BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
----------♦----------
TRẦN CÔNG CHÍN
PHƯƠNG PHÁP TOÁN VÀ KINH LƯNG HỌC
TRONG VIỆC PHÂN TÍCH VÀ TỐI ƯU HOÁ VẤN ĐỀ
SỬ DỤNG CÁC LOẠI PHÂN BÓN CHO
CÂY LÚA TẠI VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP.HCM - 2000
MỤC LỤC
TRANG
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I : VAI TRÒ CÂY LÚA TRONG SẢN XUẤT NÔNG
NGHIỆP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CHẤT DINH DƯỢNG
ĐỐI VỚI NÓ
1.1 Những thành tựu về sản xuất lúa ở Việt Nam ..................................................08
1.2 Sản xuất lương thực của đồng bằng sông Cửu Long so với cả nước .................12
1.3 Thành công trong sản xuất lúa ở vùng ĐTM.....................................................14
1.4 Yếu tố cơ bản trong sản xuất lúa vùng ĐTM ....................................................16
1.4.1 Độ phì của đất ............................................................................................16
1.4.2 Các yếu tố quyết đònh độ phì của đất.........................................................17
1.5 Nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa........................................................................18
1.5.1 Năng suất thóc và các yếu tố tạo thành năng suất.....................................22
2.3.2 Các giống lúa thường được sử dụng tại vùng Đồng Tháp Mười ......58
2.3.3 Liều lượng phân N,P,K sử dụng trên các loại đất vùng ĐTM..........59
2.3.4 nh hưởng của phân vi lượng và N,P,K đến năng suất thóc ............65
2.4 So sánh lượng phân bón nông dân sử dụng (KTI) với lượng phân khuyến
cáo (KT2) .....................................................................................................71
2.4.1 Nhận xét về mặt kỹ thuật sản xuất ............................................................71
2.4.2 Nhận xét về mặt kinh tế .............................................................................73
2.4.3 Ưu khuyết điểm của phương pháp tính trước đây ......................................74
2.5 Mức độ dùng phương pháp toán kinh tế trong tính toán trước đây ....................76
CHƯƠNG 3 : DÙNG PHƯƠNG PHÁP TOÁN ĐỂ PHÂN TÍCH
ƯỚC LƯNG NHU CẦU PHÂN BÓN TRONG SẢN XUẤT
3.1 Vài nét về phương pháp toán học được sử dụng................................................79
3.3.1 Phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) ................................................81
3.1.2 Kiểm tra độ tương thích của hàm hồi quy và khoảng tin cậy của các
hệ số hồi quy .....................................................................................83
3.1.3 Phương pháp dự báo ...................................................................................86
3.1.4 Tìm cực trò của hàm hồi quy.......................................................................88
3.1.5 Những yêu cầu khi dùng phương pháp toán kinh tế ...................................89
3.1.6 Các giả thiết trong phân tích ......................................................................90
3.2 Xác đònh dạng của quy luật năng suất thóc tại vùng ĐTM ...............................91
3.2.1 Các thuộc tính của một quy luật tốt ...........................................................91
3.2.2 Đònh nghóa quy luật năng suất thóc ............................................................92
3.2.3 Dạng của quy luật năng suất ......................................................................93
3.2.4 Quy luật (3.10) phù hợp với các quy luật sản xuất như thế nào?...............98
3.3 Kiểm chứng các quy luật (3.10) và (3.11) bằng các số liệu thực nghiệm 101
3.3.1 Ước lượng quy luật năng (3.10) theo N .................................................... 102
3.3.2 Ước lượng quy luật năng suất bậc 2 (3.11) với 2 biến đầu vào................111
triển kinh tế trong những thập niên qua và những thập niên sắp tới, không những
riêng cho Việt Nam, mà cho toàn thế giới, các chính phủ đang cố gắng đối phó
với các vấn đề lương thực của họ.
Nói đến lương thực, phải nói đến cây lúa. Từ năm 1993 đến năm 1995 Việt
Nam đã sản xuất từ 22.837.000 tấn thóc (1993) lên 24.964.000 tấn (1995), chiếm
khoảng 19% tổng sản lượng các nước Asean, còn Châu Á đã sản xuất chiếm
91% tổng sản lượng thế giới [57]. Như vậy sản xuất lúa gạo tập trung ở các nước
Châu Á
Việt Nam với điều kiện khí hậu nhiệt đới, có thể nói là cái nôi hình thành
cây lúa nước. Đã từ lâu cây lúa là cây lương thực chủ yếu, đóng một vai trò rất
quan trọng trong nền kinh tế nước ta.
Từ trước năm 1945, diện tích trồng lúa ở hai đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ
(đồng bằng Sông Cửu Long) vào khoảng 1,8 triệu hecta ở Bắc Bộ, và 2,7 triệu
hecta ở Nam Bộ, với năng suất còn thấp khoảng 13 tạ/ha.
Nhưng từ năm 1970 đến 1994, tình hình sản xuất lúa gạo ngày càng khả
quan, 13 triệu tấn năm 1995 [4]. Từ chỗ hằng năm ta phải nhập khoảng 0,8 triệu
tấn lương thực quy gạo, đến chổ đã tự túc lương thực và đã giành được một phần
để xuất khẩu. Cụ thể năm 1994 đã xuất được 1.950.000 tấn thóc
Năng suất và sản lượng lúa đã tăng do nhiều nguyên nhân, trong đó trước
tiên là những thay đổi về cơ chế, chính sách như :
• Chỉ thò số 100-CT/TW ngày 13 – 01 – 1981 của Ban Bí Thư Trung Ương
Đảng về công tác khoán mở rộng.
• Nghò quyết số 10 – NQ/TW ngày 05 – 04 – 1988 về “Đổi mới quản lý nông
nghiệp”, cho đến :
• Quy đònh ngày 27 – 09 – 1993 của Chính Phủ của nước Cộng Hòa Xã Hội
Chủ Nghóa Việt Nam, quy đònh về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình,
cá nhân sử dụng ổn đònh lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp.
• Và gần đây nghò quyết số 6 – NQ/TW ngày 10 – 11 – 98 của Bộ Chính Trò
vững.
2. ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU :
Năng suất cây lúa lệ thuộc nhiều vấn đề : có thể là giống, nhiệt độ, phân bón,
kỹ thuật, biện pháp canh tác …… và cuối cùng là đất. Nếu đất màu mỡ, độ phì
nhiêu cao, trong quá trình sản xuất ít tốn chi phí nhất là phân bón, nhưng lại
đạt được năng suất cao, nhưng cũng có vùng thì ngược lại. Do đó vấn đề tăng
năng suất cho cây lúa là vấn đề rộng lớn và khó khăn, đặc biệt vùng Đồng
Tháp Mười là vùng mới khai hoang, chất độc trong đất còn rất nhiều. Ngoài
ra nghiên cứu hiệu quả kinh tế của cây lúa phải căn cứ vào các thí nghiệm
chính quy, các thí nghiệm thực nghiệm và điều tra trong nông dân trong
vùng để so sánh.
Do đó luận án chỉ đề cập đến một phần, là làm thế nào để năng suất cây
lúa tăng cao nhất, qua việc bón phân, đồng thời chi phí cho sản xuất giảm bớt,
như giảm lượng phân bón nhưng tăng độ phì nhiêu cho đất, giúp cây khoẻ ít sâu
bệnh, các chi phí bất thường giảm tối đa.
Để thực hiện mục đích trên luận án có nhiệm vụ :
1) Dùng phương pháp toán kinh tế để phân tích ước lượng nhu cầu tối đa về
phân bón của cây lúa trên 1 đơn vò diện tích.
2) Thu thập các số liệu từ kỹ thuật nông nghiệp tại vùng Đồng Tháp Mười và
điều tra trong nông dân qua các năm 1994 - 1995, 1996, 1998 - 1999. Thống
kê đánh giá số liệu.
3) Xác đònh quy luật năng suất thóc tại vùng Đồng Tháp Mười, điều tiết và
kiểm đònh quy luật qua các số liệu thực tế, thu thập được của ngành nông
nghiệp đã thực nghiệm tại đòa phương.
4) Phân tích các hệ số của quy luật năng suất đã tìm được, đồng thời xác đònh sự
tăng giảm của chúng có phù hợp với các đònh luật trong nông nghiệp hay
không.
5) So sánh các kết quả giữa lối ước lượng mò mẫm của nông dân (KT1) với lối
e) So sánh và đối chiếu.
5. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN :
Hoàn thành luận án này có các nét mới sau đây :
a. Thông qua các đặc điểm của ngành nông nghiệp (được thể hiện qua các đònh
luật và các số liệu thực nghiệm), đã xây dựng được quy luật năng suất thóc
tại vùng Đồng Tháp Mười theo các yếu tố phân bón (N, P2O5, K2O)
1.
3
Y = b0 + b1N + b11N2 + b12NP + b2P + b22P2
(b0, b1, b2 > 0 ; b11, b22 < 0 , b12 ∈ R)
với Y,N,P tính kg/ha
Sở dó chọn hai dạng trên làm quy luật năng suất vì nó thoả được các tính
chất : đơn giản, tính đồng nhất, tính thích hợp với ngành sản xuất vững về mặt lý
thuyết và khả năng dự đoán [5]
b. Nhờ các quy luật đó, luận án đã giới thiệu :
• Cách tính lượng phân tối đa NM và lượng phân tối hảo Nt để khuyến cáo
trong sản xuất
• Chỉ rõ lượng phân cần khống chế nhờ vào sự tương tác của các biến đầu vào
ở quy luật (2) để làm tăng năng suất và giảm chi phí
• Căn cứ vào các hệ số a0, a1 của quy luật (1) các nhà chuyên môn cần khuyến
cáo : với loại đất nào cần cải tạo độ phì, loại đất nào cần tăng giảm phân
Nitơ
c. Trong ứng dụng đã nêu được được tính ưu việt của KT3 là bón phân cân đối
không phải chỉ có phân đa lượng N, P, K mà phải bón thêm phân vi lượng để
NHỮNG THÀNH TỰU VỀ SẢN XUẤT LÚA Ở VIỆT NAM
Việt Nam là một nước nông nghiệp với diện tích tự nhiên 330.363 km2, cây
trồng của nông nghiệp chủ yếu là lúa nước.
Việt Nam có tất cả 2360 con sông, trong đó có 9 hệ thống sông lớn, với lưu
vực từ 10.000 km2 trở lên với tổng diện tích 250.800 km2 chiếm tỷ lệ 75,92%
diện tích cả nước [5].
Phù sa sông Hồng và sông Cửu Long đã bồi đắp nên hai đồng bằng đất đai
màu mỡ, đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)
là hai vựa lúa lớn của Việt Nam. Do đó, các dự án quy hoạch tổng thể ĐBSH
VIE, /89/034 – 677/TTg 23/08/97 và đònh hướng dài hạn kế hoạch 5 năm 1996 –
2000 đối với việc phát triển thủy lợi giao thông vận tải và xây dựng nông thôn
ĐBSCL, theo chỉ thò 99/TTg /2 / 1996; nhờ đó hai vùng đồng bằng đã mang lại
những kết quả rất khả quan, cùng với cả nước tạo nên nguồn lương thực từ thóc
ngày càng dồi dào với kết quả sản xuất như bảng 1
Từ năm 1975 đến các năm sau, hàng năm Việt Nam đã nhập khẩu gạo, đến
năm 1987 bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới trong sản xuất nông nghiệp. Sản
lượng thóc đến năm 1989 đạt 18.996.300 tấn, bình quân đầu người 293kg thóc,
đã tự cấp lương thực và còn có một số gạo để xuất khẩu (1.420.200 tấn) đến
năm 1997 sản lượng đạt 27.645.800 tấn, bình quân đầu người 360kg thóc và đã
xuất khẩu được 3.552.840 tấn gạo.
Bảng 1.1: Kết quả sản xuất lúa từ 1987 – 1997 của cả nước.
Năm
DT
NS
15102,6
17562,8
62452
281
20,5
1988
5726,4
2,97
17000
19583,1
63727
307
91,2
1989
5895,8
6302,7
3,11
19261,9
21989,5
67774
324
1032
1992
6475,4
3,33
21590,3
24214,5
69405,2
348
1946
1983
1995
6765,6
3,69
24528,2
26507,9
73962,4
372
1988
1996
7003,3
3,77
26396,7
29217,9
75498
3,54
67,45
Tốc độ
tăng BQ
năm(%)
Nguồn : NN.Việt Nam – Những thành tựu [5] trang 100-102
Ghi chú :
DS(*) : Tư liệu kinh tế các nước thành viên ASEAN [57]
XK(*) : xuất khẩu (không kể xuất tiểu ngạch)
LT : Lương thực
DT : diện tích
SLLTQT : sản lượng lương thực quy thóc
BQ : bình quân
NS : năng suất
DS : dân số
Trong lương thực sản xuất lúa tăng nhanh và ổn đònh. Trong vòng 11 năm
từ 1987 đến 1997 các chỉ tiêu tăng :
• Tổng sản lượng lương thực quy thóc bình quân hàng năm tăng 5,7%
theo bảng 1.2 :
Bảng 1.2 : Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước GDP của nền kinh tế quốc dân (giá
thực tế)
Các khu vực (KV)
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
-
KV I (%)
38,7
40,5
33,9
-
KV III (%)
38,6
35,7
38,8
41,2
41,6
42,6
42,1
42,6
Tổng số
100
100
100
100
dòch cơ cấu kinh tế nông thôn từ nông nghiệp sang ngành nghề và dòch vụ phi
nông nghiệp nhanh nhất.
Sản xuất lương thực luôn luôn là mặt trận hàng đầu đối với quá trình phát
triển kinh tế xã hội ở nước ta cũng như toàn thế giới
Theo dự đoán của viện lúa quốc tế (IRRI) trong khoảng 30 năm tới phải
tăng thêm 70% sản lượng lương thực so với hiện nay, mới đáp ứng được nhu cầu
dân số tăng nhanh trong thế kỷ 21.
Đối với Việt nam trong vòng 20 năm nữa nếu dân số tăng trung bình 2%
năm, thì số lượng dân năm 2020 sẽ là 73.962.000 x 1,5 = 110.943.000 người
(1995 làm gốc). Diện tích canh tác lúa tăng bình quân hàng năm 1% lúc đó diện
tích trồng lúa sẽ là : 6.765.600 ha x 1,25 = 8.457.000 ha và số thóc bình quân
đầu người 400kg, thì năng suất bình quân hàng năm phải là 5,25 tấn/ha.
Như vậy nhiệm vụ "tăng năng suất cây trồng trên mỗi đơn vò diện tích là
nhiệm vụ chiến lược của các nhà sản xuất nông nghiệp.
1.2 SẢN XUẤT LƯƠNG THỰC CỦA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG SO
VỚI CẢ NƯỚC
Đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL) là vùng trọng điểm về sản xuất lương thực
của cả nước, đã có nhiều chủ trương, chính sách đầu tư cho vùng này như
thủy lợi, xây dựng nông thôn mới, chuyển dân các vùng đông vào vùng
thưa như 3 vùng trọng điểm ít dân là : vùng bán đảo Cà Mau, vùng tứ
giác Long Xuyên và vùng Đồng Tháp Mười. Ngoài ra các tiến bộ kỹ
thuật về sản xuất nông nghiệp cũng được đầu tư nhiều cho vùng này.
ĐBSCL có diện tích tự nhiên 3,55 triệu ha trong đó đất nông nghiệp chiếm
2,6 triệu ha, so với cả nước ĐBSCL có diện tích chiếm 11,97%. ĐBSCL có 3
nhóm đất chính :
-
Đất phù sa: 1.180.000 ha chiếm 33,24% diện tích, phân bố ở vùng ven và
DT cả
DT
DTHT Dt mùa
năm
ĐX
1000ha 1000ha Tấn/ha 1000 Slượng Người
NS
1000ha 1000ha
SL
tấn
Cả nước
-
5297, 45,48%
434
1990
1478
1649
95,76
9480
53,6%
880
1994
1962
98,94
13818
1995
2020
101,6
14818
1996
3050 101,57
4,39
701,7
4,16
1985 2250,8
1990
2580
1997 3559,7
1260
1598
tấn
Kg
96,6
4665
1980 2276,2 424,5
1000
Từ năm 1980 trở về sau sản lượng thóc tăng lên đáng kể; sản lượng năm :
- 1985 / 1980 là 1,24% (lấy 1980 làm gốc)
- 1990 / 1980 là 1,79%
- 1997 / 1980 là 2,8%
Sở dó lượng lương thực tăng nhanh như vậy nhờ tăng năng suất bình quân
năm là 3,5% (từ 1980 – 1997) và diện tích tăng bình quân năm 2,7% cùng thời
kỳ. Như vậy trong 17 năm diện tích tăng lên khoảng 50%. Nhờ khai hoang các
vùng chưa canh tác, trong đó có vùng Đồng Tháp Mười thuộc đòa phận ba tỉnh
Đồng Tháp, Long An và Tiền Giang.
1.3 THÀNH CÔNG TRONG SẢN XUẤT LÚA Ở VÙNG ĐỒNG THÁP
MƯỜI
Vùng Đồng Tháp Mười có diện tích tự nhiên khoảng 629.000 ha chiếm
17,72% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, nằm trên 3 tỉnh : Tiền Giang
(96.000 ha), Long An (298.200 ha) và Đồng Tháp (235.000 ha) là một trong
những vùng đất phèn nặng, ngập sâu, diện tích đất hoang còn rất lớn.
Tuy nhiên với điều kiện thiên nhiên, về nhiệt độ, khí hậu do đó với những bước
cố gắng của con người đưa nước ngọt từ sông Tiền, sông Vàm cỏ vào nội
vùng , đã làm cho vùng Đồng Tháp Mười sống và lớn lên từng bước
trong hơn 20 năm từ 1976 (sau năm giải phóng toàn miền Nam) đến
1997 diện tích gieo trồng lúa đã tăng lên 348.591 ha trung bình
16.599ha/năm cho toàn vùng.
Với năng suất 1976 trung bình 2,03 tấn/ha đến 4,82 tấn/ha năm 1997 trung bình
mỗi năm tăng 4,4%
Sản lượng từ 468.916 tấn (1976) lên 2.788.196 tấn (1997) như vậy đã tăng
lên 2.319.280 tấn trung bình mỗi năm tăng 110.442 tấn/năm.
Kết quả được so sánh với sản xuất lúa vùng ĐBSCL theo bảng sau (bảng 4)
Như vậy với diện tích tự nhiên vùng Đồng Tháp Mười chỉ bằng 17,72%
diện tích toàn ĐBSCL, nhưng tham gia vào sản xuất lúa có diện tích bằng
(Tấn)
ĐBSCL %
1976
231.136
11,2
2,03
101
468.916
10,05
1980
236.265
10,29
1,99
86,5
471.302
1990
468.781
18,17
4,22
114,98
1.977.968
20,86
1993
514.983
-
3,92
-
2.020.250
-
1994
16,48
4,72
107,5
2.584.484
18,7
1997*
579.727
16,28
4,82
115,86
2.788.196
18,82
Nguồn : Trung tâm NCNN ĐTM. Báo cáo tổng kết tháng 11/1995. (*) số
liệu 1996,1997; cục thống kê tỉnh Long an, Tiền giang, Đồng tháp
(1997)
Vùng đất Đồng Tháp Mười thuộc tỉnh Long an có diện tích 298.200ha
chiếm 47,38% diện tích toàn vùng, gồm 3 loại đất : phèn, đất xám, đất bạc màu
để đánh giá độ phì của đất (thông thường gọi là hạng đất). Khi khoa học tiến bộ
có bộ môn khoa học đất chuyên phân tích các thành phần cơ giới, lý tính, hoá
tính của đất để sắp hạng đất.
Gần đây khi khoa học môi trường và sinh thái học ra đời thì khái niệm “sử
dụng đất đai bền vững” là những phát hiện quan trọng về độ phì nhiêu của đất.
Như vậy : “độ phì nhiêu của đất là khả năng của đất đảm bảo được điều
kiện thuận lợi cho cây trồng đạt năng suất cao, ổn đònh; những quần thể sinh vật
sống trên đất và trong đất phát triển hài hòa”
1.4.2
Các yếu tố quyết đònh độ phì nhiêu của đất :
Các yếu tố quyết đònh độ phì nhiêu của đất được tóm tắt qua các yếu tố sau:
a. Độ dày tầng đất lớn, đất tơi xốp có độ phì nhiêu nhất đònh cây trồng có thể
sống được.
b. Trong đất có đầy đủ và cân đối các nguyên tố dinh dưỡng (đa lượng, trung
lượng, vi lượng) cần thiết ở dạng tổng số cũng như dạng dễ tiêu của cây
trồng.
Đa lượng là đạm (N), Lân (P2O5), kali (K2O) và các nguyên tố trung lượng
Mg, S, Ca và vi lượng B, Mo, Mn, Fe, Cu…
Nếu ta tính lớp đất mặt là lớp chủ yếu cung cấp các chất dinh dưỡng cho
cây trồng với độ dày 20cm, thì khối lượng đất trồng trên 1 hecta có chứa
trung bình những số lượng dinh dưỡng (D) sau đây (nếu tỷ lệ của nó chưá
trong đất là d%). Ta có :
D(kg/ha) = 2 x 1,5 x 106 x d%
D
600 – 6.000
K2O
0,5 – 3
15.000 – 90.000
Nguồn : Giáo trình nông hoá [8] trang 24
c. Đất giàu mùn : chất hữu cơ là thành phần cơ bản của đất, chất hữu cơ không
chỉ là kho chứa chất dinh dưỡng cho cây trồng mà còn là tác nhân điều tiết
tính chất lý, hoá, sinh của đất
d. Đất có chế độ nước, không khí và nhiệt thích hợp với sự phát triển của cây
trồng
e. Đất tơi xốp thuận lợi cho sự phát triển của bộ rễ
f. Đất có pH thích hợp cho cây trồng và sinh vật đất , đất lúa có pH thích hợp là
5,5 – 6,5 [8]
g. Đất không bò phèn, mặn, không có chất độc và không bò ô nhiễm
1.5
NHU CẦU DINH DƯỢNG CỦA CÂY LÚA
Trong tự nhiên từ thực vật đến động vật mọi loài, muốn sống và phát triển
phải cần đến thức ăn.
Phần lớn cây trồng nói chung, nhất là cây lúa, cần nhiều các chất dinh
dưỡng N, P2O5, K2O, nên các nhà khoa học nông nghiệp gọi các chất này là đa
lượng.
Bảng 1.5 : Các nguyên tố dinh dưỡng giống IRS và Peta lấy đi trên 1 tấn thóc
Nguyên tố
Số lượng Kg
Hạt thóc (%)
Rơm rạ (%)
IRS
N
18,9
13,3 (70,3%)
5,6
(29,7%)
P
5,17
4,37 (84,5%)
0,8
116g (21%)
435g (79%)
Mn
152g
52g (34,2%)
100g (65,8%)
B
220g
25g (11,4%)
195g (88,6%)
Zn
40g
18g (45%)
22g (55%)
Cu
50,6
2,84 (5,6%)
47,76 (94,4%)
Mg
5,29
1,26 (23,8%)
4,03 (76,2%)
S
2,76
0,79 (28,6%)
1,97 (71,4%)
Fe
670g
116g (17,3%)
554g (82,7%)
3g
(37,2%)
(40%)
(60%)
Nguồn : [60] Yosida trang 181
Từ các số liệu bảng 1.5, nếu lấy tỷ lệ N là 1 thì hai giống lúa trên có tỷ lệ
N, P, K như bảng 1.6
Bảng 1.6 : Tỷ lệ các nguyên tố đa lượng và trung lượng
Giống
N
P
K
Mg
S
IRS
0,22
0,1
Nguồn : Bảng 1.5
Bảng 1.5 cũng cho chúng ta thấy rằng hai giống IRS và Peta hấp thu dinh
dưỡng khác nhau, giống IRS có năng suất cao hơn (8,7tấn/ha), giống Peta có
năng suất thấp hơn (6 tấn/ha).
Như vậy :
NS(IRS)
= 145 %
NS(Peta )
Tuy nhiên lượng dinh dưỡng trong mỗi tấn thóc hai giống IRS và Peta đã
lấy theo tỷ lệ
IRS
; N = 80% ; P = 92% ; K = 70%
Peta
Tuy nhiên mỗi tấn thóc lượng dinh dưỡng (DD) trên chứa trong hạt, thì
giống IRS lại nhiều hơn giống Peta.
DD hạt (giống IRS)
là N = 118,8% ; P = 208% ; K = 251%
DD hạt (giống Peta )
Các nguyên tố vi lượng như Cu, Zn, B, Mn, Fe chứa thấp nhất là đồng đến
kẽm, Bore, Mangan và sắt.
Như vậy nhu cầu dinh dưỡng cho đất trồng lúa không những chỉ có N, P, K