1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Dịch vụ nói chung và du lịch nói riêng là một ngành kinh tế ra đời muộn trong quá
trình phát triển kinh tế của xã hội loài người. Nhu cầu của con người ngày càng tăng lên do
sự phát triển của nền kinh tế, do đó việc tìm hiểu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến du
lịch đặc biệt là các TNDL để phục vụ cho việc phát triển luôn được nhà nước quan tâm.
Ở nước ngoài đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở những quy mô khác nhau. Một
số tác giả như: Likhainôp (Nga), Đavit (Mỹ), H.Roobinsơn (Anh), Chưbưvachôp (Bungari),
Ce – Capar (Pháp)… đã có những công trình nghiên cứu về du lịch và TNDL cho sự khai
thác lãnh thổ rất có giá trị.
Ở Việt Nam cùng với sự phát triển ngành du lịch thì các vấn đề nghiên cứu TNDL cho
phát triển du lịch ngày càng nhiều, trong đó có các công trình nghiên cứu về địa chất – địa
mạo tiêu biểu phải kể đến như: “Giá trị nổi bật về địa chất Vịnh Hạ Long” (GS Tony
Waltham và TS. Trần Đức Thạnh), “Lịch sử địa chất Vịnh Hạ Long” (Trần Đức Thạnh,
1999)… hay bài báo liên quan đến giá trị địa chất – địa mạo như “Karst đá vôi Vịnh Hạ
Long” trong báo cáo nghiên cứu về địa mạo Di sản thế giới Vịnh Hạ Long (GS. Waltham),
“Giá trị địa chất – địa mạo của Vịnh Hạ Long” (báo Tuổi Trẻ, 30/1/2008), “Núi đôi Quản
Bạ - giá trị di sản địa chất độc đáo” (ban quản lí Công viên địa chất Toàn cầu Cao nguyên
đá Đồng Văn, 4/2012), báo cáo “Vùng Mũi Lạy – Hổ Xá: Kì quan địa chất ven biển miền
Trung cần được bảo tồn và phát huy giá trị” của Viện Địa lý – Viện KH và CNVN…
Bên cạnh đó còn có một số công trình nghiên cứu để phục vụ phát triển du lịch như:
“Đánh giá TNDL – tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” (Vũ Tuấn Cảnh, 1992), “Tài nguyên
và du lịch Việt Nam” (Phạm Trung Lương, 2000)… và một số giáo trình nghiên cứu về
TNDL một cách cơ bản và có hệ thống: “Tổ chức lãnh thổ du lịch”, sách bồi dưỡng thường
xuyên chu kỳ 1997 – 2000 dành cho giáo viên phổ thông trung học (Lê Thông, 1998); “Địa
lí du lịch” (Nguyễn Minh Tuệ và nnk, 1996)… Trên phạm vi từng địa phương với những
công trình nghiên cứu phải kể đến là: “Đánh giá và khai thác điều kiện tự nhiên và tài
nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì phục vụ mục đích du lịch” (Đặng Duy Lợi), “Bước đầu
nước ta đã khẳng định “Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng góp phần nâng cao
dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” và coi “phát triển du lịch là
một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” phấn đấu “từng bước đưa nước ta thành
trung tâm du lịch, thương mại – dịch vụ có tầm cỡ trong khu vực”. Với chủ trương này, hiện
nay việc nghiên cứu đánh giá các TNDL trên phạm vi cả nước và từng địa phương được
nhiều ngành, nhiều cấp quan tâm nhằm khai thác thế mạnh, tiềm năng du lịch của nước nhà
[14, tr 1].
Bình Định – Phú Yên – Khánh Hòa, ba tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, có
diện tích hơn 16.000km2, đất đai kém màu mỡ nhưng có đường bờ biển dài (gần 700km),
với nhiều cảnh quan đẹp như: Vịnh Làng Mai; Gành Đá Đĩa, đầm Ô Loan; Hòn Chồng, vịnh
Nha Trang… cùng các giá trị địa chất, địa mạo nổi bật khác. Các yếu tố này chính là tiềm
năng quý giá để Bình Định – Phú Yên – Khánh Hòa khai thác để phát triển kinh tế biển, đặc
biệt là du lịch.
Tuy nhiên, hiện nay với sự phát triển ngành du lịch biển của Bình Định – Phú Yên –
Khánh Hòa thì vẫn chưa khai thác hết tiềm năng mà các cảnh quan ven biển mang lại. Vì
vậy, việc nghiên cứu đánh giá các giá trị địa chất – địa mạo của dải ven biển sẽ góp phần
quan trọng trong việc khai thác và phát triển ngành du lịch biển cho ba địa phương. Hơn
nữa “thế kỉ XXI là thế kỉ hướng ra biển và đại dương” thì vấn đề này càng trở nên cần thiết.
Là sinh viên chuyên ngành sư phạm Địa lí, việc vận dụng lí thuyết vào thực tiễn có ý
nghĩa hết sức quan trọng, nó đảm bảo được vấn đề “học đi đôi với hành”, “lí thuyết gắn liền
với thực tiễn”. Đồng thời, với những hiểu biết về điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển
kinh tế - xã hội nói chung, về TNDL và hoạt động du lịch biển của địa phương nói riêng.
Chúng tôi có thể vận dụng những kiến thức, hiểu biết chuyên môn của mình vào việc
nghiên cứu đánh giá tiềm năng thế mạnh du lịch biển của Bình Định – Phú Yên – Khánh
Hòa. Qua đó có nhìn nhận đúng đắn, khách quan về việc phát triển hoạt động du lịch biển
của địa phương theo hướng bền vững.
Do đó, việc thực hiện đề tài “ Đánh giá giá trị địa chất – địa mạo dải ven biển Bình
Định – Phú Yên – Khánh Hòa phục vụ phát triển du lịch biển” có ý nghĩa lí luận và thực
tiễn sâu sắc.
Địa điểm: Dải ven biển Bình Định - Phú Yên - Khánh Hòa.
Thời gian: Thời gian nghiên cứu hiện trạng và số liệu sử dụng trong đề tài từ
năm 2000 đến 2012.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận
6.1.1. Quan điểm hệ thống
-
Cơ sở khoa học của quan điểm là quan niệm về sự thống nhất và hoàn chỉnh về mặt
động lực bên trong của các đối tượng nghiên cứu. Cho phép ta hiểu phân tích, đánh giá
khách quan một cách toàn diện và hợp lí của những đối tượng nghiên cứu phục vụ khai thác
toàn diện lâu bền lãnh thổ.
Yếu tố địa chất – địa mạo dải ven biển chỉ là một thành phần nhỏ trong hệ thống tự
nhiên của Bình Định - Phú Yên - Khánh Hòa và yếu tố tự nhiên này cũng chịu tác động
không nhỏ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Vì vậy, khi nghiên
cứu nhằm tìm ra giá trị của yếu tố địa chất – địa mạo này, cần phải xem xét trong mối quan
hệ biện chứng với hệ thống tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của vùng.
6.1.2. Quan điểm lãnh thổ
4
Mọi sự vật, hiện tượng địa lí đều gắn liền với một phạm vi lãnh thổ nhất định, đồng
thời có mối quan hệ với các lãnh thổ khác tạo nên nét khác biệt mang tính bản chất của
vùng lãnh thổ nghiên cứu.
Duyên hải Nam Trung Bộ với nhiều giá trị địa chất – địa mạo nổi bật và có nhiều nét
tương đồng nhau. Vì vậy, khi tiến hành nghiên cứu đánh giá tại ba địa phương Bình Định Phú Yên - Khánh Hòa, phải xem xét trong toàn bộ lãnh thổ của vùng.
6.1.3. Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Quan điểm phát triển bền vững là quan điểm chủ đạo trong nghiên cứu bảo vệ môi
Dưới đây là một số công việc mà nhóm tác giả đã thực hiện khi tiến hành khảo sát,
thực địa tại các điểm của lãnh thổ nghiên cứu:
5
Bảng 1: Một số điểm nghiên cứuvà nhiệm vụ trong chuyến khảo sát, thực địa
Tỉnh
Điểm
nghiên cứu
Bình
Định
Vịnh
Quy Nhơn
Phú
Yên
Gành Đá
Đĩa
Khánh
Hòa
Vịnh
NhaTrang
cảnh quan xung quanh điểm nghiên cứu.
6
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Cơ sở lí luận
Dải ven biển
Dải ven biển (hay còn gọi là vùng ven biển, đới bờ, dải ven bờ, hoặc dải bờ biển…) là
một thực thể tự nhiên hoàn chỉnh cấp hành tinh, có đặc trưng riêng về nguồn gốc phát sinh,
về hình thái, cấu trúc, về cơ cấu tài nguyên và quá trình phát triển, tiến hóa… [19]. Mặc dù
đã được nghiên cứu từ lâu nhưng cho tới nay, khái niệm và phạm vi ranh giới của dải ven
biển vẫn chưa thống nhất, điều này đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu
cả khoa học tự nhiên và khoa học kinh tế. Theo các tài liệu nước ngoài, tương đương với
thuật ngữ “dải ven biển” của Việt Nam, có các thuật ngữ sau:
- Nga: Vùng duyên hải (прибрежная зона)
- Pháp: Vùng ven biển (Littoral hoặc Côte)
- Anh: Vùng ven biển (Coastal zone)
Như vậy, quan niệm về việc phân định và tiêu chí để xác định ranh giới dải ven biển
của mỗi nước cũng khác nhau. Ngoài ra, trong từng lĩnh vực khoa học cũng có những khái
niệm về dải ven biển và cách tiếp cận riêng để xác định phạm vi ranh giới của dải ven biển.
Trong Từ điển bách khoa các thuật ngữ Địa lý tự nhiên (bốn thứ tiếng Nga, Anh,
Pháp, Đức) - NXB Tiến bộ, Macxcơva, 1980, vùng ven biển được định nghĩa như sau:
“Vùng ven biển là dải ranh giới giữa đất liền và biển, đặc trưng bởi sự có mặt phổ biến của
các dạng địa hình bờ biển cổ và hiện đại. Ở dạng đầy đủ hơn, bao gồm khái niệm miền
duyên hải – là dải lục địa có các thềm biển cổ, dải bờ - nơi có các dạng bờ hiện đại, và ven
bờ biển hoặc là nơi có các dạng bờ cổ bị ngập” [21, tr 26].
Định nghĩa này trình bày khái niệm theo quan điểm địa mạo, địa lí tự nhiên. Cũng
theo quan điểm này, một số tác giả thường sử dụng đường đẳng cao 25m làm ranh giới phía
nghiên cứu và qui hoạch phát triển vùng ven biển gặp nhiều khó khăn và không sát với thực
tế [21, tr 7].
Ở nước ta, khái niệm về dải ven biển cũng đã được đề cập từ lâu dưới nhiều góc độ
khác nhau và trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Đặc biệt từ giữa những năm 70 của
thể kỉ trước đến nay, trong những công trình khoa học liên quan đến biển và ven biển của
nước ta, các nhà khoa học Việt Nam đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về dải ven biển.
Sau đây là một số khái niệm tiêu biểu.
Trong báo cáo khoa học của Ủy ban Quốc gia về biển của Việt Nam (IOC),
GS.TSKH Đặng Ngọc Thanh, chủ nhiệm các Chương trình điều tra nghiên cứu biển của
Việt Nam từ năm 1997 – 2000 đã đưa ra khái niệm vùng ven biển như sau: “Vùng ven biển
Việt Nam chạy dài trên 3200km bờ biển của đất nước, bao gồm 24/50 tỉnh và thành phố,
100/400 huyện với số dân chiếm 25% dân số cả nước…”
Trong đề tài “Nghiên cứu xây dựng phương án quản lí tổng hợp vùng bờ biển Việt
Nam, góp phần đảm bảo an toàn môi trường và phát triển bền vững” thuộc Chương trình
Điều tra nghiên cứu biển giai đoạn 1996 – 2000 do Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng
thực hiện (1996 – 2000), các tác giả đã đưa ra một số khái niệm tổng quát về đới bờ biển
(hay dải ven biển) như sau: “ Đới bờ biển là một khu vực chuyển tiếp giữa lục địa và biển,
một đới động và nhạy cảm, và là một hệ thống tự nhiên đặc trưng bởi các quá trình tương
tác; một khu vực có tiềm năng tài nguyên phục vụ phát triển đa ngành và là nơi chịu tác
động mạnh của các hoạt động con người”.
Trong đề tài “Cơ sở khoa học cho việc phát triển kinh tế - xã hội dải ven biển Việt
Nam, đề xuất các mô hình phát triển cho một số lĩnh vực trọng điểm”, mã số: KC.09.11,
năm 2004, do Viện chiến lược phát triển thực hiện. Các tác giả đã đưa ra quan điểm dải ven
biển như sau: “Dải ven biển (hay còn gọi là đới bờ biển) là khu vực chuyển tiếp giữa lục địa
và biển, được đặc trưng bởi các quá trình tương tác giữa lục địa và biển, giữa nước ngọt và
nước mặn và giữa các hệ sinh thái khác nhau trong dải”[21, tr 11].
Như vậy dải ven biển là một hệ thống tự nhiên phức tạp và có giá trị tự nhiên đặc thù
khác hẳn với các vùng lục địa và các vùng biển lân cận. Dải ven biển có các thuộc tính cơ
bản sau:
- Là một hệ tự nhiên hoàn chỉnh, độc lập nhưng không cô lập.
nằm trong dải ven biển.
2
Giá trị địa chất – địa mạo
1.1.1.1.
Giá trị địa chất
Tài nguyên địa chất hiện nay là kết quả của quá trình phát triển địa chất lâu dài với sự
tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó nổi bật nên một số giai đoạn hình thành đặc điểm địa
chất của di tích tự nhiên tiêu biểu.
Tài nguyên địa chất là những bảo tàng địa chất quý giá của tự nhiên, trải qua những
giai đoạn hình thành lâu dài. Được coi là những “trang sử” ghi lại những biến cố vĩ đại của
quá trình địa chất của khu vực, được thể hiện qua các đặc điểm màu sắc, thành phần vật
chất, sự sắp xếp, cấu tạo các lớp đá, các di tích hóa thạch được bảo tồn cho đến ngày nay.
Như vậy có thể hiểu giá trị địa chất lànhững tài nguyên địa chất có giá trị nổi bật về khoa
học, giáo dục, thẩm mỹ và kinh tế,đó là các cảnh quan địa mạo, các di chỉ cổ sinh, hoá thạch, các
miệng núi lửa đã tắt hoặc đang hoạt động, các hang động, hẻm vực sông, hồ tự nhiên, thác nước,
các diện lộ tự nhiên hay nhân tạo của đá và quặng … những dấu ấn phản ánh một cách trực quan
và sinh động nhất lịch sử tiến hóa. Các tài nguyên địa chất này có thể được con người khai
thác để phục vụ cho hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội, hoặc ở dạng tiềm năng. Cách hiểu
này đã được áp dụng trong nghiên cứu giá trị địa chất – địa mạo Vịnh Hạ Long (Quảng
Ninh).
Như vậy, trong giới hạn của dải ven biển Bình Định – Phú Yên – Khánh Hòa thì giá trị
địa chất đó là gành đá, các dạng địa hình xâm thực, các điểm lộ của đá macma xâm nhập...
1.1.1.2.
Giá trị địa mạo
Các dạng địa hình ngày nay có lịch sử tiến hóa địa mạo khác nhau, có những dạng địa
hình được hình thành khá lâu và cũng có những dạng địa hình mới được hình thành với
những đặc điểmkiến tạo, thạch học… đã tạo nên sự phong phú và đa dạng cảnh quan tự
nhiên. Những dạng cảnh quan đa dạng như hang động, địa hình Karst, bãi biển, vịnh biển,
tiềm năng tài nguyên, môi trường du lịch biển” [15, tr 12].
Như vậy có thể hiểu: “Du lịch biển là những hoạt động du lịch được phát triển dựa
trên nền tảng sự kết hợp những tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn độc đáo chỉ có
tại dải ven biển và hải đảo, cùng với sự đảm bảo về cơ sở hạ tầng, dịch vụ du lịch”. Du lịch
biển được hiểu dưới hai góc độ: Du lịch biển thể hiện không gian của hoạt động du lịch và
du lịch biển thể hiện đặc trưng của LHDL. Vì theo cách phân loại LHDL theo đặc điểm địa
lí của điểm du lịch du lịch miền biển là một trong bốn LHDL. Còn khái niệm du lịch biển
trong đề tài được hiểu là không gian hoạt động du lịch không phải là LHDL.
1
LHDL biển
Theo Phạm Trung Lương (2004) “LHDL là các hình thức du lịch được tổ chức nhằm
thỏa mãn mục đích đi du lịch của khách du lịch”.
Có thể hiểu LHDL biển là hoạt động du lịch diễn ra với các mục đích, hình thức và đặc
trưng riêng, cho phép phân biệt với các hoạt động du lịch khác. Các hoạt động du lịch được
tổ chức phát triển ở vùng địa lý đặc thù là vùng ven biển và hải đảo trên cơ sở khai thác các
đặc điểm tiềm năng tài nguyên, môi trường du lịch biển.
Hoạt động du lịch có thể được phân chia thành các nhóm khác nhau tùy thuộc vào các
tiêu chí đưa ra. Các tiêu chí đưa ra lại phụ thuộc vào mục đích phân loại và quan điểm chủ
quan của tác giả. Do đó đến nay chưa có bảng phân loại nào được coi là hoàn hảo. Hiện nay,
một số nhà du lịch Việt Nam phân chia các LHDL theo các tiêu chí cơ bản: Phân loại theo
môi trường tài nguyên, theo mục đích chuyến đi, theo lãnh thổ hoạt động, theo đặc điểm địa
10
lý của điểm du lịch, theo phương tiện giao thông, theo loại hình lưu trú. Ngoài ra còn có các
cách phân loại LHDL dựa vào lứa tuổi du khách, độ dài chuyến đi, hình thức tổ chức,
phương thức hợp đồng…
Du lịch tàu biển
Tìm hiểu lối sống cộng đồng
Lễ hội biển
Văn hóa, nghệ thuật
Hình 1: Phân loại các LHDL biển (theo Phạm Trung Lương [15, tr 12]
1.1.3. Cơ sở đánh giá giá trị địa chất – địa mạo phục vụ phát triển du lịch biển
1.1.3.1.
Phương pháp đánh giá
Đánh giá TNDL là đánh giá kỹ thuật mà nhiệm vụ là phân loại TNDL theo mức độ
thuận lợi của chúng cho các hoạt động du lịch của con người, liên quan tới tất cả LHDL, đồng
thời cũng có thể chỉ cho một LHDL. Hiện nay phổ biến có hai phương pháp đánh giá điều
kiện để phát triển du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng là đánh giá theo từng dạng tài
nguyên và đánh giá tổng hợp tài nguyên.
-
Phương pháp đánh giá theo từng dạng TNDL
Phương pháp này dựa vào các tiêu chuẩn đã được xác định để lấy đó làm chuẩn hoặc cơ
sở để nhà nghiên cứu đánh giá. Đối với TNDL tự nhiên, các dạng tài nguyên như: Địa hình,
11
khí hậu, thủy văn, sinh vật đều được xác định dựa trên một số tiêu chuẩn nhất định. Trong đề
tài này, chúng tôi chỉ nghiên cứu và đánh giá các đặc điểm, giá trị của TNDL về mặt địa chất
và địa mạo.
Đặc điểm địa chất là một dạng TNDL được đánh giá bằng di tích địa chất như các hang
động, thác nước, gành đá… thường là các đối tượng du lịch đặc sắc.
dựa trên các tiêu chí đã được xây dựng.
1.1.3.2.
Quy trình đánh giá
Xây dựng thang đánh giá là bước quan trọng và quyết định đến kết quả đánh giá. Quy
trình này bao gồm các nội dung quan trọng: Xác định các tiêu chí dánh giá, xác định các cấp
của của từng tiêu chí, xác định chỉ tiêu của mỗi cấp, xác định hệ số tính điểm (trọng số) cho
các tiêu chí đã lựa chọn.
- Xác định các tiêu chí đánh giá
Có rất nhiều tiêu chí để đánh giá tài nguyên cho phát triển du lịch nói chung và du lịch
biển nói riêng như độ hấp dẫn, tính độc đáo, sức chứa khách du lịch, thời gian khai thác, hiệu
quả khai thác, độ bền vững, độ liên kết, độ an toàn,... Với phạm vi nghiên cứu của đề tài
12
nhóm chúng tôi đã chọn các tiêu chí đánh giá: Độ hấp dẫn, thời gian khai thác, tính liên kết và
KNTC, sức chứa khách du lịch.
Với đề này việc xác định các tiêu chí nhóm tác giả đã dựa trên cơ sở tham vấn một số tài
liệu tổng quan về du lịch kết hợp cùng quá trình nghiên cứu, khảo sát ngoài thực địa tại một
số điểm để chọn lọc và xác định các tiêu chí phù hợp với địa điểm nghiên cứu của dải ven
biển. Trên cơ sở đó đề tài đã xác định các cấp độ, chỉ tiêu và điểm phù hợp cho từng cấp để
phục vụ. Cụ thể cho từng tiêu chí như sau:
+ Độ hấp dẫn: Là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá TNDL vì nó quyết định sức thu
hút, hấp dẫn khách du lịch. Độ hấp dẫn có tính chất tổng hợp rất cao và thường được xác
định bằng vẻ đẹp của phong cảnh, sự thích hợp của khí hậu, nét đặc sắc và độc đáo của
TNDL tự nhiên và nhân văn. Độ hấp dẫn được thể hiện ở số lượng và chất lượng của các tài
nguyên, ở khả năng đáp ứng được nhiều LHDL.
Trong trường hợp đối với du lịch biển, độ hấp dẫn của TNDL được xác định bằng các
giá trị cảnh quan, di tích tự nhiên, đa dạng sinh học, nét đặc sắc của địa hình ven biển. Độ
hấp dẫn được chia thành 4 cấp:
Thời gian hoạt động của điểm du lịch biển thường được xác định bởi khoảng thời gian
thích hợp về các điều kiện khí hậu và thời tiết đối với sức khỏe và đảm bảo an toàn cho
khách du lịch cũng như thời gian thuận lợi để đưa khách đi du lịch theo chương trình du lịch
biển.
Để tiện lợi trong việc xem xét chỉ tiêu này trong tổng thể các chỉ tiêu liên quan đến
phát triển các điểm, tuyến du lịch biển, việc đánh giá thời gian hoạt động của các điểm du
lịch biển cũng có thể chia làm 4 cấp:
13
•
Rất dài: Có trên 150 – 200 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và có
từ 120 - 180 ngày có điều kiện khí hậu thích hợp với sức khỏe con người.
•
Khá dài: Có từ 100 - 150 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và có từ
90 - 120 ngày có điều kiện khí hậu thích hợp với sức khỏe con người.
•
Trung bình: Có từ 100 - 50 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và có
dưới 90 ngày có điều kiện khí hậu thích hợp với sức khỏe con người.
•
Ngắn: Có dưới 50 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và có dưới 40
ngày có điều kiện khí hậu thích hợp với sức khỏe con người.
Sức chứa – khả năng tải (carrying-capacity) là một yếu tố cơ bản của một lãnh thổ du
lịch, là khái niệm quan trọng hàng đầu trong quản lí du lịch. “ Sức chứa du lịch là mức độ sử
dụng của khách tham quan mà một khu vực có thể cung cấp, đáp ứng ở mức độ cao cho du
khách và để lại rất ít tác động vào nguồn tài nguyên”. Khái niệm “sức chứa” bao gồm 4 khía
cạnh: vật lí, sinh học, tâm lí và xã hội. Ngoài ra còn bao hàm cả mức độ quản lí du lịch.
Có thể hiểu sức chứa du lịch là số lượng người cực đại mà điểm du lịch có thể chấp
nhận, không gây suy thoái hệ sinh thái tự nhiên, không gây xung đột xã hội giữa cộng đồng
bản địa và du khách và không gây suy thoái nền kinh tế truyền thống của địa phương.
Sức chứa du lịch đối với một khu vực đánh giá là tổng sức chứa của từng điểm du lịch.
Nó phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động của du khách (thường xuyên thay đổi theo mùa vụ) và
có quan hệ chặt chẽ với số dân bản địa. Đánh giá sức chứa du lịch không thể theo xu thế
càng nhiều du khách càng tốt mà là càng phù hợp với các điều kiện của địa phương càng tốt.
Sức chứa du khách nói lên tiềm năng và qui mô đón nhận du khách với những điều kiện phù
hợp nhất… Sức chứa du khách phản ánh khả năng và qui mô triển khai hoạt động du lịch tại
14
mỗi điểm du lịch và được xác định bằng các chỉ tiêu đã được xác lập qua khảo sát thiết kế,
thực nghiệm và kinh nghiệm thực tế…
•
Rất lớn: Có sức chứa 800 - 1000 người/ngày
•
Khá lớn: Có sức chứa 500 - 800 người/ngày
•
Cấp đánh giá
15
(Wj)
K1
K2
K3
K4
Tiêu chí 1 (độ hấp dẫn)
R1
K1 R1
K2 R1
K3 R1
K 4 R1
Tiêu chí 2 (thời gian khai thác)
R2
K2 R4
X2
K3 R4
X3
K 4 R4
X4
Phân cấp đánh giá
Rất thuận
lợi
Khá thuận
lợi
Trung
bình
Không
thuận lợi
K1: Rất thuận lợi
điểm số = 4
K3: Trung bình:
điểm số = 2
Khá thuận lợi
20 - 26
61 - 80
Trung bình
13 - 20
41 - 60
Không thuân lợi
8 - 13
25 - 40
2
1
1
Cơ sở thực tiễn
Khái quát điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lí
Bình Định - Phú Yên - Khánh Hòa, ba tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. Phía
bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, điểm cực bắc: 14º42’10’’ vĩ độ bắc. Phía nam giáp tỉnh Ninh
Thuận, điểm cực nam: 11º42’50’’ vĩ độ bắc. Phía tây giáp ba tỉnh: Lâm Đồng, Đắc Lắc, Gia
134
189
385
708
Tiêu chí
Địa chất, địa hình
Theo tài liệu nghiên cứu lãnh thổ ba tỉnh Bình Định - Phú Yên - Khánh Hòa nằm trên
đới cấu tạo Kom Tum, với số liệu phân tích cho thấy nguồn gốc đá gồm hai loại chính sau:
Đá trầm tích thuộc dạng sa thạch, phiến thạch. Đất hình thành trên đá trầm tích thuộc dạng
sa thạch, phiến thạch có kết cấu rời rạc giữ nước kém.
Khối macma điển hình là đá granit, thành phần chủ yếu là thạch anh, ngoài ra còn có mica.
Đất hình thành trên đá granit thường có thành phần cơ giới nhẹ. Ngoài ra còn có đá ryolit,
đaxit có nguồn gốc mac ma phun trào. Do quá trình phong hóa vật lí, hóa học diễn ra trên
nền đá granit, ryolit đã tạo thành những hình dáng độc đáo, rất đa dạng, phong phú, góp
phần làm cho thiên nhiên Bình Định - Phú Yên - Khánh Hòa có nhiều cảnh đẹp nổi tiếng.
Dọc theo dải ven biển có các vũng, vịnh đầm phá ven biển rất điển hình, cụ thể:
Vũng vịnh ven biển có vịnh Quy Nhơn, vịnh Làng Mai (Bình Định); vịnh Xuân Đài (Phú
Yên); vịnh Vân Phong, vịnh Nha Trang (Khánh Hòa). Các vũng vịnh vơi sđặc trung hình
thái, quá trình hình thánh khác nhau.
Về đầm phá ven biển ở Bình Định – Phú Yên – Khánh Hoà được xác gồm hệ thống 6 đầm
phá ven biển tiêu biểu: Đầm Trà Ổ, đầm Nước Ngọt, đầm Thị Nại (Bình Định), đầm Cù
Mông, đầm Ô Loan (Phú Yên), đầm Thuỷ Triều (Khánh Hoà).. Nhìn chung, hệ thống đầm
phá ven biển của địa phương nghiên cứu được hình thành trong vùng biển có sóng mạnh,
thuỷ triều thường không lớn và giàu bồi tích cát, nối với biển qua một cửa, tùy thuộc vào
17
Kiểu bờ biển tích tụ - mài mòn bằng phẳng: Kiểu bờ biển này ở nước ta kéo dài từ
mũi Ròn tới Quy Nhơn dài 750km. Địa bàn nghiên cứu chỉ có bộ phận dải ven biển từ Quy
Nhơn đến Tam Quan (Bình Định) nằm trong vùng có kiểu bờ biển này, với hệ thống sông có
lưu lượng nước lớn do mưa nhiều như: Sông Lại, sông Nước Lương, sông An Lão, sông Bến
Lội… nên tổng lượng dòng chảy rắn tương đối khá. Quá trình tích tụ - mài mòn, mà ưu thế
là quá trình tích tụ xảy ra với tốc độ nhanh làm đường bờ mau chóng trở nên bằng phẳng..
3
Khí hậu
Bình Định - Phú Yên - Khánh Hòa vừa chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa
vừa mang tính chất của khí hậu đại dương nên tương đối ôn hòa. Nhiệt độ trung bình năm
trên 25ºC, tổng nhiệt hoạt động trên 9.500ºC, ánh sáng dồi dào, do có những vùng núi cao
trên 1.000m nên có đặc trưng của khí hậu nhiệt đới vùng núi cao, ôn hòa và mát mẻ quanh
năm. Lượng mưa trên dưới 2.000mm/năm, chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến
tháng 12 tập trung 70 – 80% lượng mưa cả năm, còn mùa khô là các tháng còn lại trong
năm. Ngoài ra, vào một số năm vào tháng 5 – 6, do hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới theo
chiều kinh tuyến nên đã gây ra mưa Tiểu Mãn trong địa bàn.
4
Thủy, hải văn
Chịu sự chi phối của đặc điểm địa hình và khí hậu như trên, mạng lưới sông ngòi trên
địa bàn ba tỉnh khá dày đặc với nhiều hệ thống sông. Các sông chính trên địa bàn 3 tỉnh như
sông Lại Giang, sông Kôn, sông Hà Thanh, sông Đà Rằng, sông Bàn Thạch, sông Kỳ Lộ,
sông Dinh, sông Cái… Những con sông này đóng vai trò quan trọng đối với sản xuất và đời
sống của nhân dân ba tỉnh. Sông ngòi với hình thái ngắn, dốc nên sau khi mưa khoảng một
đến hai ngày thì nước sông lên rất nhanh và đây là mùa lũ chính của sông. Bên cạnh mùa lũ
Bình Định phân bố dọc theo đầm Thì Nại, đầm Đề Gi, vùng cửa sông giáp biển… Đặc biệt ở
đầm Thì Nại có rừng ngập mặn Cồn Chim có hệ động thực vật phong phú và giàu tiềm
năng. Hệ sinh thái rừng ngập mặn của Khánh Hòa chủ yếu tập trung ở đầm Thủy Triều, Cam
Ranh, đầm Nha Phu… Phổ biến ở rừng ngập mặn là các loài Đước đôi (Rhizophora
apiculata), Bần trắng (Sonneratia alba), Vẹt dù (Bruguiera gymnorhiza), Xu ổi (Xylocarpus
granatum), Cóc đỏ (Lumnitzera littorea), Mắm (Avicennia)…. Động vật trong rừng ngập mặn
cũng rất phong phú với các loài động vật thủy sinh và có cả các loài động vật như trăn,
rắn… Các loài côn trùng, sâu bọ, các loài chim như công trĩ, sáo, họa mi, khướu… Ngoài ra
dọc dải ven biển có các rừng phi lao tạo ra những cảnh quan ven biển đẹp và hấp dẫn. Tại
Bình Định còn có rừng văn hóa cảnh quan Ghềnh Ráng được ví như ‘lá phổi xanh” của thành
phố Quy Nhơn gắn với khu du lịch Ghềnh Ráng, là một điểm du lịch khá nổi tiếng ở đây.
2
1
Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội
Đặc điểm dân cư và nguồn lao động
Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009, ba tỉnh Bình Định – Phú Yên – Khánh
Hòa có dân cư khá đông, là địa phương có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, dân cư phân bố
không đồng đều chủ yếu tập trung ở dải đồng bằng thuộc các huyện ven biển của tỉnh.
Bảng 5 : Đặc điểm dân cư của địa bàn nghiên cứu
Tỉnh
Số dân
toàn tỉnh
(nghìn
người)
Huyện, thành phố ven biển
Khánh
Hòa
1156,9
Vạn Ninh, Ninh Hòa, Nha Trang,
Cam Ranh
976,3
82,8
(Nguồn: Tổng cục thống kê 2010)
Nhìn chung, các huyện ven biển với số dân trập trung khá cao, chiếm tỉ lệ cao so với
dân số toàn tỉnh, nguồn lao động dồi dào, lao động tham gia hoạt động kinh tế trên 15 tuổi
chiếm trên 55%. Ngoài ra, số lao động hoạt động trong ngành du lịch ngày càng tăng, đặc
biệt là Khánh Hòa.
Tình hình phát triển kinh tế
Với ưu thế về vị trí địa lí, các nguồn tài nguyên, đặc biệt là nguồn nhân lực dồi dào đã
tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nền kinh tế của địa phương. Trong những năm gần đây,
nền kinh tế của Bình Định – Phú Yên – Khánh Hòa có nhiều chuyển biến sâu sắc, cơ cấu
kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa chung của cả nước. Cụ thể:
Bảng 6: Cơ cấu kinh tế Bình Định – Phú Yên – Khánh Hòa năm 2010
2
19
Cơ cấu kinh tế phân theo khu vực (%)
Tỉnh
Tổng
Bình Định
Phú Yên
Khánh Hòa
5 sao
0
1
Tiêu chuẩn
3 – 4 sao
5
3
Dưới 3 sao
64
*
Tổng số phòng
110
2647
100
2500
409 (có 200
2
8
Bên cạnh các lễ hội, phong tục tập quán truyền thống của cư dân vùng biển thì ở đây
còn có một số di tích văn hóa có giá trị như: Thành Đồ Bàn, các ngôi tháp Chăm, đền thờ
các vị anh hùng, nhà thờ, chùa chiền, Vũng Rô với di tích lịch sử đường Hồ Chí Minh trên
biển…
Như vậy, với nền văn hóa đặc sắc, đậm đà và mang nhiều vẻ đẹp riêng cùng với người
dân ven biển giàu lòng nhân hậu, mến khách đã tạo nên ấn tượng mạnh cho du khách thập
phương mỗi khi đến đây.
21
CHƯƠNG 2
ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ ĐỊA CHẤT – ĐỊA MẠO DẢI VEN BIỂN BÌNH ĐỊNH –
PHÚ YÊN – KHÁNH HÒA PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN
2.1.
Các di tích địa chất
Dải ven biển Bình Định – Phú Yên – Khánh Hòa có nhiều di tích địa chất có giá trị
địa chất - địa mạo. Trong phạm vi giới hạn của đề tài đã nghiên cứu những điểm địa chất
tiêu biểu như Ghềnh Ráng (Bình Định), Gành Đá Đĩa (Phú Yên), đỉnh núi Đá Bia (Phú
Yên), Hòn Chồng (Khánh Hòa) và điểm địa chất Gành Đá Đĩa được chọn là điểm đánh giá.
2.1.1. Đánh giá giá trị địa chất - địa mạo di tích Gành Đá Đĩa (Phú Yên)
Ở dọc ven biển miền Trung có rất nhiều gành đá, song có lẽ độc đáo bậc nhất phải kể
đến Gành Đá Đĩa ở Phú Yên. Đây thực sự là một thắng cảnh “ độc nhất vô nhị” ở Việt Nam
mà tạo hóa ban tặng cho mảnh đất này. Điểm du lịch thuộc thôn 6, xã An Ninh Đông, huyện
Tuy An, tỉnh Phú Yên, cách thành phố Tuy Hòa chừng 40km, có tọa độ Địa lí: 13 021’14’’B;
109017’38’’Đ.
Xét về độ hấp dẫn, Gành Đá Đĩa đạt được 5 yếu tố tự nhiên độc đáo:
Mặt đá 4 cạnh: Chiều dài các cạnh là 41 – 36 – 37- 31cm, chiều dài đường chéo từ 45 –
53cm.
Mặt đá 5 cạnh: Lần lượt là 28 – 13 – 16 – 30 – 36cm, chiều dài đường chéo từ 43 – 35 –
24cm.
22
-
Mặt đá 6 cạnh: Lần lượt là 38 – 35 – 26 – 29 – 37 – 15cm, chiều dài đường chéo từ 72 – 64
– 40cm.
Gành Đá Đĩađược hình thành trong nhiều giai đoạn với nhiều lần phun trào khác
nhau: Qua nghiên cứu các nhà địa chất giải chất giải thích rằng đá ở đây chủ yếu là đá
bazan, được hình thành do hoạt động của núi lửa thuộc vùng cao nguyên Vân Hòa (Sơn
Hòa) – cách vị trí Gành Đá Đĩa hiện nay khoảng 30km theo đường chim bay. Núi lửa này
hoạt động khoảng gần 200 triệu năm trước. Trong quá trình núi lửa hoạt động cách ngày nay
từ 15 đến 20 triệu năm (thời kì địa chất Pliocen) [23,tr 180]. Khi núi lửa phun trào, dung
nham được đưa ra từ miệng núi lửa vì bên phía đông là biển bao quanh nên dung nham bị
đông cứng nhanh chóng. Điều này chỉ xảy ra ở vùng biển nông, kiểu phun trào nông, tốc độ
nhanh và trên diện tích nhỏ. Nếu ở vùng biển sâu, phun trào sâu, diện tích lớn thì vật liệu sẽ
được nguội lạnh từ từ. Quá trình phân dị vật chất diễn ra không đều nên tạo thành những vết
nứt với các phương khác nhau theo kiểu tỏa tia, phân tách thành các cột đá riêng biệt từ dưới
lên trên. ỞGành Đá Đĩa phần lớn đá nứt theo mạch dọc tạo thành những cột đá đứng hoặc
xiên chéo. Nhưng cũng có một số cột đá bị đường xiên cắt ngang tạo thành những hình tròn,
hình đa giác xếp chồng khít nhau như những chồng đĩa.
Tại Gành Đá Đĩa có một điểm, mà điểm này thể hiện được nét độc đáo và đặc sắc
trong quá trình thành tạo với nhiều lần phun trào măcma, đã tạo nên những khối đá với thế
nằm khác nhau. Cụ thể, khối đá trên cùng có thế nằm ngang, khối đá này được hình thành
trước các khối đá bên dưới và đợt phun trào hình thành khối đá bên dưới với lực đẩy lên khá
lớn của dòng dung nham đã làm dịch chuyển khối đá theo phương ngang vì vậy, có thế nằm
rồi lại phơi khô, dẫn tới bề mặt đá bị mài mòn, có các váng muối trắng càng tạo điều kiện
cho quá trình phá hủy. Mặt khác khi thủy triều rút, đã tạo thành các dòng chảy trên mặt. Các
dòng chảy này phá hủy đá bằng quá trình xâm thực sâu của dòng nước mặt vào các khe nứt
của đá và làm mòn các cột đá. Chính quá trình hình thành và bào mòn của tự nhiên đã tạo
nên vẻ đẹp độc đáo của Gành Đá Đĩa mà hiếm nơi nào có được (hình 5, 6).
Gành Đá Đĩa không chỉ chứa đựng những giá trị địa chất, mà nó còn hội tụ
những giá trị cảnh quan thiên nhiên.
Xung quanh khu vực Gành Đá Đĩa là vùng đồi bazan. Bên cạnh gành đá là khu vực bãi
Bàng với những tảng đá màu vàng óng ả nằm dưới những tàn cây bàng rợp mát. Nơi đây còn
rất hoang sơ và mang một vẻ đẹp lạ kỳ của thiên nhiên. Phía bên làng chài là những hàng
dừa xanh cao vút. Phía nam gành đá lại có một bãi cát dài khoảng 3km. Cát ở đây trắng mịn,
sạch và nước biển luôn trong xanh là điều kiện tốt để hình thành một khu nghỉ dưỡng biển.
Phía bắc có bãi đá nham thạch trải dài trên 500m…Xung quanh khu vực Gành Đá Đĩa là
vùng đồi badan. Ở đây có các vùng đồi thoải, đỉnh tròn mềm mại, độ chia cắt yếu do trong
lịch sử khu vực này trước đây có núi lửa hoạt động mạnh phun trào badan phủ lên những
vùng thấp, còn những khu vực cao vẫn lộ đá granit.
Phong cảnh ở đây còn nguyên vẹn vẻ đẹp hoang sơ và môi trường thuần khiết.Gành
Đá Đĩa được xem là một hiện tượng địa chất hết sức độc đáo ở nước ta. Hình như thiên
nhiên đã cố tình tạo cho bức tranh Gành Đá Đĩa nhiều màu sắc tạo ấn tượng khó quên cho
du khách khi đến tham quan.
Xung quanh gành đá có rất nhiều xương rồng. Mùa xương rồng nở hoa rất đẹp. Những
nụ hoa đo đỏ nhú lên giữa những bụi xương rồng chi chít tạo thành vẻ đẹp dịu dàng mà
mạnh mẽ của những vách đá, khi hoa tàn, kết lại thành trái có màu đỏ. Phong cảnh ở đây
còn nguyên vẹn vẻ đẹp hoang sơ. Cũng chính vì những vẻ đẹp của cảnh quan cộng với
những giá trị địa chất, địa mạo của Gành Đá Đĩa mà Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là
di tích thắng cảnh cấp quốc gia ngày 23/01/1997. Hiện nay gành đang nằm trong dự án xây
dựng thành công viên địa chất của cả nước (dự án còn có bazan dạng cột Ba Làng An
(Quảng Ngãi), bazan dạng cột thác Trinh Nữ (Đắk Nông).
Ngoài vẻ đẹp tự nhiên, lễ hội dân gian ở đây cũng rất phong phú đó cũng là những sản
phẩm du lịch độc đáo. Hàng năm, tỉnh có hàng chục lễ hội dân gian như: Đánh bài chòi, cầu
hứng cho thi ca, nghệ thuật. Đây là điểm dừng chân của các nhà nhiếp ảnh, họa sĩ… muốn
phác họa những bức tranh thiên nhiên kì vĩ. Đến Gành Đá Đĩa nghe tiếng gọi của đá, của
sóng và gió biển mang đến một cảm giác mới lạ mà ít nơi nào có được. Chính vì thế mà đây
là niềm tự hào của những con người quê hương Phú Yên.
Hình 3: Bề mặt những khối đá lục lăng, tứ trụ giữa những khối đá lõm xuống giống
những chiếc đĩa, thế nằm thay đổi từ thẳng đến xiên chéo và ngang.
25
Hình 4: Thế nằm đặc biệt của các khối đá
Hình 5: Cấu tạo lỗ hổng của đá
Hình 6: Tác động của sóng biển đến các
khối đá bazan
Hình 7: Khối đá granit bị sóng mài mòn
tạo thành các khe nứt trong Gành Đá Đĩa
Ảnh: Nhóm tác giả khảo sát
Hình 8 : Khảo sát tại Gành Đá Đĩa