Địa vị pháp lý của ban kiểm soát trong quản trị nội bộ công ty cổ phần theo pháp luật việt nam hiện nay - Pdf 27

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Mai Bích Ngân
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BAN KIỂM SOÁT
TRONG QUẢN TRỊ NỘI BỘ CÔNG TY CỔ PHẦN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Trần Đình Hảo
Học viện Khoa học Xã hội
HÀ NỘI, năm 2015
Hà Nội tháng 10 năm 2014
1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài……………………………………………………………5
2. Tình hình nghiên cứu………………………………………………………………7
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu…………………………………………………8
4. Phạm vi nghiên cứu……………………………………………………………… 9
5. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………………… 9
6. Kết cấu luận văn………………………………………………………………… 9
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐẾ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BAN KIỂM
SOÁT TRONG QUẢN TRỊ NỘI BỘ CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Khái quát chung về quản trị nội bộ công ty cổ phần………………………….10
1.1.1. Khái niệm quản trị công ty……………………………………………………10
1.1.2. Mục đích của quản trị công ty……………………………………………… 16
1.1.3. Vai trò và lợi ích của quản trị công ty hiệu quả………………………………16

LUẬT VỀ BAN KIỀM SOÁT.
3.1. Phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm mục tiêu đưa các quy định pháp luật về
tổ chức và hoạt động của Ban kiểm soát ở Việt Nam đi vào thực tiễn…………… 67
3
3.2. Phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ
chức và hoạt động của Ban Kiểm soát ở Việt Nam………………………………….69
3.3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt
động của Ban Kiểm soát……………………………………………………………….73
3.3.1. Giải pháp pháp lý…………………………………………………………….73
3.3.2. Những giải pháp bổ trợ khác…………………………………………………81
PHẦN KẾT LUẬN…………………………………………………………………… 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………85
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã chứng kiến một sự bứt phá mạnh mẽ của
nền kinh tế chuyển đổi và sự ra đời không ngừng của các Công ty. Trong làn sóng cạnh
tranh dữ dội của nền kinh tế, Quản trị Công ty trở thành một yếu tố quan trọng giúp cho
Công ty có thể tồn tại vững bền và phát triển không ngừng. Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ
mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa quản trị Công ty với sự phát triển kinh tế. Quản trị Công ty
nói chung (Coperate Governance) quan niệm một cách đơn giản nhất là những cơ chế
4
quyết định và sự thực thi, thông qua đó Công ty được điều hành và kiểm soát. Trên thế
giới, Quản trị Công ty là đề tài thu hút được sự quan tâm của rất nhiều ngành, nhiều
người. Cùng với sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng và quy mô của các doanh
nghiệp thuộc các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, đặc biệt sự hình thành của các Công ty
lớn với sự tham gia của nhiều chủ sở hữu khác nhau, thực tiễn ở nhiều nước cũng như ở
nước ta, doanh nghiệp được tổ chức dưới hình thức Công ty cổ phần đang thể hiện được
những ưu điểm, có độ hấp dẫn nhất định khi ngày càng được các nhà đầu tư lựa chọn làm
hình thức kinh doanh của mình và thực tiễn cũng đã chỉ ra rằng: Quản trị Công ty tốt là
một trong những điều kiện tạo nên ưu điểm, tạo nên sự hấp dẫn của loại hình Công ty cổ

pháp lý của Ban kiểm soát trong quản trị nội bộ Công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay là
hết sức mờ nhạt. Các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của Ban kiểm soát
trong Công ty cổ phần còn nhiều bất cập và chưa tiếp cận được với các thông lệ tốt trong
quản trị Công ty trên thế giới, mặc dù trong thời điểm hiện tại, Luật Doanh nghiệp mới
năm 2014 đã được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014 và sẽ có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2015.
Trong bối cảnh nói trên, việc nghiên cứu nhằm hướng tới mục tiêu vận dụng có
hiệu quả, đưa các định pháp luật về Ban kiểm soát trong Công ty cổ phần, đặc biệt ở các
Công ty niêm yết và công ty đại chúng để góp phần đưa những quy định này đi được vào
thực tiễn cuộc sống là yêu cầu thực tế, hết sức cấp bách được đặt ra. Mục tiêu này được
đặt ra trước cả mục tiêu hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật về Ban Kiểm soát trong
quản trị nội bộ công ty cổ phần theo pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
Do đó, tôi đã lựa chọn đề tài: “Địa vị pháp lý của Ban kiểm soát trong Quản trị
nội bộ công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho
Luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Ban kiểm soát trong quản trị Công ty không những là vấn đề quan tâm của các
chủ thể thực hành trong Công ty mà còn trở thành một đề tài của các nhà nghiên cứu lý
thuyết. Hiện nay trên thế giới, có rất nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động kiểm soát
6
đã được hình thành, mà tiêu biểu là những bộ thông lệ tốt về quản trị Công ty như các
nguyên tắc quản trị Công ty của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), hệ thống
Quản trị Doanh nghiệp Quốc tế (ICGN), Hội đồng các nhà đầu tư là Tổ chức (CII), được
vận dụng ở nhiều nước.
Ở Việt Nam hiện nay, có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tới đề tài Ban kiểm
soát trong quản trị nội bộ Công ty cổ phần như: “Chuyên khảo Luật kinh tế” của tác giả
Phạm Duy Nghĩa; “Báo cáo nghiên cứu rà soát văn bản pháp luật về thành lập, tổ chức
và hoạt động của doanh nghiệp” của CIEM (Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung
ương); “Quản trị Công ty: Nâng cao năng lực cạnh tranh và tiếp cận nguồn vốn trên thị
trường toàn cầu” do CIEM dịch với sự tài trợ của GTZ (Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức);

• Đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm mục tiêu đưa pháp luật đi vào
cuộc sống thông qua việc đề xuất các phương án vận dụng có hiệu quả các
quy định của pháp luật về Ban kiểm soát trong quản trị nội bộ Công ty cổ
phần theo pháp luật Việt Nam và đề xuất một số phương hướng, giải pháp
hoàn thiện các quy định pháp luật về Ban Kiểm soát trong quản trị nội bộ
công ty cổ phần ở nước ta trong thời gian tới.
4. Phạm vi nghiên cứu
Ban kiểm soát trong quản trị Công ty là một khái niệm rất rộng, bên cạnh các mối
quan hệ với các thiết chế trong quản trị nội bộ Công ty như cổ đông, hội đồng quản trị,
ban giám đốc; còn liên quan đến nhiều đối tượng và nhiều mối quan hệ khác. Luận văn
chỉ tập trung phân tích các quy định pháp luật thể hiện địa vị pháp lý của Ban kiểm soát
trong quản trị nội bộ Công ty cổ phần tại Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin về nhà nước và pháp luật, đồng thời vận dụng đường lối, quan điểm, định hướng
của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
8
Phương pháp luận nghiên cứu trong đề tài này sử dụng phép biện chứng duy vật
nhằm tổng kết, đánh giá các quy định pháp luật về Ban kiểm soát trong pháp luật về
công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay, các quy định pháp luật hiện hành liên quan tới tổ
chức và hoạt động của Ban kiểm soát tại Việt nam
Các phương pháp nghiên cứu như thống kê, tổng hợp, so sánh, phân tích, … cũng
được Luận văn áp dụng một cách phù hợp trong quá trình triển khai các nhiệm vụ nghiên
cứu nêu trên.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài Lời cảm ơn, Phần mở đầu, Phần kết luận và các phần như mục lục, danh
mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương như sau:
• Chương 1: Những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của Ban kiểm soát trong quản
trị nội bộ công ty cổ phần;
• Chương 2: Thực trạng về địa vị pháp lýBan kiểm soát trong công ty cổ phần theo

[…], liên quan tới các mối quan hệ giữa Ban giám đốc, Hội đồng quản trị và các
cổ đông của công ty với các bên có quyền lợi liên quan. Quản trị công ty cũng tạo
ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty và xác định các phương tiện để
đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty.
Quản trị công ty chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được Ban giám đốc và
Hội đồng quản trị theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ
đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công
ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách
tốt hơn”
(
2
)
.
Theo tổ chức tài chính quốc tế (IFC – International Finance Corporation), Quản
trị công ty là “những cơ cấu và những quá trình để định hướng và kiểm soát công ty”.
Theo Ngân hàng thế giới (World Bank), “Quản trị công ty là một hệ thống các
yếu tố pháp luật, thể chế và thông lệ quản lý của các công ty. Nó cho phép công ty có thể
1
()
. 13.Tổ chức Tài chính Quốc tế, Cẩm nang Quản trị công ty, tháng 10/2010, tr.5.
2
(). 14.
Các Nguyên tắc Quản trị công ty của OECD (xem thêm trang web: www.oecd.org).
10
thu hút được các nguồn tài chính và nhân lực, hoạt động có hiệu quả và nhờ vào đó tạo
ra các giá trị kinh tế lâu dài cho các cổ đông, trong khi vẫn tôn trọng quyền lợi của
những người có lợi ích liên quan và của xã hội. Đặc điểm cơ bản nhất của một hệ thống
Quản trị công ty là: (i) Tính minh bạch của các thông tin tài chính, kinh doanh và quá
trình giám sát nội bộ đối với hoạt động quản lý; (ii) Đảm bảo thực thi các quyền của tất
cả các cổ đông; (iii) Các thành viên trong Hội đồng quản trị có thể hoàn toàn độc lập

trách nhiệm trước thể chế này, và thể chế này lại chịu trách nhiệm trước các cổ
đông qua Đại hội đồng cổ đông. Các cơ cấu và quy trình xác định những mối
quan hệ này thường xoay quanh các cơ chế quản lý năng lực hoạt động và các
cơ chế báo cáo khác nhau.
• Những mối quan hệ này nhiều khi liên quan tới các bên có lợi ích khác nhau,
đôi khi là những lợi ích xung đột: Sự khác biệt về lợi ích có thể tồn tại ngay
giữa các bộ phận quản trị chính của công ty, tức là giữa Đại hội đồng cổ đông,
Hội đồng quản trị, và/hoặc Tổng giám đốc (hoặc các bộ phận điều hành khác).
Điển hình nhất là những xung đột lợi ích giữa các chủ sở hữu và thành viên
Ban giám đốc, thường được gọi là vấn đề Ông chủ - Người làm thuê
(
4
)
. Xung
đột lợi ích cũng có thể tồn tại ngay trong mỗi bộ phận quản trị, chẳng hạn giữa
các cổ đông (đa số và thiểu số, kiểm soát và không kiểm soát, cá nhân và tổ
chức) và các thành viên Hội đồng quản trị (điều hành và không điều hành, bên
trong và bên ngoài, độc lập và phụ thuộc). Các công ty cần phải xem xét và
đảm bảo sự cân bằng giữa những lợi ích xung đột này.
• Tất các cả bên đều liên quan đến việc định hướng và kiểm soát công ty: Đại
hội đồng cổ đông, đại diện cho các cổ đông, đưa ra các quyết định quan trọng,
ví dụ về việc phân chia lãi lỗ. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm chỉ đạo và
giám sát chung, đề ra chiến lược và giám sát Ban giám đốc. Cuối cùng, Ban
giám đốc điều hành những hoạt động hàng ngày, chẳng hạn như thực hiện
chiến lược đã đề ra, lên các kế hoạch kinh doanh, quản trị nhân sự, xây dựng
chiến lược marketing, bán hàng và quản lý tài sản.
4
()
. Vấn đề Ông chủ - Người làm thuê được từ điển Kinh tế học Oxford định nghĩa như sau: “Vấn đề liên quan tới
cách mà một cá nhân A khuyến khích một cá nhân B hành động vì lợi ích của cá nhân A chứ không phải vì lợi ích

Quản lý công ty tập trung vào các công cụ cần thiết để điều hành doanh nghiệp. Quản trị
công ty được đặt ở một tầm cao hơn nhằm đảm bảo rằng công ty sẽ được quản lý theo
một cách sao cho nó phục vụ lợi ích của các cổ đông có hiệu quả. Có một mảng chung
giữa hai lĩnh vực này là mảng chiến lược, một vấn đề được xem xét ở cả cấp độ Quản trị
công ty lẫn cấp độ quản lý công ty.
5
()
. 18. Ngân hàng thế giới, Quản trị công ty: Khuôn khổ thực hiện, (Coporate Governance: A Framework for
Implementation, the World Bank).
13
• Phân biệt Quản trị công ty với Quản trị kinh doanh
Giữa Quản trị công ty (Corporate governance) và Quản trị kinh doanh (business
management) có sự khác nhau rất cơ bản: Quản trị kinh doanh là điều hành hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp do Ban giám đốc thực hiện. Quản trị công ty là một
quá trình giám sát và kiểm soát được thực hiện để đảm bảo cho việc thực thi quản trị kinh
doanh phù hợp với lợi ích của các cổ đông. Quản trị công ty nghĩa rộng còn hướng đến
đảm bảo quyền lợi của những người liên quan, không chỉ là các cổ đông mà còn bao gồm
cả các nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, môi trường và các cơ quan nhà nước.
Quản trị công ty được đặt trên sự tách biệt giữa quản lý và sở hữu doanh nghiệp.
Công ty là của chủ sở hữu (nhà đầu tư, cổ đông…), nhưng để công ty tồn tại và phát triển
phải có sự dẫn dắt của Hội đồng quản trị, sự điều hành của Ban giám đốc và sự đóng góp
của người lao động, những người này không phải lúc nào cũng có chung ý chí và quyền
lợi. Điều này dẫn đến cần phải có một cơ chế để nhà đầu tư, cổ đông có thể kiểm soát
việc điều hành công ty nhằm đem lại hiệu quả cao nhất.
Quản trị công ty tập trung xử lý các vấn đề thường phát sinh trong mối quan hệ ủy
quyền trong công ty, ngăn ngừa và hạn chế những người quản lý lạm dụng quyền và
nhiệm vụ được giao sử dụng tài sản và cơ hội kinh doanh của công ty phục vụ cho lợi ích
riêng của bản thân hoặc của người khác, hoặc làm thất thoát nguồn lực do công ty kiểm
soát.
Tóm lại, Quản trị công ty là mô hình cân bằng và kiềm chế quyền lực giữa các bên

công ty tích cực thực hiện các biện pháp Quản trị công ty lành mạnh cần phải có một đội
ngũ nhân viên chủ chốt nhiệt tình và có năng lực để xây dựng và thực thi các chính sách
Quản trị công ty hiệu quả. Những công ty này thường đánh giá cao công sức của những
nhân viên đó và bù đắp xứng đáng cho họ, trái với nhiều công ty khác thường không
6
()
15. OECD, OECD Principles of Corporate Governance, 1999.
7
()
16. Charles Oman, Steven Frles and Willem Bulter, Corporate Governance in Developing, Transition and
Emerging – Market Economics, OECD Policy Brief No.23.
15
nhận thức rõ hoặc phớt lờ lợi ích của các chính sách và những biện pháp Quản trị công ty.
Các công ty thực hiện những biện pháp Quản trị công ty hiệu quả như vậy thường hấp
dẫn hơn trong mắt của các nhà đầu tư, những người sẵn sàng cung cấp vốn cho công ty
với chi phí thấp hơn.
Nói chung, những công ty thực hiện tốt việc Quản trị công ty sẽ đóng góp nhiều
hơn cho nền kinh tế quốc dân và cho xã hội. Những công ty này thường là những công ty
vững mạnh có thể tạo ra của cải vật chất và các giá trị khác cho các cổ đông, người lao
động, cộng đồng và quốc gia; trái lại, những công ty có hệ thống Quản trị công ty yếu
kém sẽ dẫn đến việc người lao động bị mất công ăn việc làm, mất tiền trợ cấp và thậm chí
còn làm giảm niềm tin trên thị trường chứng khoán.
• Thứ nhất, thúc đẩy hoạt động và nâng cao hiệu quả kinh doanh
Quản trị công ty hiệu quả có thể cải thiện nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
của công ty dưới nhiều góc độ.
Việc cải tiến cách thức Quản trị công ty sẽ mang lại một hệ thống giải trình tốt,
giảm thiểu rủi ro liên quan đến các nghiệp vụ gian lận hoặc các giao dịch nhằm mục đích
vụ lợi của các cán bộ quản lý. Tinh thần trách nhiệm cao kết hợp với việc quản trị rủi ro
và kiểm soát nội bộ hiệu quả có thể sẽ giúp cho công ty phát hiện sớm các vấn đề trước
khi chúng phát sinh và dẫn đến một cuộc khủng hoảng. Quản trị công ty tốt sẽ giúp cải

• Thứ hai, nâng cao khả năng tiếp cận thị trường vốn
Các cách thức Quản trị công ty có thể quyết định việc công ty dễ dàng tiếp cận các
nguồn vốn nhiều hay ít. Những công ty được quản trị tốt thường gây được cảm tình với
các cổ đông và các nhà đầu tư, tạo dựng được niềm tin lớn hơn của công chúng vào việc
công ty có khả năng sinh lời mà không xâm phạm đến quyền lợi của các cổ đông.
Việc Quản trị công ty một cách hiệu quả phải dựa trên những nguyên tắc về sự
minh bạch, dễ tiếp cận, kịp thời, đầy đủ, và chính xác của thông tin ở mọi cấp độ. Với
việc nâng cao tính minh bạch trong công ty, các nhà đầu tư sẽ được hưởng lợi khi họ có
cơ hội được cung cấp thông tin về hoạt động kinh doanh và các số liệu tài chính của công
ty. Thậm chí dù những thông tin được công bố mang tính tiêu cực đi chăng nữa thì càng
cổ đông cũng sẽ được hưởng lợi do họ có cơ hội để giảm thiểu rủi ro.
8
()
17. Paul A.Gompers, Joy L.Ishii và Andrew Metrick, Quản trị công ty và Chi phí vốn chủ sở hữu, Tài liệu nghiên
cứu số w8449 của NBER, Tháng 8 năm 2001
17
Một xu thế mới gần đây mà ta có thể quan sát thấy ở các nhà đầu tư là họ đã xem
các biện pháp Quản trị công ty như là một tiêu chí quan trọng trong việc đưa ra quyết
định đầu tư. Cơ cấu và các cách thức Quản trị công ty sẽ được sử dụng để phục vụ cho lợi
ích của các cổ đông chứ không phải là phục vụ lợi ích riêng của các cán bộ quản lý. Hình
sau minh họa về các cách thức Quản trị công ty có thể đóng vai trò đặc biệt quan trọng
tại các thị trường mới nổi, nơi mà quyền lợi của các cổ đông không phải lúc nào cũng
được bảo vệ như ở các thị trường đã phát triển.
Cuối cùng, một loạt những yêu cầu mới đối với các công ty niêm yết trên rất nhiều
thị trường chứng khoán ở mọi nơi trên thế giới đòi hỏi các công ty phải tuân thủ những
tiêu chuẩn quản trị ngày càng nghiêm ngặt hơn. Những công ty muốn tiếp cận các thị
trường vốn cả trong nước và quốc tế thì cần phải tuân thủ những tiêu chuẩn cao về Quản
trị công ty và phải theo yêu cầu cụ thể của thị trường.
• Thứ ba, giảm chi phí vốn và tăng giá trị tài sản
Những công ty cam kết áp dụng những tiêu chuẩn cao trong Quản trị công ty

Trong môi trường kinh doanh ngày nay, uy tín là một phần quan trọng làm nên giá
trị thương hiệu của một công ty. Uy tín và hình ảnh của một công ty là tài sản vô hình
không thể tách rời của công ty. Những biện pháp quản trị công ty hiệu quả sẽ góp phần
làm nên và nâng cao uy tín của công ty. Như vậy, những công ty tôn trọng quyền lợi của
cổ đông và các chủ nợ và đảm bảo tính minh bạch về tài chính sẽ được xem như là một
người phục vụ nhiệt thành cho các lợi ích của công chúng đầu tư. Kết quả là những công
ty đó dành được niềm tin lớn hơn của công chúng và từ đó nâng cao được giá trị thương
hiệu.
Niềm tin của công chúng và giá trị thương hiệu có thể khiến người ta tin tưởng
hơn vào các sản phẩm của công ty, và điều này sẽ dẫn đến việc nâng cao doanh số, từ đó
dẫn đến việc gia tăng lợi nhuận. Hình ảnh tích cực và uy tín của một công ty đóng vai trò
quan trọng trong việc định giá công ty. Giá trị thương hiệu dưới góc độ kế toán là khoản
tiền phải trả thêm bên cạnh giá trị tài sản thực tế của công ty nếu công ty bị thâu tóm. Đó
9
()
. 18. Leora F.Klapper, Inessa Love, Quản trị công ty, Bảo vệ công chúng đầu tư và Hiệu quả hoạt động tại các thị
trường mới nổi, Tài liệu nghiên cứu chính sách của Ngân hàng thế giới. Tháng 4 năm 2002.
19
chính là một khoản chi phí phụ trội mà một công ty này phải trả khi muốn mua một công
ty khác.
1.1.4. Các mô hình quản trị công ty cổ phần
Luật công ty hiện đại của các dòng họ luật trên thế giới đều phân chia quyền lực
trong công ty cổ phần, tức là thẩm quyền quyết định các vấn đề liên quan đến công ty,
giữa các cổ đông (shareholders) và người quản lý công ty (managers hay directors).
Những lý thuyết quan trọng về sự phân chia quyền lực trong công ty hiện đại đã xuất hiện
Các học giả về luật công ty hiện đại quan tâm đến sự phân tách giữa sở hữu và quản trị,
đặc biệt trong các công ty cổ phần có nhiều cổ đông, nhất là các công ty niêm yết, nơi mà
các cổ đông chỉ quan tâm đến giá trị cổ phiếu trên thị trường, cùng với một quyền rất
quan trọng là lựa chọn các nhà quản trị mang lại giá trị cao nhất có thể cho cổ phần của
họ. Cũng từ đó, các lý thuyết về đại diện đã xuất hiện để lý giải mối quan hệ giữa các cổ

của Hội đồng giám đốc, trừ những vấn đề mà pháp luật hoặc điều lệ công ty quy định
phải thuộc về Đại hội đồng cổ đông. Luật công ty của các nước thuộc dòng họ Anglo-
American thường có một quy định rất quan trọng rằng: công việc kinh doanh của công ty
được quản lý bởi, hay dưới sự chỉ đạo của hội đồng giám đốc (hay các giám đốc). Sự
phân chia quyền lực này khác với việc phân chia quyền lực giữa các cơ quan của bộ máy
quản trị công ty cổ phần vẫn thường thấy trong luật công ty của các nước châu Âu lục
địa, Trung Quốc và Việt Nam. Cũng vì thế, Hội đồng giám đốc của các công ty theo mô
hình Anh – Mỹ có rất nhiều quyền lực, hơn rất nhiều so với những người đồng nghiệp
của họ trong hội đồng quản trị công ty của các nước châu Âu lục địa, Trung Quốc và Việt
Nam. Thậm chí, ở một số nước, Hội đồng giám đốc có một quyền có lẽ sẽ làm ngạc nhiên
các cổ đông Việt Nam và nhiều nước khác, đó là việc Hội đồng giám đốc - những người
làm thuê - lại quyết định việc chia cổ tức cho các cổ đông – những ông bà chủ.
Hội đồng giám đốc bổ nhiệm các thành viên của mình hoặc người khác đảm
nhiệm các công việc điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Người đứng
10
()
. 19. Xem thêm, Yuwa Wei, Comparative Corporate Governance: A Chinese Perspective, 2003, tr. 136
21
đầu của bộ phận điều hành là Tổng giám đốc (chief executive officer) hay managing
director. Pháp luật công ty của các nước Anh – Mỹ không có qui định về nhiệm vụ, quyền
hạn của Tổng giám đốc (statutory power) như trong pháp luật công ty Việt Nam hay
Trung Quốc. Quyền lực của Tổng giám đốc sẽ do Hội đồng giám đốc quyết định trên cơ
sở ủy nhiệm, vì thế, không phải các TGĐ đều có quyền lực như nhau. Khác với mô hình
Tổng giám đốc theo luật Anh - Mỹ, trong mô hình quản trị công ty cổ phần theo luật Việt
Nam và Luật Công ty 2005 của Trung Quốc thì Tổng giám đốc công ty cổ phần xuất hiện
như một cơ quan trong bộ máy quản trị, với các quyền và nghĩa vụ do luật định mà các cổ
đông hay Hội đồng quản trị chỉ có thể trao thêm chứ không được lấy bớt đi. Tuy nhiên,
trên thực tế, Tổng giám đốc trong mô hình quản trị của Hoa Kỳ được coi là mô hình Tổng
giám đốc mạnh, nhất là khi Chủ tịch Hội đồng giám đốc kiêm nhiệm luôn chức vụ Tổng
giám đốc, hoặc Hội đồng giám đốc ủy quyền mạnh cho Tổng giám đốc. Nếu như Chủ

hội đồng kép với sự tham gia của người lao động trong các công ty cổ phần đã từng được
cho là trái tim của nền dân chủ công nghiệp Đức. Nó cũng phản ánh những ý niệm mang
tính lý thuyết khác nhau về công ty giữa người Đức, một trường phái điển hình của dòng
họ luật châu Âu lục địa, và Anh – Mỹ của dòng họ luật án lệ.
Sự tham gia của người lao động vào cấu trúc quản trị công ty cổ phần theo luật
Đức thể hiện ý niệm về mô hình quản trị công ty hướng về những người có quyền lợi liên
quan, khác với mô hình quản trị kiểu Anh-Mỹ nhằm hướng tới cổ đông. Nếu mô hình
quản trị công ty Anh–Mỹ tập trung vào bảo vệ nhà đầu tư, chủ yếu là cổ đông; thì cấu
trúc quản trị của người Đức và châu Âu, và cả Nhật Bản thường hướng vào việc bảo vệ
cả người lao động và chủ nợ. Ở Đức, người lao động có thể được tham gia trực tiếp vào
công việc quản trị công ty cổ phần; và người làm thuê ở Nhật cũng luôn được quan tâm
trong thực tiễn quản trị với chế độ lao động suốt đời và có nhiều nhà quản trị là những
ngườilao động lâu năm trong công ty.
Cho đến hiện nay, chỉ có ba nước châu Âu lựa chọn mô hình của người Đức là Áo,
Thụy Sĩ và Hà Lan. Một vài láng giềng của người Đức cũng đã tiếp nhận ở mức độ nhất
định về đại diện người lao động tham gia vào cấu trúc quản trị công ty cổ phần như Đan
23
Mạch, Luxembourg và Thụy Điển. Gần đây, Tòa án Châu Âu đã cho phép các công ty
đăng ký tại một nước thành viên EU có quyền tiến hành các hoạt động kinh doanh tại các
thành viên khác, mà nó vẫn được quản trị theo mô hình của luật công ty ở nước đăng ký
thành lập.
Cấu trúc hội đồng kép theo luật công ty Đức có hai đặc điểm quan trọng nhất: (i)
cấu trúc quản trị - điều hành có hai hội đồng theo thứ bậc, và (ii) có thể có sự tham gia
nhất định của đại diện người lao động vào hội đồng phía trên.
Cấu trúc quản trị nội bộ của công ty cổ phần theo luật Đức gồm có: (i) Đại hội
đồng cổ đông, (ii) Hội đồng giám sát và (iii) Hội đồng quản trị. Theo luật Đức, việc quản
lý – điều hành công ty cổ phần được phân chia cho hai cơ quan là: Hội đồng giám sát và
Hội đồng quản trị, như một thiết chế hai tầng, mà ở đó, Hội đồng giám sát nằm ở tầng
trên. Vì thế, giới luật học trên thế giới gọi đây là cấu trúc hội đồng kép hay hội đồng hai
tầng.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của Ban kiểm soát, trong đó có hai
nguyên nhân chủ yếu, đó là:
• Thứ nhất, sự phức tạp trong quản lý công ty và quan hệ giữa các cổ đông
Thực tế cho thấy, trong công ty cổ phần thì phức tạp trong quá trình quản lý, đan
xen giữa lợi ích của các cổ đông – người chủ sở hữu thực sự và người điều hành các hoạt
động hàng ngày của công ty, vì trên thực tế mô hình các công ty lớn thì chủ sở hữu là các
cổ đông và người quản lý công ty nhiều khi khác nhau về lợi ích, nhiều công ty có thể
thuê Giám đốc điều hành và trả lương theo một mức nhất định. Còn về phía cổ đông do
có nhiều thành phần cổ đông cũng như số lượng các cổ đông của công ty cổ phần, có
những công ty cổ phần có hàng trăm cổ đông với các thành phần khác nhau như tri thức,
người buôn bán, người lao động…
• Thứ hai, sự tách bạch giữa chủ sở hữu và người điều hành trực tiếp công
ty cổ phần
Sự tách bạch này để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các cổ đông, cơ quan thực
hiện là Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc nhiều lúc không vì lợi ích của các cổ đông nên
25

Trích đoạn Ban kiểm soát chưa thực sự phát huy được vai trò của mình Hoạt động của Ban kiểm soát thiếu tính chuyên nghiệp Giải pháp pháp lý Những giải pháp bổ trợ khác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status