triển kinh tê- xã hội bền vững đối với các vùng
dân tộc thiểu số và ổn định chính trị-xã hội.
3. Mục tiêu của chính sách GD-ĐT cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số
- Đưa đất nước phát triển một cách bền vững , đông bộ , vững mạnh cho dân
tộc thiểu số
- Xóa đói giảm nghèo , từng bước nâng cao đời sống vật chất , tạo điều kiện
tinh thần cho nhân dân.
II. Thực trạng thực hiện chính sách GD-ĐT ở các vùng dân tộc thiểu số.
1. Nội dung các nhóm chính sách GD-ĐT ở vùng dân tộc thiểu số.
1.1Chính sách đầu tư cơ sở vật chất thiết bị GD-ĐT cho vùng dân tộc
thiểu số.
a) Cơ sở pháp lý.
Bộ GDĐT đã phối hợp với các Bộ ban hành theo thẩm quyền các văn bản
triển khai thực hiện QĐ 1640 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án Củng
cố và phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú giai đoạn 2011 –
2015. Trong đó, lộ trình thực hiện được quy định như sau:


- Giai đoạn 1: Từ năm 2011 đến 2013
+ Tập trung các nguồn lực của trung ương và địa phương để hoàn thiện
cơ bản các hạng mục công trình đầu tư xây dựng bổ sung cho 223 trường phổ
thông dân tộc nội trú.

- Về cơ chế cân đối nguồn lực tài chính của các địa phương: Nguồn tài chính
chủ yếu để thực hiện QĐ 1640 là sử dụng nguồn vốn của Trung ương từ CTMTQG
GDĐT phân bổ hàng năm; nguồn vốn đầu tư của địa phương và nguồn huy động
xã hội hóa để sửa chữa, cải tạo các hạng mục công trình nhỏ và giải phóng mặt
bằng.
1.2 Chính sách hỗ trợ giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục tại các vùng dân
tộc thiểu số.
a) Cơ sở pháp lý
-Khoản 5,điều 10 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của chính phủ về công tác
dân tộc đã nêu”Quy định việc hỗ trợ giáo viên giảng dạy tại các vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; đào tạo giáo viên là người dân tộc
thiểu số và giáo viên dạy tiếng dân tộc”.
- Nghị định số 61/2006/NĐ-CP ngày 20/06/2006 của chính phủ về chính
sách đối với nhà giáo,cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt,ở
vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn.
b) Thực trạng thực hiện chính sách.
Thực hiện Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc và các Nghị
định khác về chính sách đới với nhà giáo,cán bộ ở vùng miền núi,vùng dân tộc
thiểu số, đội ngũ giáo viên,cán bộ quản lý đã được củng cố và phát triển cả về số
lượng và chất lượng.Từ chỗ chờ sự chi viện giáo viên từ các tỉnh miền xuôi,hiện
nay nhiều tỉnh đã tự đạo tạo được giáo viên do hầu hết các tỉnh đều có trường trung
cấp hoặc cao đẳng sư phạm.
Đến nay, toàn ngành đã có 8.500 cán bộ, giáo viên, công nhân viên là người
dân tộc thiểu số, chiếm tỷ lệ 47,22% so với tổng số cán bộ, giáo viên toàn ngành.
Chất lượng giáo viên là người dân tộc thiểu số được nâng cao. Toàn tỉnh đã có 62%
giáo viên Mầm non là người dân tộc thiểu số đạt chuẩn trở lên (trong đó có 2%
trên chuẩn); 98% giáo viên Tiểu học là người dân tộc thiểu số đạt chuẩn trở lên
(trong đó có 20% trên chuẩn); 96% giáo viên THCS là người dân tộc thiểu số đạt
chuẩn trở lên (trong đó có 14% trên chuẩn); 99% giáo viên THPT là người dân tộc
thiểu số đạt chuẩn trở lên (trong đó có 2% trên chuẩn).



Điều 10. Chính sách phát triển giáo dục và đào tạo:
2. Phát triển trường mầm non, trường phổ thông, trường phổ thông dân tộc nội
trú, phổ thông dân tộc bán trú, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập
cộng đồng, trường dạy nghề, trường dự bị đại học; nghiên cứu hình thức đào tạo đa
ngành bậc đại học cho con em các dân tộc thiểu số để đẩy nhanh việc đào tạo
nguồn nhân lực phục vụ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội
nhập quốc tế.
3. Quy định các điều kiện và biện pháp cụ thể, phù hợp để hỗ trợ cho học sinh,
sinh viên là người dân tộc thiểu số; giải quyết chỗ ở, học bổng và cho vay vốn
trong thời gian học tập phù hợp với ngành nghề đào tạo và địa bàn cư trú của sinh
viên dân tộc thiểu số.
Học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số rất ít người, ở vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn được miễn học phí ở tất cả các cấp
học, ngành học.
4. Đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo nghề cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số
phù hợp với đặc điểm từng vùng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập Quốc tế.
8. Các Bộ: Giáo dục và Đào tạo, Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân
tộc căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các
Bộ, ngành, địa phương liên quan quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành nội dung
Điều này.
Trong đó chính sách đào tạo nghề cho đồng bào dân tộc thiểu số dược Đảng
và Nhà nước đặc biệt quan tâm và chú trọng.
Vậy nguyên nhân tại sao cần phải chú trọng đào nghề cho đồng bào dân
tộc thiểu số ?
Đa số lao động dân tộc thiểu số từ 15 tuổi trở lên có trình độ Tiểu học và
Trung học cơ sở , số lao động trong độ tuổi không biết chữ chiếm tỉ lệ cao( nhất là
khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên ).Đời sống của đa số đồng bào dân tộc

thanh niên dân tộc Tây Nguyên và 10 Trường Trung cấp nghề Dân tộc nội trú (Phú
Thọ, Thái Nguyên, Yên Bái, Bắc Giang, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam, Phú
Yên, An Giang, Kiên Giang); 02 khoa Dân tộc nội trú tại Trường Cao đẳng nghề
Hòa Bình và Sóc Trăng; xây dựng ký túc xá, trang thiết bị dạy nghề cho các trường
trung cấp, cao đẳng nghề của một số tỉnh.
Thứ ba : Đội ngũ giáo viên , cán bộ quản lý dạy nghề .
Tại 51 tỉnh đã phát triển được đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn kỹ thuật
tham gia dạy nghề khá với 9.811 giáo viên cơ hữu, 7.847 giáo viên thỉnh giảng,
9.790 người dạy nghề. Hiện có 1.197 cơ sở, đơn vị tham gia dạy nghề cho


LĐDTTS; 379/440 cơ sở dạy nghề bố trí được giáo viên cơ hữu theo quy định
(chiếm 86,1%).
Thứ tư : kinh phí thực hiện đề án trong 3 năm (2010-2013).
Tổng kinh phí Trung ương đã bố trí 4.877.041 tỷ đồng, trong đó: Hỗ trợ dạy
nghề cho LĐDTTS là 1.641,543 tỷ đồng; đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề là
2.930,712 tỷ đồng; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức xã là 251,992 tỷ đồng.
Tổng kinh phí địa phương đã bố trí 989,105 tỷ đồng, trong đó: Đầu tư cơ sở vật
chất, mua sắm thiết bị dạy nghề 479,644 tỷ đồng, chiếm 16,4% tổng kinh phí đầu
tư; hỗ trợ dạy nghề 509,461 tỷ đồng, chiếm 31% tổng kinh phí hỗ trợ.
Ví dụ tiêu biểu : Một trong những tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc cùng sinh
sống, Yên Bái đã tiên phong trong triển khai và thực hiện đề án đào tạo nghề cho
đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2012-2015. Ngày 1/7/2013 UBND tỉnh Yên
Bái đã ban hành kế hoạch số 93/KH-UBND để thực hiện dự án trên.
b) Kết quả thực hiện đề án đào tạo nghề cho đồng bào dân tộc thiểu số
đến tháng 6 -2013
Được thực hiện từ 2010 –đến 2013 , đã trải qua 3 năm triển khai đã có gần
850.000 lao động khu vực nông thôn, vùng dân tộc thiểu số được đào tạo nghề,
trong đó, trên 620.000 người có việc làm mới hoặc tiếp tục làm nghề cũ có năng
suất, thu nhập cao hơn. Vùng trung du miền núi phía Bắc có tỷ lệ người dân tộc

bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề cao sẵn có tại địa phương tham gia
dạy nghề cho LĐDTTS.
- Công tác tuyên truyền về nghề đào tạo, cơ hội việc làm, thu nhập cho
LĐDTTS còn hạn chế.
- Một số nội dung, chương trình đào tạo nghề còn nặng về lý thuyết, chưa
thực sự phù hợp với trình độ nhận thức của LĐDTTS
- Một số địa phương chưa quan tâm xác định rõ đối tượng ưu tiên dạy nghề
3.2Chính sách phổ cập giáo dục và xóa nạn mù chữ.
Phổ cập giáo dục
a)Cơ sở pháp lí:
- Chỉ thị số Số: 10-CT/TW về “phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi,
củng cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, tăng cường phân
luồng học sinh sau trung học cơ sở và xóa mù chữ cho người lớn” đã nhấn mạnh
nhiệm vụ sau: Có những giải pháp tích cực để nâng cao trình độ tiếng Việt, giảm tỷ
lệ lưu ban và bỏ học đối với học sinh ở những vùng khó khăn, đặc biệt là học sinh
người dân tộc thiểu số.
-Nghị định 20/2014-NĐ-CP của Chính phủ về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ
-Quyết định số 692/QĐ-TTg ngày 4 tháng 5 năm 2013 về việc Phê duyệt Đề
án "Xóa mù chữ đến năm 2020"
b) Khái niệm phổ cập giáo dục :
Là tổ chức việc dạy học nhằm nâng cao toàn thể hay một tỉ lệ cao thành viên
trong xã hội ở một độ tuổi nhất định, đều có một trình độ học vấn nhất định. Khi


pháp luật đã quy định đối tượng, độ tuổi và trình độ PCGD, trách nhiệm và nghĩa
vụ của xã hội và cá nhân thì PCGD trở thành chế độ bắt buộc (cưỡng bức).
c)Thực trạng và những kết quả đạt được
Ở cấp mầm non:
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với các Bộ liên quan, tham mưu cho
các cấp có thẩm quyền ban hành 13 văn bản gồm (2 Quyết định, 6 thông tư, 5 văn

Số xã,
Số
TS TS xã,
phường,
huyện,
Tỉnh, TP quận, phường,
Tỷ lệ
Tỷ lệ
thị trấn
quận
huyện thị trấn
đạt PC
đạt PC
Vùng 1
153 2735
2177 79.6% 83 54.2%
Điện Biên
9
112
105 93.8%
7
77.8%
Sơn La
11
204
138 67.6%
1
9.1%
Lai Châu
8

9
164
164 100.0% 9 100.0%
Yên Bái
9
180
168 93.3%
4
44.4%
Quảng Ninh 14
186
109 58.6%
9
64.3%
Lạng Sơn
11
226
118 52.2%
0
0.0%
Bắc Giang 10
230
222 96.5% 10 100.0%

Số
tỉnh
Tỷ lệ
đạt
PC
2 13.3%


Tính đến năm 2012, chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục mầm non tăng mạnh
lên 14, 43%, tăng gấp đôi so với thời điểm năm 2000 là 6, 96%.
Tiểu học
Nhằm nâng cao chất lượng dạy học cho đồng bào dân tộc thiểu số cấp tiểu
học, Bộ Giáo Dục và Đào tạo đã chỉ đạo thực hiện nhiều giải pháp trong đó có giải
pháp “Thí điểm chương trình nghiên cứu thực hành giáo dục song ngữ trên cơ sở
tiếng mẹ đẻ với học sinh dân tộc Mông, Jai và Khơ-me của 7 trường tiểu học thuộc
3 tỉnh Lào Cai, Gia lai và Trà Vinh bắt đầu từ năm học 2008-2009. Bên cạnh đó,
chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học có quy định: Bắt đầu từ lớp 1, đối
với những trường hợp, lớp dạy tiếng dân tộc cỏ thể dùng tời lượng tự chọn để dạy
tiếng dân tộc.


Trung học cơ sở
Giai đoạn từ năm 2000-2001 đến năm 2012-2013, tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu
số so với số học sinh Trung học cơ sở trên cả nước tăng dần theo từng năm. Tính
đến năm 2012, tỷ lệ này đạt 15, 90%. Điều này thể hiện tính hiệu quả của chính
sách đầu tư, phát triển trường lớp, và chính sách hỗ trợ học sinh người dân tộc
thiểu số. Đặc biệt, những chính sách đối với các trường phổ thông dân tộc bán trú
và bán trú ban hành năm 2010 góp phần làm tăng số lượng học sinh người dân tộc
thiểu số tới trường.
Theo Trưởng phòng GD - ĐT huyện Trạm Tấu - Phạm Mạnh Tưởng, tính riêng
năm học 2013 – 2014, huyện Trạm Tấu có 10 trường PTDTBT tiểu học và THCS
với 139 lớp và 3.566 học sinh, tăng 2.129 học sinh so với năm học trước.
2.394/5.834 học sinh được hưởng chế độ bán trú, so với trước khi thực hiện Nghị
quyết đã tăng 2.394 em. Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học đạt 99%, tăng 1,7%;
học sinh đi học chuyên cần thường xuyên đạt 93 - 98%, tăng 3,43% so với trước
khi thực hiện Nghị quyết...
Học sinh Trung học cơ sở tương đối thành thào tiếng Việt nên tại các trường

tỷ lệ biết chữ của thanh niên người dân tộc thiểu số so với tỷ lệ chung đã giảm từ
15% xuống còn khoảng 6%.
-Phân theo các vùng địa lí, theo thống kê của Bộ giáo dục và đào tạo năm
2012, tỷ lệ thanh niên biết chữ và người lớn biết chữ thấp nhất tại vùng núi phía
Bắc (93,50%; 84,00). Như vậy có thể thấy rằng, số lượng người mù chữ hiện nay
chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số tập trung ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa,
có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, giao thông cách trở.
Ví dụ thực tiễn: trường Tiểu học xã Cán Tỷ lúc 21h có 2 lớp học xóa mù chữ,
đa phần học viên là những chị tuổi ngoài ba mươi, có một số người có khi đã ngoại
ngũ tuần. Lớp chật, “học sinh” ngồi bên trong, còn các phu quân làm “xe ôm” thì
đứng bên ngoài ngó vào. Ngồi hàng ghế trước, chị Vàng Thị Sung, ở thôn Đầu Cầu
II(năm nay 28 tuổi), đã có chồng, con lớn học lớp 3, con nhỏ học lớp 1. Chị đi học
vì muốn biết cái chữ, nhà nhiều việc, lại đang vào vụ làm đồng. Nhưng không học
bây giờ, chẳng biết khi nào mới biết đọc và biết viết, phải học để biết cái chữ, để
khi con có hỏi còn biết mà bảo nó chứ” ,danh sách đăng ký học là 25 chị em nhưng
giờ đang là mùa cấy nên số chị em đến lớp còn ít (15 học viên).
Hiện nay, các lớp học xóa mù chữ ở các xã đã đi vào nề nếp với số lượng học
viên luôn duy trì ổn định. Để có được kết quả này, đầu tiên phải nói đến công tác
vận động bà con đi học của các ban ngành, đoàn thể. Hầu hết những người mù chữ
thường có điều kiện kinh tế khó khăn, bản thân đều là lực lượng lao động chính
trong gia đình nên không có thời gian tham gia học tập. Không những vậy nhiều
chị em không thể tự quyết định được việc đi học mà phải có sự đồng ý của người
chồng.


Hiện nay, ở Quản Bạ độ tuổi 15- 60 có 84,63% người biết chữ; số người mù
chữ chiếm 15,37%. Thực hiện Đề án “Xoá mù chữ đến năm 2020”, huyện Quản Bạ
đã ra một số mục tiêu cơ bản. Phấn đấu đến năm 2015, tỷ lệ người biết chữ là
90% . Đặc biệt, để củng cố vững chắc kết quả xóa mù chữ, huyện đặt mục tiêu năm
2015 có 60% số người biết chữ tham gia học tập với nhiều hình thức. Đến năm

1. Nguyên nhân của những hạn chế.
Về mặt khách quan:
- Nền kinh tế nước ta hiện nay còn tồn tại nhiều khó khăn. vì vậy, nguồn vốn
chủ yếu bố trí từ CTMTQG GDĐT hàng năm là rất hạn hẹp.


- Sự chênh lệch về đời sống kinh tế- xã hội tại khu vực sinh sống của đồng
bào dân tộc thiểu số so với các vùng khác còn khá lớn, dân trí thấp, kinh tế chậm
phát triển, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo thường cao hơn 3 lần so với trung bình của
các tỉnh;. Vì khó khăn nên nhiều em đã phải bỏ học để giúp đỡ gia đình sản xuất,
đặc biệt là học sinh THCS và THPT. Một số em phải ở trọ do trường quá xa nhà,
hằng tháng phải chi một khoản tiền phòng và tiền ăn tương đối lớn nên không thể
theo học được.
- Ngôn ngữ cũng được coi là một rào cản lớn đối với trẻ em các dân tộc thiểu
số (kể cả đội ngũ giáo viên dạy học), nó ảnh hưởng sâu sắc và là yếu tố có sự quyết
định tới sự thành công của chính sách giáo dục và đào tạo.
- Bên cạnh đó, các tập quán sinh hoạt lạc hậu cũng ảnh hưởng không nhỏ đến
quỹ thời gian dành cho học tập của học sinh tới môi trường giáo dục của nhà
trường. Đặc biệt, tập quán kết hôn sớm ở một số tộc người khiến nhiều em phải bỏ
học giữa chừng (nhất là các em gái), trọng nam khinh nữ, tác động tiêu cực đến
giáo dục phổ thông. Một số trường hợp hôn nhân cận huyết còn gây ảnh hưởng đến
nòi giống, làm suy giảm chất lượng giáo dục.
- Sự tác động của các yếu tố ngoại cảnh như: giá cả, thị trường, đầu tư và các
chính sách kinh tế- văn hóa- xã hội.. cũng ảnh hưởng tới sự vận hành của chính
sách giáo dục và đào tạo đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Về mặt chủ quan: xét trên 2 chủ thể:
Phía cơ quan Nhà nước thực hiện quản lí :
- Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các văn bản QPPL và khuyến khích triển
khai chính sách giáo dục và đào tạo đối với đồng bào dân tộc thiểu số tuy nhiên
còn mang tính cục bộ, thiếu sự thống nhất, kiểm tra, giám nghiêm ngặt trong quá

- Về trình độ tư duy, học sinh dân tộc ở cấp tiểu học thường mang tính trực
quan, không linh hoạt, thậm chí nhiều khi rập khuôn, máy móc. Những đặc điểm
đó dễ tạo ra lỗ hổng kiến thức, khiến các em chán nản và bỏ học. Hơn nữa, các em
học sinh vùng đồng bào dân tộc vốn quen sống tự do, phóng khoáng ở làng, bản
nên khi đến trường, các em thường chậm thích nghi với hoàn cảnh mới và khó hoà
nhập với tập thể... Nhất là bản người Hmông. Đây là thách thức không nhỏ mà các
tỉnh, huyện và trực tiếp là các Phòng Giáo dục chưa giải quyết được triệt để.
- Bản thân người lao động, đặc biệt là người DTTS, miền núi chưa nhận thức
đúng, chưa hiểu được tầm quan trọng của việc học nghề để lập nghiệp.
2. Một số giải pháp, kiến nghị cụ thể.
a) Giải pháp


- Một là, Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của
cấp ủy, chính quyền các địa phương và cộng đồng về sự cần thiết phải củng cố và
phát triển hệ thống trường PTDTNT
- Hai là, cần tập trung nguồn lực, ưu tiên cho đối tượng lao động thuộc hộ
nghèo, hộ DTTS, hộ bị thu hồi đất, tái định cư. Gắn kết chặt chẽ giáo dục với quy
hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
- Ba là, tiếp tục thực hiện bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ
cán bộ quản lý, giáo viên và tăng cường các điều kiện hỗ trợ hoạt động quản lý,
giáo dục trong các trường PTDTNT
- Bốn là, tạo điều kiện và cơ chế chính sách khuyến khích các doanh nghiệp,
các thành phần kinh tế, các cơ sở đào tạo nghề ngoài công lập tham gia đào tạo,
dạy nghề gắn với thu hút lao động nông thôn vào doanh nghiệp.
- Năm là, giám sát chặt chẽ hơn nữa việc sử dụng nguồn kinh phí hỗ trợ tại
các địa phương trong việc đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, phụ cấp, học
bổng.
b) Một số kiến nghị
• Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ:

-----HẾT----




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status