-
1
-
Luận Văn
“Lãi suất và vấn đề sử dụng các chính sách lãi suất
trong việc điều tiết nền kinh tế ở Việt Nam” -
hoạch định chính sách.
-
3
-
Xuất phát từ những lý do trên, em đã lựa chọn đề tài: “Lãi suất và
vấn đề sử dụng các chính sách lãi suất trong việc điều tiết nền kinh
tế ở Việt Nam”. Đề án gồm ba chương:
Chương I: Lý thuyết chung về lãi suất.
Chương II: Những chính sách lãi suất ở Việt Nam trong
thời gian qua.
Chương III: Giải pháp hoàn thiện chính sách lãi suất ở Việt
Nam - Tự do hoá lãi suất.
Thông qua việc sử dụng các kênh thông tin thứ cấp: sách, báo, tạp
chí với phương pháp thống kê, phân tích kinh tế, tổng hợp, so sánh
số liệu. Bằng cách kết hợp việc nghiờn cứu lý thuyết và thực tế, thực
trạng của nền kinh tế, của chớnh sỏch lói suất ở Việt Nam. Mục đích
của đề án là trình bày rõ lý luận về lãi suất trên phương diện chung, từ
đó đi nghiên cứu các chính sách lãi suất đã sử dụng ở Việt Nam nhằm
thấy rõ những ưu điểm và các mặt hạn chế của từng chính sách qua đó
có thể rút ra những bài học để hoàn thiện chính sách lãi suất ở Việt
Nam, giải pháp để tiến hành tự do hoá lãi suất.
KẾT LUẬN 40
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO -
5
-
Chương I. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ LÃI SUẤT
1. Khái niệm về lãi suất.
Khái niêm về lãi suât.
1.2.1. Lãi suất đơn.
Vay đơn là cung cấp cho người vay một khoản tiền vốn, vốn này
phải được hoàn trả người cho vay vào ngày mãn hạn cùng với một
khoản tiền phụ được gọi là tiền lãi.
Đối với những khoản tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay
đơn, lãi suất được gọi là lãi suất đơn.
Phương pháp tính lãi suất đơn:
-
7
- Tiền lãi
Lãi suất đơn = ––––––––––
Tổng số vốn
Như vậy ta thấy việc tính toán lãi suất đơn rất đơn giản và thông
thường được áp dụng trong các món vay thương mại có thời hạn ngắn
hơn một năm hay là thời hạn cho vay trùng khít với chu kỳ tính lãi.
1.2.2. Lãi suất tích họp.
Từ việc xem xét lãi suất đơn ta thấy nảy sinh vấn đề: nếu chúng ta
tham gia vào một quan hệ tín dụng dài hạn hơn, 2 hoặc nhiều năm,
trong đó chu kỳ tính lãi lại thường là một năm hoặc thậm chí ít hơn,
tức là chu kỳ tính lãi nhỏ hơn thời gian tín dụng mà lại áp dụng cách
tính toán trên đây thì, một là mặc nhiên đã có sự thừa nhận một mức
lãi suất giống nhau giữa các thời kỳ khác nhau, và hai là chúng ta đã
không tính toán đầy đủ giá trị của việc sử dụng số tiền vốn dĩ đã lớn
hơn số tiền gốc ban đầu do khoản tiền lãi của chu kỳ tính lãi hoặc năm
trước đó đem lại. Chính vì lẽ đó lãi suất tích họp được coi là công
chu kỳ tính lãi, lãi suất tích họp càng lớn.
- Lãi suất tích họp cho phép tính toán chính xác hơn số
tiền lãi trong các khoản vay ngắn hạn thậm chí theo số ngày. Chính
điều này đã làm cho thị trường tiền tệ với những món vay mượn nóng
ngày càng trở nên sôi động hơn.
1.2.3. Lãi suất hoàn vốn.
Lãi suất hoàn vốn là lãi suất làm cân bằng giá trị hiện tại của tiền
thanh toán nhận được từ một khoản tín dụng với giá trị hôm nay của
khoản tín dụng đó.
Lãi suất hoàn vốn thường được áp dụng đối với các khoản tín dụng
mà việc trả vốn và lãi theo định kỳ hoặc trả một khoản cố định theo
định kỳ, chẳng hạn vay cố định hoặc trái phiếu coupon.
Phương pháp tính:
- Trường hợp thời hạn tín dụng là n năm ta có
PV
(1+i)
n
=FV
n
hay PV=FV
n
/(1+i)
n
Trong đó - PV: giá trị hiện tại
-
9
-
Trong đó: - C là số tiền coupon cố định nhận được hàng năm.
- F là số tiền vốn nhận được vào năm cuối cùng của kỳ
hạn.
Giải phương trình trên ta được lãi suất hoàn vốn (i) của trái phiếu
Coupon.
Việc giải các phương trình trên được thực nhờ các phần mềm tính
toán của máy tính hoặc tra bảng.
Nhằm làm đơn giản việc tính toán lãi suất hoàn vốn của các trái
phiếu trên thương trường một cách nhanh chóng, ngay cả khi không
có máy tính cá nhân và bảng số, hai hình thức vận dụng lãi suất hoàn
vốn là lãi suất hoàn vốn hiện hành và lãi suất hoàn vốn trên cơ sở tính
giảm.
1.2.3.1. Lãi suất hoàn vốn hiện hành.
-
10
-
Phương pháp tính: bằng tỷ số giữa tiền thanh toán coupon hàng
năm với giá của trái phiếu đó.
i
c
= C/P
cb
Trong đó: - i
c
là lãi suất hoàn vốn hiện hành của trái phiếu
coupon.
) không lớn hơn 10% thì lãi suất
thực và lãi suất danh nghĩa có liên hệ với nhau qua công thức:
-
11
-
i
r
= i
n
+ i
i
Trong đó: - i
r
là lãi suất thực
- i
n
là lãi suất danh nghĩa
- i
i
là tỷ lệ lạm phát
- Trường hợp tỷ lệ lạm phát i
i
cao hơn 10% thì lãi suất thực phải
tính theo công thức sau:
i
n
- i
thêm các khoản chi phí trên. Tỷ lệ % của tổng thu nhập (còn gọi là chi
phí tài chính đối với người đi vay) trên số vốn cho vay chính là tỷ suất
lợi tức hay lãi suất hiệu quả của tổ chức tín dụng.
1.3.3. Các lãi suất cơ bản của ngân hàng.
Ba loại lãi suất cơ bản của ngân hàng thường được quan tâm hơn
cả bao gồm lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay và lãi suất liên ngân
hàng.
- Lãi suất tiền gửi thông thường là lãi suất mà ngân hàng thương
mại (NHTM) trả cho người gửi tiền trên số tiền ở tài khoản tiền tiết
kiệm, lãi suất tiền gửi được xác định thông qua công thức:
i
tg
= i
cb
+ i
i
Trong đó: - i
tg
là lãi suất tiền gửi.
- i
cb
là tỷ lệ lãi cơ bản của ngân hàng trả cho từng loại
tiền gửi khác nhau.
- Lãi suất cho vay là lãi suất mà ngân hàng cho các cá nhân, tổ
chức vay vốn trong thời hạn nhất định, tuỳ theo tính chất của món vay
và thời gian vay vốn mà lãi suất cho vay được xác định khác nhau, tuy
vậy lãi suất cho vay thường được xác định dựa trên cơ sở của lãi suất
tiền gửi:
- Xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danh
nghĩa cho thấy để duy trì lãi suất thưc không đổi, tỷ lệ lạm phát tăng
đòi hỏi lãi suất danh nghĩa phải tăng lên tương ứng.
- Công chúng dự đoán lạm phát tăng sẽ dành phần tiết kiệm của
mình cho việc dự trữ hàng hoá hoặc những dạng thức tài sản phi tài
chính khác như vàng, ngoại tệ mạnh… chính điều này sẽ làm giảm
cung quỹ cho vay và gây áp lực tăng lãi suất của các ngân hàng cũng
như trên thị trường.
2.3. Hoạt động thu, chi ngân sách Nhà nước.
Ngân sách Nhà nước vừa là nguồn cung tiền gửi vừa là nguồn cầu
tiền vay đối với ngân hàng. Do đó, sự thay đổi giữa thu, chi ngân sách
Nhà nước là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất. Ngân
sách bội chi hay thu không kịp tiến độ sẽ dẫn đến lãi suất tăng. Để bù
-
14
-
đắp, chính phủ sẽ vay dân bằng cách phát hành trái phiếu. Như vậy
lượng tiền trong dân chúng sẽ bị thu hẹp làm tăng lãi suất.
Ngoài ra khi thâm hụt ngân sách đã trực tiếp làm cầu về quỹ cho
vay trong các định chế tài chính tăng lên, trong khi cung lại giảm và
nâng cao lãi suất hoặc người dân dự đoán lạm phát sẽ tăng cao do Nhà
nước tăng khối lượng cung ứng tiền tệ, dẫn tới việc găm tiền lại để
mua tài sản khác làm cung quỹ cho vay bị giảm một cách tương ứng
và lãi suất tăng lên.
2.4. Thay đổi của thuế.
Thuế thu nhập cá nhân và thuế lợi tức công ty khi tăng lên có
nghĩa là điều tiết đi một phần thu nhập của những cá nhân và tổ chức
cung cấp dịch vụ tín dụng hay những người tham gia kinh doanh
chính quốc tế như các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trên thế
giới
Từ cuối năm 2000, nền kinh tế Mỹ rơi vào tỡnh trạng suy thoỏi.
Cỏc nền kinh tế lớn khỏc trờn thế giới : Tõy Âu, Nhật Bản, cũng rơi
vào tỡnh trạng trỡ trệ. Để cứu vón xu thế đó, từ ngày 4-1-2001, Cục
dự trữ liên bang Mỹ - FED (Ngân hàng trung ương của nước này) đó
11 lần hạ lói suất chủ đạo của mỡnh, từ 6,5%/năm (trước tháng 1-
2001) lần lượt xuống cũn 1,75%/thỏng (từ 12-12-2001), thấp nhất
trong vũng hơn 30 năm qua trong lịch sử nền kinh tế Mỹ. Ngân hàng
trung ương Nhật Bản (BOJ) hạ lói suất của mỡnh xuống bằng 0. Ngõn
hàng trung ương châu Âu (ECB) cũng nhiều lần hạ lói suất của
mỡnh Tỏc động dây chuyền của lói suất trờn cỏc thị trường chủ chốt
của thế giới : Thị trường liên ngân hàng Luân Đôn (LIBOR), Thị
trường liên ngân hàng Xin-ga-po (SIBOR), cũng liên tục giảm. Ở
Việt Nam, để hạn chế tác động tiêu cực của xu hướng suy giảm nền
kinh tế toàn cầu từ đầu năm 2001 đến nay, ngân hàng nhà nước
(NHNN) đó cắt giảm lói suất cơ bản đối với đồng Việt Nam (VND)
-
16
-
tới 4 lần, từ mức 0,75%/tháng, xuống cũn 0,725%, 0,65% và
0,60%/thỏng (từ 1-11-2001) ; đồng thời, 2 lần cắt giảm lói suất tỏi cấp
vốn, từ mức 0,50% xuống 0,45%/thỏng rồi 0,40%, 2 lần cắt giảm lói
suất tỏi chiết khấu từ 0,45%/thỏng xuống 0,40% rồi 0,35%.
3. Ảnh hưởng của lãi suất trong nền kinh tế.
3.1. Lãi suất với quá trình huy động vốn.
Đối với Việt Nam trên con đường phát triển kinh tế thì vấn đề tích
luỹ và sử dụng vốn có tầm quan trọng đặc biệt cả về phương pháp
Quá trình đầu tư của doanh nghiệp vào tài sản cố định được thực
hiện khi mà họ dự tính lợi nhuận thu được từ tài sản cố định này nhiều
hơn số lãi phải trả cho các khoản đi vay để đầu tư. Do đó khi lãi suất
xuống thấp các hãng kinh doanh có điều kiện tiến hành mở rộng đầu
tư và ngược lại. Trong môi trường tiền tệ hoàn chỉnh, ngay cả khi một
doanh nghiệp thừa vốn thì chi tiêu đầu tư có kế hoạch vẫn bị ảnh
hưởng bởi lãi suất, bởi vì thay cho việc đầu tư vào mở rộng sản xuất
doanh nghiệp có thể mua chứng khoán hay gửi vào ngân hàng nếu lãi
suất của nó cao.
Đặc biệt trong thời kỳ nền kinh tế bị đình trệ, hàng hoá ứ đọng và
xuống giá, có dấu hiệu thừa vốn và áp lực lạm phát thấp cần phải hạ
lãi suất vì nguyên tắc cơ bản là lãi suất phải nhỏ hơn lợi nhuận bình
quân của đầu tư, sự chênh lệch này sẽ tạo động lực cho các doanh
nghiệp mở rộng quy mô đầu tư.
3.3. Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm.
Thu nhập của một hộ gia đình thường được chia thành hai bộ phận:
tiêu dùng và tiết kiệm. Tỷ lệ phân chia này phụ thuộc vào nhiều nhân
tố như thu nhập, vấn đề hàng hoá lâu bền và tín dụng tiêu dùng, hiệu
quả của tiết kiệm trong đó lãi suất có tác dụng tích cực tới các nhân tố
đó.
-
18
-
Khi lãi suất thấp chi phí tín dụng tiêu dùng thấp, người ta vay
nhiều cho việc tiêu dùng hàng hoá nghĩa là tiêu dùng nhiều hơn, khi
lãi suất cao đem lại thu nhập từ khoản tiền để dành nhiều hơn sẽ
khuyến khích tiết kiệm, do đó tiết kiệm tăng.
3.4. Lãi suất với tỷ giá và hoạt động xuất nhập khẩu.
tăng sẽ làm giảm đầu tư, giảm tổng cầu và làm giảm sản lượng. Do
vậy lãi suất phải được sử dụng kết hợp với các công cụ khác thì mới
có thể kiểm soát được lạm phát, ổn định giá cả, ổn định đồng tiền. Một
chính sách lãi suất phù hợp là sự cần thiết cho sự phát triển lành mạnh
của nền kinh tế.
4. Các chính sách lãi suất cơ bản.
4.1. Tự do hoá lãi suất.
Tự do hoá lãi suất là một bộ phận cơ bản của tự do hoá tài chính,
tức là lãi suất được tự do biến động để phản ứng theo các lực lượng
cung-cầu vốn trên thị trường, loại bỏ những áp đặt mang tính hành
chính lên sự hình thành của lãi suất. Nó cho phép các ngân hàng tự
chủ trong việc ấn định các mức lãi suất kinh doanh của mình.
Tự do hoá tài chính (đặc biệt là tự do hoá lãi suất) góp phần huy
động nguồn lực thông qua hệ thống tài chính chính thức và nâng cao
hiệu quả hệ thống tài chính, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Tại sao mức độ thành công tự do hoá lãi suất của các quốc gia
khác nhau lại không giống nhau, thậm chí gây hiệu quả tiêu cực? (Úc,
Nhật, New Zealand, Mỹ, Malaysia có những thành công nhất định,
trong khi Phillipines, Thổ Nhĩ Kỳ, Chi Lê, Achentina, Uruguay lại
thất bại). Câu trả lời nằm trong cách thức và tiến trình tự do hoá. Vấn
đề ở đây chính là tiến hành những bước đi, cách thức trong quá trình
tự do hoá lãi suất ở các quốc gia, nếu quốc gia nào trong quá trình tiến
hành tự do hoá lãi suất mà có những chính sách phù hợp với điều kiện,
hoàn cảnh của quốc gia mình thì chúng ta thấy được rằng họ đã thành
công, ngược lại những quốc gia tiến hành một cách máy móc không
-
20
-
21
-
lãi suất chào hàng trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng (như lãi suất
LIBOR, SIBOR ) và lấy đó làm mặt bằng cơ sở chung để điều hành
chính sách lãi suất; tuy nhiên, để thực hiện điều hành chính sách lãi
suất theo cơ chế này đòi hỏi các nước áp dụng phải có nền kinh tế
thực sự phát triển và ổn định, đồng thời có đầy đủ các công cụ và các
chế tài cần thiết để can thiệp khi diễn ra những biến động về tài chính,
tiền tệ và ngay cả trong trường hợp lãi suất đang ổn định và do thị
trường quyết định thì các nhà quản lý và điều hành chính sách tiền tệ
vẫn có thể can thiệp theo cách này hoặc cách khác nhằm đạt được các
mục đích kinh tế, chính trị và xã hội đặt ra.
4.2. Kiềm chế lãi suất.
Đối với những nước theo đuổi chính sách tài chính kiềm chế và
đặc biệt là các nước có nền kinh tế được tổ chức theo cơ chế kế hoạch
hoá tập trung, vai trò của lãi suất không được nhìn nhận một cách
đúng đắn: lãi suất mang nặng tính chất bao cấp về tài chính trong toàn
bộ khu vực kinh tế quốc doanh và đảm bảo cho yêu cầu về “giới hạn
ngân sách mềm” trong các hoạt động chi tiêu của chính phủ.
Thực tế cho thấy hậu quả đối với các nước này là những mất cân
đối nghiêm trọng giữa cung và cầu trong vốn đầu tư; không thể kiểm
soát được lạm phát và sự biến động của tỷ giá hối đoái; tình trạng
thiếu vốn trầm trọng do không có khả năng huy động vốn và sử dụng
vốn một cách có hiệu quả; hệ thống thị trường tài chính bị chia cắt
manh mún không thể kiểm soát nổi và đầy rãy rủi ro cho nên không
thể góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở các nước này. Việt Nam
trước cải cách là một ví dụ minh hoạ sinh động cho trường hợp này
mà ta sẽ nghiên cứu ở chương tiếp theo.
dân và các tổ chức gửi tiền vào ngân hàng. Do đó chỉ huy động được
vốn ngắn hạn mà lại cho vay trung và dài hạn, kết quả là lỗ. Khả năng
huy động vốn đi với yêu cầu rút bớt tiền lưu thông, giải toả áp lực của
tiền đối với giá cả hàng hoá bị hạn chế nhiều.
-
23
-
- Lãi suất cho vay < lãi suất huy động vốn và tỷ lệ lạm phát nên
ngân hàng trong tình trạng bao cấp đối với doanh nghiệp vay vốn và
thông qua hệ thống tín dụng lãi suất thấp luôn trong tình trạng lỗ hoạt
động Ngân hàng không ổn định.
- Vì lãi suất cho vay < lãi suất huy động nên các doanh nghiệp thị
nhau vay vốn, tìm mọi cách, mọi cơ hội vay vốn để được hưởng bao
cấp.
- Doanh nghiệp vay nhiều nhưng lợi nhuận thu được không phải
do sản xuất kinh doanh mà do hưởng bao cấp của NHTM tạo mức lợi
nhuận giả cho các doanh nghiệp, gây trì trệ quá trình đầu tư phát triển
sản xuất.
2. Chính sách lãi suất dương.
Sau năm 1988 hệ thống ngân hàng hai cấp hình thành. Chính phủ
giao cho NHNN điều hành lãi suất, điều chỉnh lãi suất theo yếu tố biến
động của thị trường mà quan trọng nhất là lạm phát. Thực hiện cuộc
cải cách, để thu hút tiền thừa trong lưu thông về, kìm chế lạm phát,
tránh bao cấp qua lãi suất,với quyết định 29/NH ngày 16/3/1989 lãi
suất huy động được nâng lên một mức cao theo tỉ lệ lạm phát (lãi suất
tiết kiệm không kỳ hạn 9%/tháng-tức là 109%/năm, lãi suất tiết kiệm 3
tháng 12%/tháng-144 %/năm).
Những thành công của việc thực thi chính sách lãi suất dương:
suất thực dương thì chưa chắc chắn NHTM đã hoạt động kinh doanh
có lãi, nếu kéo dài tình trạng như vậy sẽ bị lỗ.
- Lãi suất vay vốn không khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư
mà các doanh nghiệp tích cực gửi tiền vào ngân hàng hơn. Bên cạnh
đó, các doanh nghiệp cũng giảm quy mô đầu tư dẫn đến một lực lượng
lớn thất nghiệp không có lợi cho sự phát triển chung của nền kinh tế.
- Trong tổng số vốn đầu tư sản xuất kinh doanh, một phần lớn là đi
vay của ngân hàng, bởi lãi suất vốn cao dẫn đến chi phí sản xuất kinh
-
25
-
doanh lớn do đó giá thành phẩm cao, giá hàng hoá cao và như vậy
hàng hoá sẽ giảm tính cạnh tranh trên thị trường.
Ngày 1-6-1992 thống đốc NHNN đã quyết định điều chỉnh chính
sách lãi suất theo hướng:
- Đảm bảo lãi suất thực tế dương, lãi suất tín dụng ngân hàng
không thấp hơn lãi suất tiền gửi.
- Ngân hàng nhà nước chỉ quy định mức cho vay tối đa và mức
tiền gửi tối thiểu cụ thể với từng đối tượng vay vốn, còn mức
lãi suất cụ thể sẽ do các NHTM tự quyết định trên cơ sở cung
cầu về vốn tín dụng.
- Thực hiện chính sách lãi suất bình đẳng đối với tất cả các
thành phần kinh tế.
Chính sách lãi suất phù hợp trên đã góp phần tập trung được nguồn
vốn tạm thời nhàn rỗi trong dân cư cho đầu tư phát triển, kiểm soát
lạm phát ở mức hợp lý, ổn định và kích thích tăng trưởng. Năm 1992,
lạm phát giảm mạnh từ 67,6% (1991) xuống 14,5% , tăng trưởng kinh
tế từ 6% (1991) lên 8,6%. Năm 1993 lạm phát đạt mức thấp 5,2% và