BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHAN NỮ HIỀN OANH
KIỂM SOÁT GIAO DỊCH CÓ NGUY CƠ PHÁT SINH
TƢ LỢI TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐỒNG NGỌC BA
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong Luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT GIAO DỊCH
CÓ NGUY CƠ PHÁT SINH TƢ LỢI TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN .... 4
1.1. Khái niệm giao dịch có nguy cơ phát sinh tƣ lợi trong CTCP ......... 4
1.2. Yêu cầu kiểm soát bằng pháp luật đối với giao dịch có nguy cơ phát
sinh tƣ lợi trong CTCP ................................................................................ 7
1.2.1. Giao dịch tư lợi xâm phạm đến lợi ích của CTCP ........................... 8
1.2.2. Giao dịch tư lợi xâm phạm đến lợi ích chính đáng của các cổ đông
công ty ......................................................................................................... 9
1.2.3. Giao dịch tư lợi xâm phạm đến lợi ích chính đáng của các chủ nợ . 9
1.2.4. Giao dịch tư lợi tác động xấu về mặt kinh tế, xã hội ........................ 9
1.3. Nội dung pháp luật về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh
tƣ lợi trong CTCP ...................................................................................... 11
1.3.1. Các phương thức kiểm soát bằng pháp luật các giao dịch có nguy
cơ phát sinh tư lợi trong CTCP ................................................................ 11
1.3.2. Kiểm soát giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong CTCP theo
pháp luật một số nước............................................................................... 13
1.3.4. Lược sử hình thành và phát triển các quy định pháp luật về kiểm
soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong CTCP ở Việt Nam . 15
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ KIỂM SOÁT
GIAO DỊCH CÓ NGUY CƠ PHÁT SINH TƢ LỢI TRONG CÔNG TY
CỔ PHẦN....................................................................................................... 18
3.1.3. Sửa đổi quy định về thẩm quyền của ĐHĐCĐ và HĐQT trong việc
kiểm soát các giao dịch về tài sản có giá trị lớn ...................................... 57
3.1.4. Sửa đổi, bổ sung Điều 120 LDN 2005 ............................................ 57
3.1.5. Bổ sung quy định về chế tài xử lý hành vi vi phạm quy trình xác lập
giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong CTCP ................................... 60
3.1.6. Về điều kiện trở thành GĐ/TGĐ hoặc thành viên BKS CTCP ....... 61
3.1.7. Hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền của cổ đông CTCP .. 62
3.1.8. Sửa đổi, bổ sung các quy định về công khai và minh bạch hóa thông
tin trong nội bộ doanh nghiệp................................................................... 63
3.1.9. Hoàn thiện các quy định về quản trị công ty .................................. 63
3.2. Giải pháp đảm bảo hiệu quả thực thi pháp luật về kiểm soát giao
dịch có nguy cơ phát sinh tƣ lợi trong CTCP.......................................... 64
3.2.1. Nâng cao ý thức pháp luật và khả năng quản trị nội bộ của CTCP .. 65
3.2.2. Nâng cao vai trò của các thiết chế thực thi pháp luật về kiểm soát
giao dịch tư lợi trong CTCP ..................................................................... 66
KẾT LUẬN .................................................................................................... 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sự tồn tại của các giao dịch tư lợi trong các loại hình doanh nghiệp nói chung,
trong công ty cổ phần (CTCP) nói riêng được xem là hiện tượng tất yếu khách quan
ở mọi nền kinh tế. CTCP là loại hình doanh nghiệp mang tính xã hội cao nên các
giao dịch tư lợi trong CTCP không những tác động xấu đến lợi ích của công ty, cổ
đông của công ty mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của chủ nợ và tác động xấu đến môi
trường kinh doanh lành mạnh. Phù hợp với thực tiễn đó, Luật Doanh nghiệp 1999
(LDN 1999) lần đầu tiên xác lập cơ chế kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát
quy định LDN 2005 có: Luận văn thạc sỹ luật học của Ngô Thị Bích Phương:
“Kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi theo quy định của LDN 2005”
(Trường Đại học Luật Hà Nội, 2007); bài viết của Th.S Trần Thị Bảo Ánh trên tạp
chí Luật học số 9/2010: “Kiểm soát giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi theo LDN
2005”; bài viết của luật sư Lê Minh Toàn: “Nhiều vi phạm quy định giao dịch tư lợi”...
Mỗi bài viết là một sự khai thác, nhìn nhận vấn đề dưới các góc độ khác nhau.
Trong phạm vi luận văn này, trên cơ sở tiếp nhận và kế thừa các bài viết, các công
trình nghiên cứu của các tác giả trên để từ đó mong muốn đóng góp một cách nhìn
riêng về vấn đề kiểm soát các giao dịch tư lợi trong CTCP.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề
kiểm soát giao dịch tư lợi trong CTCP trên cơ sở pháp luật thực định là Luật thương
mại 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành, trong đó có sự đối chiếu với các quy
định trong Dự thảo LDN sửa đổi (Dự thảo lần 4 trình UBTVQH tại phiên họp thứ
27 ngày 21/4/2014).
4. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là tìm những giải pháp nhằm hoàn thiện các
quy định pháp luật hiện hành về kiểm soát giao dịch tư lợi trong CTCP và nâng cao hiệu
quả thực thi các quy định pháp luật đó trên thực tế.
3
Để đạt được mục đích đó, Luận văn đề ra những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận về kiểm soát giao dịch có nguy cơ phát sinh
tư lợi trong CTCP như: Khái niệm, yêu cầu phải kiểm soát bằng pháp luật đối với
các giao dịch đó, nội dung pháp luật về kiểm soát giao dịch tư lợi trong CTCP.
- Tìm hiểu thực trạng pháp luật hiện hành về giao dịch tư lợi trong CTCP: Giải
thích, đồng thời bình luận, đánh giá về các quy định pháp luật đó cũng như thực tiễn
thi hành các quy định đó.
Trước hết, “CTCP là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, vốn của công ty
được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, người sở hữu cổ phần gọi là
cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ
phẩn mà họ sở hữu” [7, tr.56]. Bản chất là một công ty đối vốn điển hình, pháp luật
các quốc gia đều không quy định số lượng thành viên tối đa của các CTCP. Hơn
nữa, các cổ đông trong CTCP được quyền tự do chuyển nhượng cổ phần mà họ sở
hữu (trừ một số hạn chế như hạn chế chuyển nhượng cổ phần đối với các cổ đông
sáng lập và hạn chế chuyển nhượng đối với cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu
quyết…). Ngoài ra, một trong những đặc trưng của CTCP là có số lượng thành viên
rất đông, và các thành viên thường không quen biết nhau. Điều này gây khó khăn
trong việc quản lý và điều hành công ty. Trong CTCP, đặc biệt là những CTCP lớn,
có số lượng thành viên đông, rất dễ xảy ra hiện tượng phân nhóm lợi ích. Đặc điểm
này cũng khiến cho việc kiểm soát các giao dịch tư lợi trong CTCP gặp rất nhiều
khó khăn. Vì vậy, một cơ chế kiểm soát chặt chẽ bằng pháp luật đối với các giao
dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong CTCP là điều cần thiết đối với pháp luật các
quốc gia.
CTCP được hình thành thông qua việc bỏ vốn đầu tư của các cổ đông để cùng
nhau tiến hành hoạt động kinh doanh chung, và khi đó các cổ đông trở thành chủ sở
hữu của công ty tương ứng với số cổ phần mà họ sở hữu trong công ty. Để tồn tại và
5
phát triển, CTCP phải tham gia các giao dịch với các chủ thể khác nhau trong xã
hội, đó có thể là các giao dịch trong lĩnh vực kinh tế, cũng có thể là các giao dịch
trong các lĩnh vực dân sự, lao động… Nhưng vốn là một pháp nhân (là một hư cấu
pháp lý, hay là người được pháp luật tạo ra) , công ty không thể tự thiết lập các giao
dịch mà phải thiết lập thông qua người đại diện – những người được trao quyền
quản lý, điều hành hoạt động của công ty. Mô hình quản lý CTCP của các quốc gia
trên thế giới đều thường bao gồm Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), Hội đồng quản
ích của công ty, lợi ích của cá nhân họ được đặt cao hơn lợi ích của công ty, ý chí
thực của công ty bị thay thế bởi ý chí riêng của người/nhóm người đại diện. Người
đại diện không thể hiện đúng ý chí của công ty mà sẽ dùng quyền năng của mình
làm méo mó đi giao dịch đích thực, biến ý chí của mình thành ý chí của công ty để
tìm kiếm lợi nhuận cho bản thân, gây thiệt hại cho CTCP. Nếu giao dịch được xác
lập trong trường hợp thứ hai, đó là những giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi
trong CTCP.
Dạng tiêu cực này càng dễ xảy ra khi tiến hành các giao dịch có sự xung đột
về lợi ích, một người vừa có quyền lợi ở bên này vừa có liên quan với bên kia, như
giao dịch giữa CTCP và người quản lý CTCP hoặc giữa người quản lý CTCP với
công ty mà người quản lý CTCP đó có phần vốn góp hay cổ phần chi phối, hay giao
dịch giữa CTCP mẹ với công ty con… Khi tham gia vào những giao dịch như thế,
những người trực tiếp quyết định hoạt động của công ty hoặc những người có ảnh
hưởng trực tiếp đến việc ra quyết định đều có thể trực tiếp hay gián tiếp thu lợi cá
nhân bằng cách san sẻ bớt lợi ích của CTCP mà mình đang đại diện cho công ty hay
chủ thể khác mà mình có mối quan hệ hay lợi ích liên quan.
Sự sản sẻ lợi ích của CTCP để thu lợi cá nhân có thể thực hiện thông qua
nhiều phương cách như gửi giá vào hợp đồng mua bán hàng hóa, vật tư cho công ty
với mức giá cao hơn thị trường, hoặc bán hàng của công ty với mức giá thấp hơn
giá thị trường… Giao dịch tư lợi cũng có thể xảy ra trên tất cả các lĩnh vực như dân
sự, lao động, kinh tế… đơn giản như việc GĐ công ty ký kết hợp đồng lao động với
người thân của mình (cha, mẹ, vợ, con, anh, chị, em ruột…) với mức lương cao hơn
hẳn mức lương mà người khác có thể nhận được ở một vị trí và công việc tương
đương, với trình độ tương đương cũng là một dạng giao dịch tư lợi.
Như vậy, giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong CTCP là những giao
dịch có nhiều khả năng sẽ gây thiệt hại về tài sản cho CTCP do người đại diện của
7
8
Như vậy, hai chủ thể chủ yếu thực hiện việc kiểm soát các giao dịch có nguy cơ
phát sinh tư lợi trong CTCP chính là Nhà nước và bản thân các CTCP tham gia vào
các giao dịch đó. Trước hết, cần coi trọng cơ chế giám sát nội bộ, tức là giám sát của
các thành viên và của các cơ quan bên trong công ty. Cơ chế này thường đem lại hiệu
quả rất cao, vì người giám sát là người trong cuộc, họ có khả năng nắm bắt đầy đủ
thông tin của công ty, bên cạnh đó họ có điều kiện giám sát một cách trực tiếp,
thường xuyên và quan trọng hơn là họ thực hiện sự giám sát để bảo vệ lợi ích của
chính mình. Bên cạnh cơ chế giám sát nội bộ của bản thân công ty thì Nhà nước có
thể giám sát, kiểm soát đối với các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi cao để thực
hiện vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh tế thông qua nhiều công cụ khác
nhau như thông qua chính sách, pháp luật, các công cụ quản lý nhà nước về kinh tế
khác… Trong đó, pháp luật là một trong những công cụ quản lý kinh tế quan trọng
hàng đầu mà tất cả các quốc gia đều phải sử dụng. Trong phạm vi bài viết này, người
viết chỉ đề cập chủ yếu đến việc kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi
trong CTCP bằng pháp luật mà không đề cập đến các công cụ quản lý nhà nước về
kinh tế khác cũng như việc kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong
CTCP của bản thân công ty đó.
Sở dĩ Nhà nước cần phải kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi
trong công ty nói chung, trong CTCP nói riêng bằng pháp luật là do xuất phát từ
những ảnh hưởng tiêu cực của giao dịch tư lợi trong công ty đến lợi ích của công ty,
đến cổ đông của công ty, đến chủ nợ, và sâu xa hơn, nó còn gây ra những tác động
xấu về mặt kinh tế - xã hội. Cụ thể:
1.2.1. Giao dịch tư lợi xâm phạm đến lợi ích của CTCP
Bản chất của giao dịch tư lợi trong CTCP là việc chuyển dịch ngầm lợi ích của
công ty cho các cá nhân. Do vậy, công ty là đối tượng bị ảnh hưởng trực diện và sự
xâm phạm đến lợi ích công ty thể hiện rõ nhất bản chất tiêu cực của các giao dịch
loại này. Giao dịch tư lợi xâm phạm đến lợi ích của công ty trên nhiều mặt, cả tài
kém, sẽ tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi cho các giao dịch tư lợi phát
triển. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của công ty, của các chủ sở hữu
công ty (cổ đông), mà còn ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh chung của đất nước.
10
Xét tình trạng các CTCP có vốn Nhà nước của ta hiện nay đang là nơi có môi
trường và điều kiện thuận lợi để cho các giao dịch tư lợi xảy ra. Cũng chính tại đây
mới thấy được sự ảnh hưởng nghiêm trọng của các giao dịch tư lợi đến nền kinh tế
của đất nước. Doanh nghiệp có vốn của Nhà nước được coi là xương sống của nền
kinh tế, lập ra doanh nghiệp để làm giàu cho đất nước nhưng nhiều doanh nghiệp lại
làm cho ngân sách khánh kiệt mà đa số các trường hợp tài sản của công ty bị rút
ruột bởi các giao dịch tư lợi của các chủ thể được Nhà nước trao quyền đại diện chủ
sở hữu để quản trị công ty.
Giao dịch tư lợi đi ngược lại với quy luật thị trường và giá cả vì khuyến khích
sự cạnh tranh trong hối lộ và những giao dịch ngầm, chứ không phải trong chất
lượng và giá cả của hàng hóa, trong sự năng động sáng tạo, dám nghĩ dám làm của
nhà kinh doanh. Điều đó tác động xấu đến văn hóa kinh doanh và dẫn đến tồn tại
một nền kinh tế phi thị trường.
Mặc dù giao dịch tư lợi gây ra những tác động xấu về mặt kinh tế - xã hội như
vậy nhưng sự tồn tại của các giao dịch tư lợi trong các công ty nói chung, trong
CTCP nói riêng là một hiện tượng tất yếu khách quan ở mọi nền kinh tế. Bởi trong
CTCP, xuất phát từ đặc điểm số lượng cổ đông thường rất đông, đa số các cổ đông
đều không thể tự mình thực hiện quyền quản lý công ty mà phải thông qua cơ chế
đại diện. Những cá nhân này sẽ thay mặt các cổ đông để quản lý, điều hành công ty
trong khi chỉ sở hữu một phần, thậm chí không sở hữu vốn trong CTCP. Quyền sở
hữu đã tách rời nhất định với quyền quản lý doanh nghiệp. Vì vậy, việc kiểm soát
các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong CTCP là vấn đề luôn được đặt ra. Và
pháp luật, chính là một trong những công cụ hữu hiệu để Nhà nước kiểm soát các
hiệu quả lại không làm hạn chế quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, động
viên các nguồn lực trong xã hội lại không phải là vấn đề đơn giản. Trong hệ thống
pháp luật về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong CTCP thì luật
về công ty giữ vai trò chủ đạo. Qua thực tiễn pháp luật về công ty của các nước cho
thấy có các phương thức để kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi
trong CTCP như sau:
Thứ nhất: Pháp luật cấm những người quản lý CTCP và những người có liên
quan của họ thiết lập giao dịch với CTCP và cấm công ty giao dịch với công ty khác
12
mà ở đó người quản lý công ty, thành viên hoặc cổ đông có lợi ích trực tiếp hoặc
gián tiếp.
Giải pháp này có thể loại trừ hoàn toàn khả năng phát sinh các hành vi trục lợi,
nhưng nó cũng có nhược điểm là hạn chế quyền tài sản của cổ đông là người quản
lý công ty. Công ty một mặt được đảm bảo an toàn về tài sản, nhưng mặt khác lại
mất đi một sự lựa chọn nhiều khi rất phù hợp với mục tiêu và điều kiện kinh doanh
của công ty. Do đó, sự cấm đoán này xem ra lại trở thành rào cản, hạn chế quyền tự
do kinh doanh của công ty. Trên thực tế, không phải lúc nào các giao dịch giữa
công ty và người quản lý hay những người có liên quan của họ đều có mục đích tư
lợi. Hơn nữa, cấm đoán chưa hẳn đã là giải pháp tốt, khi càng cấm đoán thì hành vi
trục lợi càng diễn ra một cách tinh vi và Nhà nước càng khó kiểm soát, khi đó hậu
quả sẽ còn tệ hại hơn. Thậm chí, công bằng mà nói, cấm các giao dịch với các bên
có liên quan cũng không thể có hiệu lực [2,tr.326].
Thứ hai: Pháp luật cho phép các chủ thể tiến hành các giao dịch đó nếu hợp
đồng thành lập hoặc Điều lệ công ty không cấm, tuy nhiên nó phải được giám sát
một cách chặt chẽ.
Giải pháp này vừa loại trừ được yếu tố trục lợi vừa không ngăn cản những
giao dịch giữa công ty với người quản lý và những người có liên quan của họ khi
quan đến vay mượn, ký khống, bảo lãnh… đều bị nghiêm cấm, trừ khi người quản
lý hay hội viên này có tư cách pháp nhân (Điều 1316) [8,tr.56]. Pháp luật của Pháp
cũng yêu cầu các quan chức cao cấp, các nghị sĩ, chuyên viên quản lý của các
CTCP có vốn Nhà nước (Chủ tịch HĐQT, thành viên HĐQT, TGĐ, GĐ) khi mới
nhậm chức và khi hết nhiệm kỳ, phải công khai cho công chúng và khai báo với các
đơn vị hữu quan tình trạng tài sản của mình [5,tr.13].
Hay New Zealand được xếp là nước mà nhà đầu tư được bảo vệ nhiều nhất
trước các hành vi thông đồng, xếp thứ hai là Singapore. Pháp luật của các quốc gia
này đã quy định rõ việc công bố thông tin về các giao dịch và sự xung đột lợi ích. Ở
những nước này, GĐ công ty phải có trách nhiệm với các cổ đông và không được
14
thực hiện những giao dịch có điều khoản không công bằng nguồn nào?. Cổ đông có
quyền kiện GĐ công ty nếu họ không được cung cấp tất cả các tài liệu phù hợp. Tây
Ban Nha quy định GĐ phải đặt lợi ích của công ty lên bất kỳ lợi ích cá nhân nào có
thể có được từ hoạt động của công ty. Họ còn yêu cầu các công ty niêm yết phải báo
cáo về bất kỳ giao dịch nào và việc chấp hành các hướng dẫn mới về quản trị công
ty [5,tr.13].
Luật Công ty của Thụy Điển quy định: Hội đồng GĐ và các đại diện khác của
công ty không được phép tiến hành các giao dịch pháp lý hoặc các biện pháp khác
có thể tạo ra lợi thế không chính đáng cho một cổ đông hoặc cổ đông khác (tiết 13,
chương 8) [8,tr. 56].
Chính phủ Trung Quốc thì lại xây dựng cơ chế ngăn ngừa nạn tham nhũng
trong những giao dịch thương mại như cấm các cán bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền
các cấp: Không cho phép lập xí nghiệp, buôn bán kinh doanh; không cho phép tạo
điều kiện ưu đãi để phục vụ vợ, chồng, con cái, bạn thân trong kinh doanh buôn
bán; không cho phép kiêm chức (kể cả chức vụ danh dự) trong các thực thể kinh tế.
Cá biệt nếu được phép kiêm chức không được nhận bất kỳ thù lao nào… Những
Nước ta mới chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang
nền kinh tế thị trường. Trước đây, chúng ta chỉ có các doanh nghiệp nhà nước, các
hợp đồng kinh tế được ký kết lúc đó mang tính chỉ tiêu pháp lệnh. Tính tự do trong
giao dịch kinh doanh rất hạn chế nên các hình thức giao dịch tư lợi cũng ít có điều
kiện xuất hiện. Các quy định của pháp luật thời kỳ này cũng vì thế mà gần như chưa
phải đề cập trực tiếp đến vấn đề giao dịch tư lợi.
Mặc dù giao dịch tư lợi có thể xuất hiện ở mọi nền kinh tế trong xã hội có giai
cấp, nhưng trong điều kiện của nền kinh tế thị trường nó càng có điều kiện thuận lợi
cho sự phát triển, gắn liền với sự tác động mạnh mẽ của quy luật về lợi ích. Do đó,
từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, các giao dịch tư lợi nói chung, các
giao dịch tư lợi trong CTCP trở thành một vấn đề nhức nhối của nền kinh tế non
kém của nước ta. Cũng vì thế pháp luật kinh tế nước ta đang dần hoàn thiện các quy
chế để kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong CTCP. Nhìn lại lịch
16
sử pháp luật công ty ở nước ta có thể thấy ngay sự phát triển của các quy định về
kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong CTCP như sau:
1.3.4.1. Những quy định của pháp luật về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ
phát sinh tư lợi trong CTCP theo Luật Công ty 1990
Luật Công ty 1990 (cùng với LDN tư nhân 1990) là công cụ pháp lý quan
trọng để mở ra nhiều loại hình, tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh hoạt động trên
thương trường. Tuy nhiên, vì các văn bản này ra đời trong giai đoạn đầu của thời kỳ
đổi mới, lúc mà nền kinh tế còn chịu ảnh hưởng một cách sâu sắc của nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung, bao cấp nên các văn bản này gần như chưa có sự quan tâm đến
việc ngăn ngừa các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi. Có thể nói các quy định về
phòng, chống giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong công ty gần như vắng
bóng trong các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý kinh tế trong thời kỳ này.
1.3.4.2. Những quy định của pháp luật về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ
nhau (doanh nghiệp có vốn của Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,
doanh nghiệp có vốn dân doanh) được điều chỉnh bởi các văn bản luật khác nhau
(LDN nhà nước 2003, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996 sửa đổi bổ sung
năm 2000, LDN 1999), nên các quy định về quản trị doanh nghiệp cho các loại hình
doanh nghiệp này chưa thống nhất và còn nhiều khác biệt bất hợp lý. LDN 2005 đã
tạo ra một khung pháp lý thống nhất để nâng cao hiệu quả của quản trị doanh
nghiệp, tạo hành lang pháp lý bình đẳng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp,
chống thất thoát tài chính doanh nghiệp. Đây là lần đầu tiên nước ta ban hành một
văn bản luật điều chỉnh thống nhất tất cả các loại hình doanh nghiệp. LDN 2005 tiếp
tục kế thừa và hoàn thiện các quy định của LDN 1999 về kiểm soát các giao dịch có
nguy cơ phát sinh tư lợi trong CTCP.
18
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ
KIỂM SOÁT GIAO DỊCH CÓ NGUY CƠ PHÁT SINH TƢ LỢI
TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
2.1. Các loại giao dịch có nguy cơ phát sinh tƣ lợi bị kiểm soát trong CTCP
Giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong CTCP là những giao dịch hàm
chứa trong đó những khả năng, những nguy cơ có thể xâm phạm lợi ích của công ty.
CTCP cũng là một chủ thể kinh doanh nên sự thể hiện rõ nhất, căn bản nhất của
công ty khi để xảy ra giao dịch tư lợi là sự mất mát lợi ích vật chất. Do đó, các giao
dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi là những giao dịch khi được xác lập hay thực hiện
sẽ có nguy cơ trước hết và căn bản nhất là gây thiệt hại về mặt tài sản cho công ty.
LDN 2005 đã căn cứ từ những yếu tố hình thành nên một giao dịch để xác định giao
dịch nào có nguy cơ phát sinh tư lợi trong CTCP, cụ thể bao gồm những căn cứ: Giá
trị giao dịch; Chủ thể tham gia giao dịch; Người đại diện tiến hành giao dịch.
phải kiểm soát. Quy định này là sự kế thừa quy định của LDN 1999.
2.1.2. Giao dịch của CTCP với những người có liên quan
Một trong những căn cứ mà LDN 2005 xác định giao dịch có nguy cơ phát
sinh tư lợi trong CTCP là yếu tố chủ thể. Cụ thể hơn, những giao dịch giữa CTCP
với một số chủ thể nhất định sẽ bị kiểm soát chặt chẽ hơn so với các giao dịch khác.
Khoản 1 Điều 120 LDN 2005 xác định đó là những giao dịch giữa CTCP với các
đối tượng sau: “(a) Cổ đông, người đại diện uỷ quyền của cổ đông sở hữu trên 35%
tổng số cổ phần phổ thông của công ty và những người có liên quan của họ; (b)
Thành viên HĐQT, GĐ hoặc TGĐ; (c) Doanh nghiệp quy định tại điểm a và điểm b
khoản 1 Điều 118 của Luật này và người có liên quan của thành viên HĐQT, GĐ
hoặc TGĐ”. Hiện tại, pháp LDN mới chỉ giải thích khái niệm “người có liên quan”
trong mối quan hệ với bản thân doanh nghiệp (khoản 17 Điều 4 LDN 2005) mà
chưa giải thích khái niệm “người có liên quan” trong mối quan hệ với “cổ đông,
người đại diện theo ủy quyền của cổ đông của công ty”, “thành viên HĐQT, GĐ
hoặc TGĐ” của công ty. Điều này gây nên những hạn chế nhất định trong việc hiểu
chính xác khoản 1 Điều 120, và cũng gây khó khăn nhất định cho việc áp dụng quy