LỜI MỞ ĐẦU
Công ty cổ phần là một mô hình doanh ngiệp điển hình trong nền kinh tế thị
trường. Với khả năng huy động vốn lớn, nhanh chóng thuận tiện; khả năng chuyển
nhượng vốn linh hoạt; tạo điều kiện cho một khối lượng lớn nhà đầu tư thu lợi
nhuận từ hoạt động kinh doanh mà không cần phải có kiến thức kinh doanh, cũng
không cần trực tiếp tham gia kinh doanh và thớc hợp với mô hình sản xuất kinh
doanh lớn đa nghành nghề, công ty cổ phần đang là loại công ty rất phát triển. Ở
những khía cạnh nhất định, so với các loại hình doanh nghiệp khác như DNTN,
HTX, CTTNHH… thì Công ty cổ phần có những nét riêng biệt trong quản trị.
Ở Việt Nam, do những điều kiện lịch sử xã hội nhất định nên những quy
định của pháp luật về công ty nói chung và Công ty cổ phần nói riêng mới xuất
hiện ( từ Luật công ty 1990). Mặc dù hiện tại chúng ta chưa thu hút sự chú ý của
các nhà đầu tư nhưng Công ty cổ phần dự báo khả năng phát triển trong một tương
lai không xa bởi những ưu thế đặc trưng của loại hình doanh nghiệp này.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế to lớn đú, thỡ Công ty cổ phần cũng cũn
cú những hạn chế nhất định. Để khắc phục những hạn chế đó, và góp phần vào sự
phát triển của công ty thì một vấn để rất quan trọng được pháp luật rất quan tâm đó
là vấn đề tổ chức và quản lý công ty cổ phần. Trong phạm vi bài tập lớn của mình,
em xin đề cập đến “tổ chức và quản lý công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam
hiện hànhơpukih”. Trong phạm vi kiến thức của bản thân, bài tập của em sẽ không
tránh khỏi những hạn chế thiếu sót nhất định, em kính mong các thầy cô đóng góp
ý kiến để bài viết của em thêm hoàn thiện.
1
I. Khái quát chung về công ty cổ phần, tổ chức quản lí công ty
cổ phần
1, Khái niệm công ty cổ phần.
1.1 Định nghĩa:
Công ty Cổ phần (CTCP) ra đời vào khoảng thế kỉ XVII cùng với sự phát
cổ phần được tự do chuyển nhượng trong công ty cũng như ngoài công ty (trừ
trường hợp điều lệ công ty hoặc pháp luật có quy định khác). Công ty có khả năng
huy động nguồn vốn lớn chặt chẽ, dễ dàng thông qua phát hành chứng khoán theo
quy định của pháp luật .
- Ba là: CTCP có tính chất đối vốn điểm hình. Những vấn đề và quản lí nội
bộ và quyền lợi của cổ đông được giải quyết cơ bản dựa trên nguyên tắc đối vốn.
Các cổ đông tham gia vào công ty không quan tâm đến nhân thân của nhau mà chỉ
trên cơ sở cổ phần. Đặc điểm này cùng với khả năng dễ dàng chuyển nhượng cổ
phần làm cho CTCP thường có số lượng cổ đông lớn. Pháp luật các nước chỉ
khống chế số lượng tối thiểu mà không số lượng tối đa các cổ đông của đông ty.
- Bốn là: Với cấu trúc vốn và tính chất thành viên riêng của mình, CTCP
đòi hỏi một cơ cấu tổ chức chặt chẽ để bào vẹ quyền lợi của các cổ đông cũng như
các chủ thể có quan hệ với công ty. Pháp luật hầu hết các nước đều quy định rừ cỏc
quy chế quản lí, điều hành và kiểm sát.
Trên đây là những đặc điểm cơ bản nhất của CTCP, ngoài ra Điều 77 Luật
DN 2005 còn chỉ ra những đặc điểm khác để nhận diện CTCP như: cổng đông có
thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiều là ba và không hạn chế số lượng
tối đa.
2, Khái niệm tổ chức, quản lí CTCP.
2.1 Khái niệm:
3
- Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), quản lí công ty là một
hệ thống các cơ chế, các hành vi quản lí mà theo đú cỏc công ty được điều hành
theo một ý chí thống nhất, quản lí công ty cho phép tạo ra một cơ chế mà các mục
tiêu của công ty được xác lập, tạo ra các phương tiện để đạt được các mục đích đã
đề ra và giám sát việc thực hiện.
- Theo ngân hàng thế giới (WB) quản lí công ty được coi là một hệ thống kết
hợp các yếu tố luật pháp, thể chế và các thông lệ quản lý của các công ty. Nó cho
Vốn của CTCP là vấn đề phức tạp, không chỉ liên quan đến bản chất kinh tế, khả
năng tài chính, mà còn là yếu tố xác định vị thế, năng lực cạnh tranh của CTCP
trên thị trường liờn quan đến hàng loạt các vấn đề như quyền sở hữu, chuyền
nhượng, thế chấp. một cấu trúc vốn mền dẻo, linh hoạt không những đáp ứng được
nhu cầu của công ty mà còn đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư khi mua cổ
phần, cổ phiếu của CTCP. Dưới góc độ pháp lí cấu trúc vốn của CTCP bao gồm
hai bộ phận vốn điều lệ và vốn vay.
Trong cơ cấu tổ chức quản lí trong công ty có sự phân chia quyền lực rõ
ràng giữa các bộ phận, sự phân chia quyền lực này phụ thuộc vào tỉ lệ vốn góp của
các cổ đông nhằm đảm bảo một cơ cấu tổ chức quả lí chặt chẽ, bảo vệ đến mức tối
đa quyền lợi của cổ đông. Điểm khác biệt về cơ cấu tổ chức quản lí, đồng thời là
đặc trưng của công ty cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác đó là cơ cấu
tổ chức quản lí của CTCP chịu sự chi phối của cấu trúc vốn. Cấu trúc vốn không
những đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh mà cũn cú vai trò quan
trọng trong việc chi phối cơ cấu tổ chức quản lí của CTCP. Trong CTCP việc hình
thành bộ máy tổ chức quản lí và việc phân chia quyền lực giữa các bộ phận cấu
thành đó, cấu trúc vốn có ảnh hưởng quyết định và chi phối.
5
Sự chi phối của cấu trúc vốn với tổ chức bộ máy của CTCP thể hiện rõ nét
nhất tại ĐHĐCĐ. Điều này được thể hiện qua các quy định về quyền lợi nghĩa vụ
của ĐHĐCĐ. Cơ chế quyết định các vấn đề của ĐHĐCĐ cũng bị chi phối bởi cấu
trúc vốn hay nói cách khác bởi yếu tố vốn: Cổ đông nào tham gia biểu quyết, tỉ lệ
cổ phần của cổ đông tham gia biểu quyết chiếm bao nhiêu trong vốn điều lệ. CTCP
với đặc trưng của nó bị chi phối bởi cấu trúc vốn, vì vậy HĐQT cũng sẽ bị chi phối
bởi cấu trúc vốn. Sự chi phối của cấu trúc vốn đối với HĐQT được thể hiện rõ
ngay từ việc hình thành HĐQT. Ngoài ra sự chi phối đú cũn thể hiện ở cơ chế thực
thi quyền lực của HĐQT. Sự chi phối của yếu tố này đối với tổ chức bộ máy của
Việc tổ chức bộ máy quản lí cho DN nói chung và cho CTCP nói riêng phải
đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Thứ nhất: Bộ máy quản lí CTCP phải gọn nhẹ, linh hoạt để giảm chi phí.
Chúng ta thấy rằng một bộ máy quản lớ cú gọn nhẹ, linh hoạt thì mới có thể thực
hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình đồng thời còn giảm được chi phí quản lí.
Quản lí nội bộ trong công ty giải quyết vấn đề này bằng việc quy định rõ ràng
quyền lợi và nghĩa vụ của bộ máy quản lí trong công ty, bằng việc tăng cường hoạt
động kiểm tra quản lí và bằng những yếu tố động viên để gắn lợi ích của người
quản lí với lợi ích của cổ đông và của công ty. Điều này đã được Luật DN 2005
giải quyết khá thành công.
- Thứ hai: Việc tổ chức quản lí CTCP phải bảo đảm sự phân công rành mạch
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các bộ phận trong bộ máy quản lí và còn
phải có cơ chế phối hợp, kiểm soát, giám sát hữu hiệu giữa các bộ phận đó. Theo
quy định của Luật DN 2005,nhiệm vụ, quyền hạn, thể thức hoạt động của
ĐHĐCĐ, HĐQT, Giám đốc (tổng giám đốc), BKS được qua định khá rõ ràng, cụ
7
thể. Các cơ quan này có sự độc lập tương đối trong hoạt động va có sự chi phối lẫn
nhau.
- Thứ ba: Tổ chức quản lí CTCP đảm bảo khả năng tham gia quản lí của các
cổ đông nhằm bảo vệ một cách tốt nhất quyền lợi của các cổ đông. Trước hết
nguyên tắc này được thể hiện ở việc quy định, ghi nhận các quyền và nghĩa vụ của
cổ đông trong Luật DN 2005 (Điều 79, 80, 81, 82, 83, 84). Ngoài ra, cùng với việc
quy định về quyền của các cổ đông, Luật DN 2005 còn quy định các biện pháp
nhằm khắc phục tình trạng các cổ đông đa số là thành viên trong HĐQT, Giám đốc
(tổng giám đốc) và các cán bộ quản lớ khỏc lạm dụng vị thế quyền hạn của mình
để thu vén cho cá nhân, gia đình, làm phương hại đến lợi ích của công ty nói chung
và của các cổ đông thiểu số nói riêng.
định thì CTCP phải có ĐHĐCĐ, HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, đối với
CTCP cú trờn 11 cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là pháp nhân sở hữu trên
50% tổng số cổ phần của công ty thì phải có Ban kiểm soát. Điều này được biểu
diễn như sau:
MÔ HÌNH
2. Tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lí CTCP.
2.1. Đại hội đồng cổ đông.
- Về nguyên tắc, CTCP được tổ chức quản lí tập trung thông qua cơ chế hội
đồng. Theo đó, ĐHĐCĐ là cuộc họp của tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là
cơ quan quyết định cao nhất của CTCP. ĐHĐCĐ quyết định các vấn đề quan trọng
nhất liên quan đến sự tồn tại và phát triển của CTCP.
ĐHĐCĐ không làm việc thường xuyên mà chỉ tồn tạ trong thời gian họp và
ra quyết định trên cơ sở biểu quyết tại cuộc hoặc lấy ý kiến của các cổ đông có
quyền biểu quyết bằng văn bản.
9
Luật DN 2005 trên cơ sở kế thừa và khắc phục nhưng thiếu sót của Luật DN
1999, quy định về ĐHĐCĐ một cách cụ thể và phù hợp hơn.Vỡ là cơ quan có
quyền quyết định cao nhất nên ĐHĐCĐ có quyền quyết định các vấn đề quan
trọng nhất liên quan đế sự tồn tại và hoạt động của công ty. Điều này được cụ thể
trong Khoản 2 Điều 96 Luật DN2005.
Là cơ quan tập thể, ĐHĐCĐ thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình chủ
yếu thông qua kì họp của ĐHĐCĐ, do đú,ĐHĐCĐ phải họp một năm ít nhất một
lần. Luật DN2005 quy định ĐHĐCĐ phải họp thường niên trong thời hạn 4 tháng,
kể từ ngày kết thúc năm tài chính. Theo đề nghị của HĐQT, cơ quan dăng kí kinh
doanh có thể gia hạn, nhưng không quá 6 tháng, kể thừ ngàykết thúc năm tài chính.
Đây là quy định mới của Luật DN2005 so với quy định tại Luật DN1999.Luật
DN2005 quy định mộy cách chi tiết cụ thể các trường hợp mà ĐHĐCĐ còn có thể
Điều 77 Luật DN1999 quy định tỉ lệ này là 51%.
Đối với quyết định liên qua đến loại cổ phần và số lượng cổ phần được
quyền chào bán của từng loại, bổ sung, sửa đổi Điều lệ công ty, tổ chúc lại, giải thể
công ty, bán hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất
của công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác thì phải được số cổ đong
đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết chấp thuận, tỉ lệ cụ thể do điều lệ
công ty quy định. Ngoài việc quy định các diều kiện thông qua các quyết định của
ĐHĐCĐ, Luật DN 2005 quy định yêu cầu hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ. Theo
quy định này thì BKS có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét, hủy bỏ
quyết định của ĐHĐCĐ.
Với các quy định như trên, đã thể hiện sự khác biệt đáng kể của CTCP so
với một số loại hình doanh nghiệp khác. Đó là sự biểu hiện rõ nét tính dân chủ
trong hoạt động kinh doanh cũng như trong tổ chức quản lí. Tuy nhiên, đây là nền
11
dân chủ cổ phần, tức là nền dân chủ dựa vào sức mạnh đóng góp của cổ đông. Nền
dân chủ cổ phần hầu như không mang sắc thái chính tri, mà chủ yếu mang sắc thái
kinh tế. Cơ chế quản lí và đời sống của CTCP nói chung chứa đựng nhiều yếu tố
dân chủ hơn so với các loại hình DN một chủ khác như DNTN, DNNN và các loại
hình DN khác. Trong các loại hình DN đó không thể tồn tại cơ chế bỏ phiếu theo
nguyên tắc “một cổ phần một lá phiếu”. Chủ sở hữu có toàn quyền quyết định việc
thành lập, hoạt động kinh doanh của DN. Ngược lại, hoạt động của CTCP không
thể do một chủ sở hữu hay một nhóm chủ sở hữu nào đó quyết định, mà là do tất cả
các chủ sở hữu quyết định. Tại ĐHĐCĐ, các cổ đông bàn bạc, thảo luận những vấn
đề có liên quan đến hoạt động của CTCP và quyết định bằng việc bỏ phiếu.
So với các Luật khác trước đây (Luật Công ty 1990, Luật DN 1999) có quy
định về CTCP thì Luật DN2005 quy định khá chi tiết và đầy đủ chức năng nhiệm
vụ quyền hạn cũng như điều kiên thể thức tiến hành cuộc họp và thông qua quyết
định của ĐHĐCĐ. Sự thay đổi này là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu chung của
các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng, kể cả của CTHĐQT. Khi thực hiện
chức năng của nhiệm vụ của mình, HĐQT phải tuân thủ đúng quy định của pháp
luật, Điều lệ công ty và nghị quyết của ĐHĐCĐ. Nếu quyết định sai mà gây thiệt
hại cho công ty thỡ cỏc thành viên chấp thuận thông qua các quyết định đó phải
cùng liên đới chịu trách nhiệm cá nhân và phải đền bù thiệt hại cho công ty. Quy
định này vừa làm tăng sự kiểm soát giám sát lẫn nhau giữa các bộ phận quản lý của
CTCP vừa làm tăng trách nhiệm của HĐQT đối với các quyết định của mình cũng
như trách nhiệm đối với công ty.
Thực tế trong quá trình thi hành Luật DN cho thấy, đội ngũ lãnh đạo, quản lí
DN chưa thực sự hùng hậu và đáp ứng được yêu cầu kinh doanh hiện đại trong bối
cảnh toàn cầu húa hiện nay, hạn chế về trình độ quản lý, về ngoại ngữ nhất là các
13
CTCP được hình thành từ việc cổ phần hóa DNNN (vì có tình trạng Bộ chủ quản
không chỉ quy định số lượng thành viên HĐQT mà còn chỉ định luôn đại diện sở
hữu cổ phần nhà nước trong công ty là CTHĐQT dù tỉ lệ cổ phần nhiều hay ít).
Điều này đã ảnh hưởng đến khả năng khai thác thông tin, hạn chế trong đàm phá
với các đối tác khi mở rộng thị trường, bỏ mất nhiều cơ hội phát triển của DN.
2.3. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty.
Công ty cần phải có người điều hành công việc hành ngày. Vì vậy nếu
CTHĐQT khụng kiờm làm Giám đốc công ty thì HĐQT bổ nhiệm một người trong
số họ làm Giám đốc hoặc thuê người khác làm. Như vậy Giám đốc có thể là thành
viên HĐQT, có thể không là thành viên HĐQT, có thể là cổ đông công ty, có thể
không phải là cổ đông công ty.
Điều 116 Luật DN2005 quy định về Giám đốc (Tổng giám đốc) công ty.
Theo đó, Giám đốc là người điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công
ty, chịu sự giám sát của HĐQT và chịu trách nhiệm trước HĐQT và trước pháp
luật về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao. Giám đốc phải điều hành
hoạt động kinh doanh của công ty theo đúng quy định của pháp luật, Điều lệ công
máy quản lí CTCP.
3. Quyền hạn và trách nhiệm của người quản lý công ty.
Người quản lý công ty giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả
quản lý của CPCT. Nghĩa vụ của người quản lý công ty là nội dung quan trọng
trong tổ chức, quản lý CTCP, là cơ sở đánh giá và điều chỉnh hành vi ứng xử của
công ty.
Điều 119 Luật DN 2005 quy định nghĩa vụ của người quản lý công ty, theo
đó thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc) và người quản lý khỏc cú cỏc
nghĩa vụ sau:
15
- Thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao theo đúng quy định của Luật
này, pháp luật cú liờn quan, Điều lệ công ty, quyết định của ĐHĐCĐ.
- Thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao một cách trung thực, cẩn
trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của công ty và cổ đông của
công ty;
- Trung thành với lợi ích của công ty và cổ đông của công ty; không sử dụng
thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, lạm dụng địa vị, chức vụ và tài
sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;
- Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho công ty về các DN mà họ và
người có liên quan của họ làm chủ hoặc có phần vốn góp, cổ phần chi phối; thông
báo này được niêm yết tại trụ sở chính và chi nhánh của công ty.
Ngoài ra, HĐQT và Giám đốc (tổng giám đốc không được tăng lương, trả
thưởng khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợ đến hạn. Các nghĩa vụ khác
theo quy định của Luật doanh nghiệp và Điều lệ công ty.
Quy định này có ý nghĩa làm cho các cá nhân quản lý công ty thực hiện tốt
trách nhiệm quả lý của mình theo quy định của luật cũng như Điều lệ công ty.
4. Kiểm soát các giao dịch của công ty.
Luật DN 2005 quy định cụ thể chi tiết hơn Luật DN 1999 các trường hợp
dựng pháp luật cũng đã được quy định chi tiết trong Luật DN 2005.
Ta thấy, Điều lệ công ty và pháp luật DN trong việc điều chỉnh quan hệ nội
bộ công ty có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Điều lệ công ty như một văn bản chi
tiết giải thích, cụ thể hóa những quy định của pháp luật. Như vậy, pháp luật là tiền
đề xương sống cho Điều lệ công ty phát triển, Điều lệ công ty không thể trái với
quy định của pháp luật hiện hành. Tuy nhiờn, một thực trạng hiện nay là: Điều lệ
công ty, một công cụ quan trọng trong quản lý DN nhưng lại được DN xây dựng
17
một cách hình thức. Trường hợp CTHĐQT và Giám đốc công ty đều là người đại
diện theo pháp luật của công ty cùng tham gia ký kết hợp đồng mà giám đốc là
người đại diện theo pháp luật theo quy định của Điều lệ công ty nhưng lại không
được giữ con dấu, còn CTHĐQT ký và nắm giữ con dấu thì hợp đồng nào sẽ có giá
trị? Trên thực tế đã từng có những trường hợp như vậy nhưng thực tế xung đột nội
bộ này không thể giải quyết được. Trong trường hợp mâu thuẫn này, đã được mang
đến Tòa án. Tuy nhiên các phán quyết của Tòa án hầu như không được thi hành do
không giải quyết một cách thỏa đáng các mâu thuẫn trong nội bộ và không tạo
được sự công bằng lợi ích của các thành phần khác trong công ty.
2. Vấn đề xây dựng bộ máy quản lí CTCP .
Thứ nhất về phân cấp quản lý: Trên thế giới mô hình công ty hiện đại bao
gồm ba cấp độ quản lý. Khi người chủ sở hữu điều hành trực tiếp công ty của
mình, lợi nhuận và giá trị công ty có xu hướng tối đa hóa, bởi chỳng luụn gắn liền
với lợi ích riêng của chủ sở hữu công ty. Tuy nhiên, khi sở hữu bị tách biệt ra khỏi
hoạt động kiểm soát công ty, người điều hành trực tiếp công ty có thể vì lợi ích
riêng của mình sự dụng không đúng mục đích tài sản của công ty. Ví dụ như theo
đuổi các dự án quá rủi ro hoặc không cẩn trọng. Các nhà cung cấp nguồn tài chính
cho công ty (có thể là cá nhân; quỹ đầu tư; ngân hàng, tổ chức tài chính, các chính
phủ) muốn có biện pháp bảo đảm rằng các khoản đầu tư của họ sẽ được bảo vệ
khỏi sự biển thủ và sử dụng có mục đích phục vụ mục tiêu chung của công ty.
giá và trả thù lao cho ban điều hành.
Cấp độ thứ 3 đó là những người điều hành công việc hàng ngày của công ty–
ban giám đốc điều hành. Các cán bộ điều hành trong đó có chức danh chính là
Tổng giám đốc được cổ đông và HĐQT trao quyền, với các tự do cần thiết để vận
hành công việc hàng ngày của công ty. Sự tự do này rất quan trọng bởi vì nó cho
19
phép cán bộ điều hành đưa ra các lệnh cần thiết cho công ty. Cán bộ điều hành phải
có trách nhiệm giải trình về kết quả hoạt động của công ty. Trách nhiệm chính của
cán bộ điều hành dự cú là cổ đông hay không, là quản lý công ty vì quyền lợi tối
cao của cổ đông. Nếu họ thành công, họ sẽ được hưởng lợi. Nếu họ thất bại, họ
phải có trách nhiệm giải trình với cổ đông.
Mặc dù CTCP theo Luật DN 2005 quy định cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
CTCP gồm ĐHĐCĐ, HĐQT và BKS nhưng trong thời gian tới nên tham khảo theo
các cấp độ quản lý nêu trên để tránh cồng kềnh, hoạt đồng kém hiệu quả.
Thứ hai: Khắc phục những hạn chế từ đặc điểm của công ty.Trong công ty
có sự phân chia quyền sở hữu và kiểm soát. Khi chủ sở hữu không điều hành trực
tiếp mà giao cho cán bộ điều hành DN, lúc đó sẽ nảy sinh vấn đề phân chia quyền
sở hữu và quyền kiểm soát công ty. Ban giám đốc điều hành do chủ sở hữu bổ
nhiệm có quyền kiểm soát các hoạt động hàng ngày đối với tài sản và nguồn lực
của công ty. Tuy nhiên, họ lại không phải là người chịu rủi ro cuối cùng trong
trường hợp công ty thua lỗ và cũng không phải là người hưởng lợi cuối cùng trong
trường hợp công ty có lãi, bởi vì người hưởng lợi cuối cùng đều thuộc về các cổ
đông – những người đầu tư vào công ty. Lúc này, xuất hiện nguy cơ ban điều hành
có thể làm việc vì quyền lợi riêng của họ hơn là quyền lợi của cổ đông. Quản lý
công ty phải giải quyết vấn đề này bằng cách làm cho các ủy viên HĐQT và ban
điều hành có trách nhiệm giải trình với cổ đông, đồng thời đảm bảo và tăng quyền
tham gia của cổ đông vào hoạt động quản lý công ty.
Trong quản lý công ty có việc không cân xứng về thông tin. Ban giám đốc là
quyền từ chối trả lời chất vấn.
21
Thứ ba: với việc quy định thời hạn tối thiểu là 7 ngày cho việc gửi giấy triệu
tập họp đến cho cổ đông, thời hạn này cần tăng thêm để đảm bảo các cổ đông đủ
thời gian xử lý các thông tin để có lá phiếu biểu quyết phù hợp trong ĐHĐCĐ.
Thứ tư: bên cạnh hoàn thiện pháp luật thì vấn đề nâng cao hiệu quả áp dụng
quy định của pháp luật trong DN cũng là vấn đề đáng quan tâm. Với thực trạng
hiện nay ở Việt Nam, theo điều tra thỡ trờn 85 DN lớn ở Việt Nam của IFC –
MPDF thực hiện chỉ có 23% được hỏi rằng các doanh nhân Việt Nam đã hiểu khái
niệm và nguyên tắc cơ bản của quản lý DN. Vì vậy cần nhanh chóng đưa chương
trình đào tạo dành cho thành viên HĐQT và các cán bộ quản lý công ty. Cần nỗ lực
lớn để thành lập Học viện đào tào thành viện HĐQT và các cán bộ quản lý công ty
và việc hoàn thành khóa học sẽ là yêu cầu bắt buộc đối với thành viên HĐQT và
các cán bộ quản lý.
KẾT LUẬN
Hiện nay, với yêu cầu của quá trình hội nhập, toàn cầu hóa các doanh nghiệp
Việt Nam đang đứng trước những thách thức to lớn. CTCP với ưu thế nhất định
của nó đã từng bước phát triển và hoạt động có hiệu quả. Tuy nhiên để đạt được
những lợi ích kinh tế tối đa và thu hút được sự quan tâm đầu tư của các nhà đầu tư
trong cũng như ngoài nước thì đòi hỏi chúng ta phải có một hệ thống pháp luật
hoàn chỉnh, đồng bộ và thống nhất. Bên cạnh đó, Việt Nam cần phải đào tạo một
đội ngũ doanh nhân giỏi về chuyên môn, năng động sáng tạo trong công việc. Điều
này góp phần to lớn vào việc nâng cao hiệu quả của quản lý doanh nghiệp, nâng
cao hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp nói chung và CTCP nói riêng.
22
1
1. Khái niệm CTCP
2
1.1 Định nghĩa
3
1.2 Đặc điểm
3
2. Khái niệm tổ chức, quản lí CTCP
3
2.1 Khái niệm
3
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức quản lí CTCP
5
2.3 Các yêu cầu đối với việc tổ chức quản lí CTCP
5
3. Quyền hạn và trách nhiệm của người quản lí công ty
15
4. Kiểm soát các giao dịch của công ty
16
24
III. Thực trạng và hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật
Về tổ chức, quản lí CTCP.
17
1. Thực trạng áp dông
17
2. Vấn đề xây dựng bộ máy CTCP
18
3. Một số kiến nghị cụ thể
21
Kết luận.
Tài liệu tham khảo