Nhân vật của Nam Cao - Pdf 41

TẬP SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN SỐ 5/1997
NAM CAO VỚI NHỮNG NHÂN VẬT
GIÀU SỨC SỐNG CỦA ÔNG
NGUYỄN THỊ HỒNG HÀ
Nam Cao là nhà văn ngày càng được cả thế giớ nghiên cứu và giớ sáng tác đánh giá cao, coi
nhu tác giả hàng đầu của văn học hiện đại Việt Nam. Có thể nói tác phẩmNam Cao là một kho
tàng nhân học có trữ lượng phong phú khó mà lường hết. Kho tàng ấy chủ yếu hàm chứa trong
một thế giớ nhân vật sống động, vừa thật gần gũi, vừa mới lạ đến sững sờ như những phát hiện
lần đầu, mang rõ dấu ấn đặc sắc của Nam Cao. Trong đó, có một số đã thành điển hình quen
thuộc với mọi tầng lớp, đi vào thành ngữ cửa miệng của toàn dân.
Gần nửa thế kỷ nay, những cảm nhận khác nhau về Chí Phèo, Thị Nở, Lão Hạc, anh giáo
thứ… trong thơ ca, truyện ngắn, điện ảnh và cả trong tiểu thuyết hàng trăm trang
(1)
, mấy thuộc
hội thảo quốc gia
(2)
, nhiều bài bàn trực tiếp hay chỉ là đôi dòng liên tưởng nói ghé vào … về Nam
Cao, tất cả cho ta thấy một sự trạng hiển nhiên: cùng với độ lùi năm tháng, những nhân vật Nam
Caonhư được dòng chảy thời gian tắm gội cho, ngày càng lộ rõ hơn duyên sắc tươi đậm của
mình. Cái gì khiến cho những Chí Phèo, Lão Hạc, Thứ,Hộ, Điền, dì Hảo… mãi mãi là những
người thân thuộc đồng hành với ta, mãi mãi có sức cuốn hút; cái gì trong tác phẩm Nam Cao
“khiến nó cứ mới mãi, được người đọc đọc mãi” – như Nguyễn Minh Châu
(3)
, một nhà cách tân
quan trọng khác trong văn xuôi đương đạicủa ta, đã phải đặt thành câu hỏi ? Là tác giả của “Chí
Phèo” – một tác phẩm ”đạt tới độ tuyệt vời viên mãn”, có”giá trị cổ điển trên tất cả phương diện”,
cùng với ”Sống mòn”- “một kiệt tác hiện thực” là ”hai tuyệt đỉnh của văn xuôi Việt Nam hiện đại”
(4)
, Nam Cao xứng đáng được coi như một cây bút kết tinh những thành tựu văn xuôi tự sự của ta,
saumấy thập kỷ gia tốc phát triển hướng vào quỹ đạo hiện đại.Để góp phần vào việc giải đáp này,
cần tìm hiểu cống hiến của Nam Cao- theo ý tôi, là thành tựu nổi bật, xây dựng nhân vật.

trả thù tỉnh táo-“một đầu óc sáng sủa nhất của làng Vũ Đại… vượt ra ngoài tầm khôn ngoaan lộc
lõi của Bá Kiến”. Y liều lĩnh vong mạng đồng thời vẫn mang trong tiềm thức nổi “sợ cố hữu” của
anh canh điền “vừa bóp đùi cho Bà Ba vừa run” ngày xưa. Ngay trong lối chửi tưởng chừng hết
sức phi lý của y (“chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn”) nếu nghỉ kỹ vẫn thấy nguồn cơn có lý
của nó. Y sa đoạ xuống đáy đục ngầu phàm tục, nhưng cũng co khả năng vươn đến chất thơ trong
trẻo hiếm có của tình yêu (“ hắn nhìn bát cháo bốc khói mà bâng khuậng…và hắn say thị lắm”, “
hắn muốn làm nũng với thị như vối mẹ. Oâi sao mà hắn hiền…”). Không chỉ vậy, trong nhân vật
độc đáo này còn có khát vọng đổi đời – “Một cái khát vọng đâu phải tầm thường” khiến “Chí
Phèo tắm trong chất thơ” đúng như nhận định của Đặng Anh Đào. Không nắm được tính phức
hợp-lưỡng phân này, dễ dẫn đến cách nhìn cắt xén, dừng lại ở “một nữa Chí Phèo” mà khó thấy
được tính cách Chí Phèo “không phát triển đơn thuần một chiều thuận ”người hóa” hay nghịch
“vật hóa “, mà dao động trên các cực đối lập : lương thiện- lưu manh, người- vật… Đó là sự vận
đông đa tuyến, dao động trên nhiều phương diện”.
Không có những nét nghịch dị độtä xuất, được cá biệt hoá như Chí Phèo, nhưng Thứ lại có sự
phức hợp, sự giằng co đa dạng của người trí thức ở cấp độ nhân văn cao hơn. Trong người trí
thức nghèo nàyluôn đan xen nhau cái tâm thể luẩn quẩnvì nỗi lo tồn tại sinh vật (“Lúc nào cũng
lo chết đói, lúc nào cũng lo làm thế nào cho không chết đói”) với khát vọng bay bổng về một lý
tưởng cao xa(“ y náo nức muốn học, muốn thành tài, để đem cái tài ra mà dẹp tan những nỗi bất
bình kia”). Vừa tự ti, nghĩ ” mình chỉ là một anh giáo khổ trường tư, lương kém lương anh bồi
khách sạn to” không dám vào nhà Hải Nam; vừa tự tôn xét mình” cũng có học, cũng thông minh
không kém gì ai… lại biết trọng nhân cách và có những ước vọng cao”. Y vốn ”hãi người” nói
chung, ”nhát gái lạ lùng”, nhưng có lúc táo bạo đến mức cố ý ”rẽ vào những con đường tối… ước
ao được một cô gái giang hồ ngăn lại, khoác tay lên vai…” Để trả miếng lại Oanh, Thứ đã có cử
chỉ biêu riếu cô ta một cách “tàn nhẫn… mà lại đê tiện nữa” như chính y ân hận sau đó. Nhưng
đối với gia đình ông Học- một chủ trọ khác của y, Thứ lai tế nhị đến mức cứ áy náy mãi chỉ vì sự
có mặt của y và San- hai ông giáo nho nhã đãõ ”làm nổi bật cái lỗ mãng của ông chủ nhà”, khác
nào ”một hạt táo… đã trồi lên, làm vướng víu cái hạnh phúc giản dị của gia đình họ …”
Quả thật, tính cách những Chí Phèo, Thứ đã minh hoạ đầy sức thuyết phục cho một nhận xét
của nhà tâm lý học Rubinxtên :Mỗi người là cả “một nước cộng hoà nhiều chủ thể”.
Hộ trong Đời thừa- một hoá thân khác của Nam Cao – cũng phức hợp, lưỡng phân như thế.

đã viết: ”For always, the inmost becomes the outmost”
(7)
. Nam Cao lại đặc biệt sở trường miêu tả tâm lý. Oâng đã phanh phui ra bao nhiêu ngóc ngách
sâu kín vốn có trong lòng dạ con người, khiến bạn đọc cứ cãm thấy nhột mình chạm nọc trước
những khía cạnh tưởng như mới mẻ đến ngỡ ngàng, kỳ thực chỉ là những “người lạ đã quen”,
những tri kỷ bất ngờ từ treang sách Nam Cao. Nhận thức nghệ thuật thường mặc nhiên bao gồm
một khâu thiết yếu là nhận thức của bản thân; sở dĩ Nam Cao có sức quyến rũ mạnh, chủ yếu
người đọc luôn tìm thấy mình trong nhân vật của ông-ai mà chẳng muốn qua hân vật, được
ngắm lại chính mình? Đặc sắc nổi bật này của Nam Cao cũng chính là một đặc trưng quan trọng
của tiểu thuyết hiện đại. Nhiều nhân-vật-đầy-tâm-trạng trong truyện Nam Cao quen “đọc, ngẫm
nghỉ, tìm tòi, nhận xét và suy tưởng không biết chán” (“Đời thừa”) khiến ta liên tưởng đến phẩm
chất con người ở thế kỷ ánh sáng-những “cây sậy biết suy tư” (Pascal), coi suy tư là cách thế
chính để tư cách người
(8).
Một đặc sắc sáng giá nữa trong nhân vật Nam Cao là nội tâm không chỉ được phanh phui,
khắc họa sâu sắc, mà còn được ghi nhận trong quá trình của nó, đặc biệt trong mọi diễn biến tâm
lý bộc lộ biện chứng sinh động thế giới bên trong; giúp người đọc soi thấy chính lòng mình, qua
đó rút ra được ít nhiều bài học đường đời cho bản thân-diễn biến đường đời của Chí Phèo chính là
quá trình anh canh điền có lương tri đấu tranh với tên tay sai quỹ dữ bị nhiễm độc thâm căn. Quá
trình ấy đã vận động từ tình trạng hài kịch cười ra nước mắt của một đồ ngợm, chuyền hóa thành
bi kịch thức tỉnh muốn sống như một con người. Nội dung những “Sống mòn”, “Đời thừa” có gì
khác ngoài hàng loạt cảnh cắn rứt, hành hạ lẫn nhau trong “cái chăn quá hẹp” của hạnh phúc và tự
làm tình làm tội mình qua một chuỗi ân hận, dằn vặt, xót xa? Đó cũng là một quá trình ráng sức
quẫy cựa mong thoát tình trạng mỏi mòn “chết mà chưa sống” (Sống mòn). Bước đường sa đọa
của anh Cu Lộ trong “Tư cách mõ” cũng là một quá trình tâm linh hết sức biện chứng, từ một
người vốn “ăn ở phân minh lắm…hàng xóm láng giềng ai cũng mến” đến chỗ “người ta càng
khinh hắn, càng làm nhục hắn, hắn càng không biết nhục”, trở thành một “anh mõ chính thông”.
Tác giả đã kết thúc quá trình này bằng một câu triết lý nghiệm sinh: “Hỡi ôi! Thì ra lòng khinh
trọng của chúng ta có ảnh hưởng đến cái nhân cách của người khác nhiều lắm; nhiều người không
biết gì tự trọng, chỉ vì không được ai trọng cả; làm nhục người là một cách rất dịêu để khiến người

làm gì? Đau đớn thay cho những kiếp sống khao khát muốn lên cao nhưng lại bị áo cơm gì sát đất
“.
Tâm niệm này rất gần với ý tưởng nhân văn cộng sản, đến mức giống như một câu được trích
dẫn trong nguyên tắc của Mars ”(Hoàng Ngọc Hiến – “ văn học và học văn”). Ý hướng nhân văn
được Nam Cao chăm chú dõi theo và miêu tả trong suốt hành trình tâm linh của nhân vật.Bản
thân quá trình sáng tác của Nam Cao cũng là một hành trình kêu gọi thức tỉnh nhân tính, rà lại
nhân phẩm, vươn tới nhân văn. Nhìn nhận theo hướng đó , sẽ thấy từ Chí Phèo đến Sóng Mòn,
nhà văn đã có sự vượt mình không nhỏ.
III. NHÂN VẬT ĐƯỢC XÂY DỰNG BẰNG CHẤT LIỆU ĐỜI THƯỜNG, BÚT PHÁP
ĐA DẠNG.
Gần như tất cả truyện của Nam Cao, kể cả hai tiểu thuyết dài hơi còn lại của ông – Sống mòn
và “Những người hàng xóm” – đều được xây dựng từng những chuyện vặ¨t vãnh, nhí nhách giữa
những con người nhỏ bé tội nghiệp; là sự thật đời thường, là cuộc sống hàng ngày của mỗi người:
Một bữa ăn với gia đình (Sống mòn), một lần trả lầm tiền mua sách quá mất mấy xu (nhỏ nhen),
tối sáng trăng ra sân ngồi chơi của Điền, bát cháo hành giải cãm của Thị Nở…làm nền cho
khoảng khắc thức tỉnh của Chí Phèo cũng là “tiếng trò chuyện của người đi chợ, tiếng gõ mái
chèo đuổi cá”… rất bình dị.
Để chuyển chất liệu đời thường ấy thành nhân vật văn học, Nam Cao đã vận dụng nhiều bút
pháp đa dạng. Có trào phúng, thường là cái cuời chua chát, cười ra mắt trước những hiện tượng
“nghịch dị” bộc lộ tình trạng bất thường, phi lý ngày càng trầm trọng trong xã hội. Có tả chân,
đến mức cứ như thấy hiện lên mồn một trước mặt (ví như đoạn tả người đàn bà nghèo ăn gian
một tấm bánh ngoài chợ trong truyện “Đòn chồng”) Có tự sự độc đáo “rất biến hóa, cứ nhập
thẳng vào đời sống bên trong của nhân vật mà đắc dẫn mạnh tự sự theo dòng độc thoại nội tâm”.
Và chữ tình-thứ chữ tình có một vị chua chát, thấm thía ruột gan, nhuyễn vào tự sự, mang đặc sắc
riêng trộn không lẫn của Nam Cao mà có người gọi là “gịọng chữ tình tàn nhẫn”; ý vị chữ tình ấy
hầu như nhuần đượm trên mỗi dòng chữ của ông.
Ngôn ngữ tronbg sáng tác Nam Cao dù là ngôn gnữ miêu tả hay tự sự, đối thoại hay độc thoại
của nam Cao đến nay đọc lại vẫn hết sức trong sáng, có duyên lạ lùng, “đạt đền mức cổ điển của
văn xuôi tiếng Việt”. Ngôn ngữ thật sự đa dạng: Tiếng nói nhân vật, tiếng nói tác giả, tiếng hòa
trộn của tác giả với nhân vật…: và đặc biệt sỏ trường về ngôn ngữ bên trong với giọng nhập vai

phá ra nhiều bí mật lòng người giữa đời thường; Với vai trò, tầm cỡ độc đáo và đặc sắc dân tộc
của ông, có thể coi Nam Cao là tác giả tập đại thành của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt
Nam hiện đại, xứng đáng hội thoại cùng những nhà văn hiện thực nhân bản tiêu biểu của thế kỷ
XX.
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status