MỤC LỤC
BÀI LÀM
TRANG
MỤC LỤC........................................................................................................................................................1
A. MỞ ĐẦU.....................................................................................................................................................2
B. NỘI DUNG..................................................................................................................................................2
I. Khái quát về công ty cổ phần và tổ chức, quản lý CTCP..........................................................................2
1. Khái niệm và đặc điểm của công ty cổ phần (CTCP).......................................................2
a.Khái niệm.............................................................................................................................2
C. KẾT LUẬN................................................................................................................................................16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................17
1
A. MỞ ĐẦU
Tổ chức và quản lý doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần (CTCP) nói riêng có
ảnh hưởng sâu sắc tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp (DN). Ở Việt Nam, vấn đề tổ
chức và quản lý CTCP đã được đề cập trong một số văn bản pháp luật từ khi đổi mới kinh tế
đến nay. Đặc biệt, Luật Doanh nghiệp (LDN) năm 2005 đã quy định khá chi tiết và đầy đủ
về tổ chức và quản lý CTCP. Và về cơ bản những quy định này đã khắc phục được những
hạn chế trong LDN năm 1999. Tuy nhiên, cũng còn một số vấn đề tồn tại cần khắc phục. Vì
vậy, tìm hiểu về “ tổ chức và quản lý Công ty Cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện
hành”, từ đó đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật
trong lĩnh vực này đóng một vai trò vô cùng quan trọng.
B. NỘI DUNG
I. Khái quát về công ty cổ phần và tổ chức, quản lý CTCP
của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty (tức là đến hết giá trị cổ phần mà họ
sở hữu).
- Trong quá trình hoạt động, CTCP có quyền phát hành chứng khoán(như cổ phiếu, trái
phiếu) ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán để huy động vốn.
- CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh.
Tóm lại, CTCP là loại hình doanh nghiệp có tính tổ chức cao, hoàn thiện về vốn, có khả
năng huy động về vốn lớn và sự dịch chuyển vốn linh hoạt giữa các nhà đầu tư, thích hợp
cho hoạt động kinh doanh trên quy mô lớn.
2.Khái quát về tổ chức quản lý Công ty Cổ phần
a.Khái niệm
Tổ chức quản lý CTCP bao hàm mối quan hệ giữa nhiều bên, không chỉ trong nội bộ
DN mà còn những bên có lợi ích liên quan bên ngoài DN như cơ quan quản lý Nhà nước,
các đối tác kinh doanh và cả môi trường, cộng đồng và xã hội. Tổ chức và quản lý CTCP có
nhiều định nghĩa do cách tiếp cận khác nhau cũng như do nó bao hàm nhiều hoạt động trong
lĩnh vực kinh doanh. Có thể tham khảo một số cách định nghĩa:
- “Tổ chức quản lý công ty là cách thức mà các nhà cung cấp nguồn vốn cho DN, nhà
đầu tư đảm bảo thu được lợi tức từ các khoản đầu tư của họ”1
- “ Tổ chức quản lý công ty là cách thức để điều khiển và kiểm soát DN. Cấu trúc quản
lý công ty chỉ ra cách thức phân phối quyền và trách nhiệm trong số những thành phần
khác nhau có liên quan tới DN như HĐQT, giám đốc, cổ đông và những chủ thể khác có
liên quan. Quản lý công ty cũng giải thích rõ quy tắc và thủ tục để ra các quyết định liên
quan tới vận hành DN. Bằng cách này, quản lý công ty cũng đưa ra cấu trúc thông qua đó
người ta thiết lập các mục tiêu công ty và cả phương tiện để đạt được mục tiêu hay giám sát
hiệu quả công việc”
- “ Tổ chức quản lý công ty nhằm tới mục tiêu thúc đẩy sự công bằng DN, tính minh
bạch và năng lực chịu trách nhiệm”
1
kinh tế, và CTCP thường là các DN có quy mô lớn, nguồn vốn dồi dào. Chính vì vậy, sự
tăng trưởng của chúng góp phần duy trì ổn định và phát triển cho cả nền kinh tế. Một hệ
thống quản lý yếu kém sẽ đưa công ty đến suy yếu, hơn thế còn ảnh hưởng đến các DN
khác (đối tác, bạn hàng...) và người tiêu dùng, kết quả tất yếu sẽ là gây thiệt hại cho nền
kinh tế. Vì vậy, kiện toàn về tổ chức và quản lý công ty giúp cho công ty có được chiến
lược phát triển bền vững, minh bạch, hạn chế những tiêu cực trong kinh doanh , tăng lợi
nhuận, góp phần nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế.
c. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới tổ chức quản lý CTCP
- Về điều lệ của công ty: Với nội dung phong phú, điều lệ công ty là một yếu tố tác
động lớn đến tổ chức quản lý nội bộ CTCP. Điều đó thể hiện qua một số điểm cơ bản sau:
4
+ Điều lệ công ty chứa đựng một phần các quy định về tổ chức quản lý CTCP;
+ Điều lệ công ty ra đời thông qua sự thỏa thuận của các thành viên, nó là văn bản thể
hiện phương hướng phát triển công ty nói chung và phương hướng phát triển quản lý CTCP
nói riêng;
Như vậy, một bản điều lệ tốt cũng là nhân tố khẳng định trình độ quản lý, khả năng phát
triển của công ty. Đây là cơ sở quan trọng để các nhà đầu tư đưa ra quyết định có bỏ vốn
hay không, bỏ bao nhiêu vốn...
- Về trình độ cổ đông, năng lực đội ngũ lãnh đạo : Hoạt động của ĐHĐCĐ lại là hoạt
động tập thể nên vấn đề trình độ, kinh nghiệm của cổ đông có ảnh hưởng lớn đến công ty
nói chung và với tổ chức quản lý CTCP nói riêng. Nếu cổ đông công ty là người có trình độ
cao thì họ sẽ dễ dàng lựa chọn được những phương án hợp lý để quản lý hữu hiệu công ty.
Ngược lại, cổ đông yếu kém về kiến thức kinh doanh, kinh nghiệm quản lý sẽ khó tìm được
chính kiến cho mình, dễ chạy theo số đông, bị lôi kéo. Bên cạnh đó, sự đồng đều về trình
độ của cổ đông trong công ty , sẽ giúp việc đưa ra ý kiến có tính thống nhất cao và nhanh
chóng.Ngoài ra, nhìn vào đội ngũ lãnh đạo công ty, chúng ta có thể thấy được khả năng hoạt
động, trình độ quản lý của công ty đó. Năng lực lãnh đạo là cơ sở để quản lý công ty tốt.
- Pháp luật : Trước hết, pháp luật ghi nhận các nguyên tắc cơ bản về tổ chức quản lý
nước mà còn mở rộng với các DN nước ngoài. Sự kết hợp này là cơ hội tốt hoàn thiện bộ
máy quản lý nhưng nếu kết hợp không đúng thì thiệt hại xảy ra không nhỏ.
+ Thứ ba, xu hướng đa ngành: Xu hướng này đã có từ lâu, nhưng mới đây thì nó mới
thật sự xuất hiện ở Việt Nam. Ví dụ: công ty FPT mở rộng sang các lĩnh vực kinh doanh
chứng khoán, xuất nhập khẩu, phân phối...; tổng công ty điện lực Việt Nam (EVN) xâm
nhập thị trường viễn thông di động...Những thay đổi này tác động không nhỏ đến tổ chức
CTCP. Đòi hỏi hiện nay với các công ty đa ngành là phải có một bộ máy quản lý phù hợp
và chặt chẽ thì mới đáp ứng được yêu cầu thực tế.
II. Tổ chức quản lý Công ty Cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện
hành.
Cơ cấu tổ chức quản lý CTCP theo quy định của LDN Việt Nam năm 2005 gồm: Đại
hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc (hoặc Tổng giám đốc),Ban kiểm soát
(BKS), đối với CTCP có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên
50% tổng số cổ phần của công ty thì phải có BKS. So với LDN năm 1999, LDN năm 2005
đã bổ sung quy định CTCP phải có BKS trong trường hợp có cổ đông là tổ chức sở hữu trên
50% tổng số cổ phần của công ty).
Có thể minh họa cơ cấu tổ chức quản lý CTCP bằng sơ đồ sau:
ĐHĐCĐ
HĐQT
Chủ tịch HĐQT
BKS
GĐ hoặc TGĐ
Phòng
Chức năng
Phòng
Chức năng
gian họp và ra quyết định trên cơ sở biểu quyết tại cuộc họp hoặc lấy ý kiến của các cổ đông
có quyền biểu quyết bằng văn bản.
ĐHĐCĐ họp ít nhất mỗi năm một lần và được triệu tập bởi HĐQT. Chủ tịch HĐQT chủ
tọa cuộc họp ĐHĐCĐ. Thủ tục triệu tập họp ĐHĐCĐ, điều kiện, thể thức tiến hành họp và
ra quyết định của ĐHĐCĐ được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 97 đến Điều
106 Luật DN năm 2005.
* So với LDN năm 1999, LDN năm 2005 quy định cụ thể hơn về hình thức, thời gian,
địa điểm họp ĐHĐCĐ. HĐQT phải triệu tập họp bất thường ĐHĐCĐ trong các trường hợp
sau đây: HĐQT xét thấy cần thiết vì lợi ích của công ty; Số thành viên HĐQT còn lại ít hơn
số thành viên theo quy định của pháp luật; Theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở
hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một
7
tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty; Theo yêu cầu của BKS; Các trường hợp
khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty…(khoản 3, Điều 97 LDN 2005)
* Điểm mới đáng lưu ý về thẩm quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ là trong trường hợp
HĐQT không triệu tập ĐHĐCĐ như quy định thì Chủ tịch HĐQT phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại phát sinh với công ty. Tương tự như vậy, trong
trường hợp BKS không triệu tập họp ĐHĐCĐ như quy định thì Trưởng BKS phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại phát sinh với công ty. Việc bổ sung
quy định mới này là cần thiết, nhằm đề cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân người có thẩm
quyền. Chủ tịch HĐQT và Trưởng BKS là những người giữ trọng trách trong hoạt động của
CTCP. Ngoài ra, Luật cũng bổ sung quy định cổ đông hoặc nhóm cổ đông triệu tập họp
ĐHĐCĐ trong trường hợp BKS không triệu tập họp ĐHĐCĐ có thể đề nghị cơ quan đăng
ký kinh doanh giám sát việc triệu tập và tiến hành họp nếu xét thấy cần thiết. Quy định này
nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của DN trong những trường
hợp cần thiết.
* Về điều kiện, thể thức tiến hành họp ĐHĐCĐ, Điều 76 LDN năm 1999 quy định chủ
yếu về điều kiện tiến hành họp ĐHĐCĐ mà chưa đề cập cụ thể đến thể thức họp và biểu
- Việc thông qua quyết định của ĐHĐCĐ, bên cạnh hình thức họp truyền thống, LDN
năm 2005 còn bổ sung một hình thức mới là lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản (Điều 105).
Theo đó, HĐQT có quyền lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản để thông qua quyết định của
ĐHĐCĐ bất cứ lúc nào nếu xét thấy cần thiết vì lợi ích của công ty. HĐQT phải chuẩn bị
phiếu lấy ý kiến, dự thảo quyết định của ĐHĐCĐ và các tài liệu giải trình dự thảo quyết
định. Phiếu lấy ý kiến kèm theo dự thảo quyết định và tài liệu giải trình phải được gửi bằng
phương thức bảo đảm đến được địa chỉ thường trú của từng cổ đông. Đối với trường hợp
này, sau khi kiểm tra phiếu thì quyết định của ĐHĐCĐ được thông qua nếu được số cổ
đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết chấp thuận.
2.Hội đồng quản trị (HĐQT)
a.Thành viên HĐQT
Thành viên HĐQT do ĐHĐCĐ bầu ra, gồm 3 đến 11 thành viên, trong đó số lượng
thành viên phải thường trú ở Việt Nam do Điều lệ công ty quy định. Nhiệm kỳ của thành
viên HĐQT là nhiệm kỳ của HĐQT nhưng thành viên HĐQT có thể được bầu lại với số
nhiệm kỳ không hạn chế. Trong trường hợp có thành viên được bầu bổ sung để thay thế
thành viên bị miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm thì nhiệm kỳ của thành viên đó là thời gian còn lại
của nhiệm kỳ HĐQT. Thành viên HĐQT có thể bị bãi nhiệm, miễn nhiệm bởi quyết định
của ĐHĐCĐ. Thành viên HĐQT có thể là cổ đông hay cũng có thể không phải là cổ đông
của công ty. LDN năm 2005 quy định cụ thể về thành viên HĐQT tại Điều 109, Điều 110,
Điều 114, Điều 115.
So với quy định của LDN năm 1999 (Khoản 4 Điều 80) vấn đề nhiệm kỳ, số lượng
thành viên, tiêu chuẩn và điều kiện thành viên HĐQT đã được quy định cụ thể hơn và được
tách thành hai điều riêng biệt ( Điều 109 và Điều 110).
Trước đây LDN năm 1999 không quy định số lượng tối thiểu thành viên HĐQT mà chỉ
quy định số lượng tối đa (gồm không quá 11 người); nhiệm kỳ, tiêu chuẩn thành viên
HĐQT do Điều lệ công ty quy định. Tuy nhiên, nhằm tạo lập khung pháp lý cho việc tổ
chức hoạt động của DN, LDN năm 2005 quy định: HĐQT có không ít hơn 3 thành viên và
không quá 11 thành viên, nếu Điều lệ công ty không có quy định khác. Nhiệm kỳ của
HĐQT là 5 năm. Nhiệm kỳ của thành viên HĐQT không quá 5 năm và thành viên HĐQT
ĐHĐCĐ. Các quyền và nhiệm vụ cụ thể của HĐQT được quy định trong LDN và điều lệ
công ty. LDN năm 2005 đã quy định nhiệm vụ quyền hạn của HĐQT tại Điều 108.
So với LDN năm 1999 thì LDN năm 2005 quy định HĐQT được bổ sung một quyền
mới là giám sát chỉ đạo GĐ (hoặc TGĐ) và người quản lý khác trong điều hành công việc
kinh doanh hàng ngày của công ty. Việc bổ sung quy định này nhằm giám sát chặt chẽ hơn
nữa hoạt động của những người quản lý công ty, tránh tình trạng lạm dụng quyền hạn hay
thực hiện giao dịch trái pháp luật.
10
Đồng thời theo quy định của LDN năm 2005 nghĩa vụ của HĐQT cũng được bổ sung:
Khi thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình, HĐQT tuân thủ đúng quy định của pháp
luật, Điều lệ công ty và quyết định của ĐHĐCĐ. Trong trường hợp quyết định của HĐQT
thông qua trái với quy định của pháp luật hoặc điều lệ công ty gây thiệt hại cho công ty thì
các thành viên chấp thuận thông qua quyết định đó phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về
quyết định đó và phải đền bù thiệt hại cho công ty; thành viên phản đối không thông qua
quyết định nói trên được miễn trừ trách nhiệm (Điều 108).
c. Hoạt động của HĐQT
Họp HĐQT là một nội dung quan trọng trong hoạt động của HĐQT. HĐQT họp định
kỳ hoặc bất thường nhưng phải họp ít nhất một quý một lần tại trụ sở chính hoặc nơi khác.
Cuộc họp HĐQT được LDN năm 2005 quy định cụ thể tại Điều 112.
Các quy định về cuộc họp HĐQT trong LDN năm 2005 cũng có nhiều thay đổi so với
LDN năm 1999: Điều 112 LDN năm 2005 quy định cụ thể các trường hợp Chủ tịch HĐQT
có quyền triệu tập họp HĐQT mà không quy định chung chung như LDN năm 1999. Theo
đó, Chủ tịch HĐQT phải triệu tập HĐQT khi có đề nghị của BKS; của giám đốc (Tổng
giám đốc) hoặc ít nhất 5 người quản lý khác; của ít nhất 2 thành viên HĐQT hoặc các
trường hợp khác theo quy định của Điều lệ công ty. Đề nghị triệu tập họp HĐQT phải được
lập thành văn bản, trong đó nêu rõ mục đích, vấn đề cần thảo luận và quyết định thuộc thẩm
quyền của HĐQT.
GĐ (TGĐ) đầy đủ hơn. Cụ thể:
- Nhiệm kỳ của GĐ (TGĐ) là không quá 5 năm và có thể được bổ nhiệm lại với số
nhiệm kỳ không hạn chế.
- GĐ (TGĐ) công ty không đồng thời là GĐ (TGĐ) của công ty khác.
- GĐ (TGĐ) được trả lương và tiền lương căn cứ vào kết quả và hiệu quả kinh doanh.
Tiền lương của GĐ (TGĐ) do HĐQT quyết định.
- GĐ (TGĐ) được bổ sung thêm 2 quyền mới so với LDN năm 1999, đó là: quyền tuyển
dụng lao động và quyền kiến nghị phương án trả cổ tức hoặc xử lý lỗ trong kinh doanh.
Đồng thời, Luật cũng bổ sung quy định GĐ (TGĐ) có trách nhiệm điều hành công việc kinh
doanh hàng ngày theo đúng quy định của pháp luật, Điều lệ công ty, hợp đồng lao đồng kí
với công ty và quyết định của HĐQT; nếu điều hành trái với quy định này mà gây thiệt hại
cho công ty thì GĐ (TGĐ) phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi thường thiệt hại cho
công ty.
4. Ban kiểm soát (BKS)
Hoạt động của công ty luôn tiềm ẩn nguy cơ xuất hiện những giao dịch bất minh do sự
lạm dụng quyền lực của những nhà quản lý, lãnh đạo công ty. Do đó, BKS ra đời để hạn chế
tình trạng này. LDN năm 2005 quy định về thành viên, quyền hạn, nhiệm vụ và một số vấn
đề khác về BKS khá cụ thể từ Điều 121 đến Điều 127.
CTCP có trên 11 cổ đông phải có BKS gồm từ 3 đến 5 thành viên. Các thành viên BKS
do ĐHĐCĐ bầu ra. BKS phải có hơn một nửa số thành viên thường trú tại Việt Nam. BKS
thay mặt các cổ đông kiểm soát các hoạt động của công ty, chủ yếu là các vấn đề tài chính,
vì vậy phải có ít nhất một thành viên BKS có trình độ chuyên môn về kế toán. BKS bầu 1
thành viên làm trưởng ban. BKS chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ về việc thực hiện nhiệm
12
vụ, quyền hạn được giao. So với LDN năm 1999, LDN năm 2005 quy định về BKS đầy đủ
và cụ thể hơn. Đó là:
ngân sách hoạt động hàng năm của BKS đã được ĐHĐCĐ chấp thuận, trừ trường hợp
ĐHĐCĐ có quyết định khác. Thù lao và chi phí hoạt động của BKS được tính vào chi phí
kinh doanh theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập DN, pháp luật có liên quan và phải
lập thành mục riêng trong báo cáo tài chính hàng năm của công ty.
13
III. Nhận xét về các quy định của pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý
Công ty Cổ phần và một số ý kiến đề xuất:
1.Nhận xét.
Xét về khía cạnh tổ chức quản lý CTCP, LDN năm 2005 đã xác định nền tảng cho cơ
chế điều hành hoạt động giữa các bộ phận trong công ty. Như đã phân tích ở trên, so với
LDN năm 1999, LDN năm 2005 đã có quy định đầy đủ, phù hợp, toàn diện hơn…góp phần
tạo lập khung pháp lý để hình thành một cơ cấu quản lý có hiệu quả cho các CTCP hiện
nay.
Đi đôi với quyền lợi thì LDN năm 2005 cũng xác định rõ hơn các nghĩa vụ của người
quản lý, nhất là đối với thành viên HĐQT và giám đốc, đặc biệt là nghĩa vụ trung thành,
trung thực và cẩn trọng; thiết lập chế độ thù lao, tiền lương gắn với kết quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp; yêu cầu công khai và minh bạch hóa, nhất là đối với những người
quản lý...
Tuy vậy, kiến thức về quản lý công ty cũng như thực tế triển khai về quản lý công ty
vẫn còn mới mẻ. Nhiều CTCP đã và đang gặp phải các vấn đề liên quan đến tổ chức quản lý
công ty. Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy các CTCP trong nước cần nghiên cứu và tiến tới áp
dụng những chuẩn mực về quản lý trong hoạt động của mình.
Về phương diện lý luận, sự hoàn thiện các quy định của pháp luật về tổ chức quản lý
công ty luôn có tính tương đối, thích ứng với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế. Đó
là một quá trình liên tục, lâu dài với những bước đi và giải pháp thích hợp…cụ thể như :
Hoàn thiện các quy định của pháp luật về tổ chức quản lý CTCP phải căn cứ vào những
đặc điểm của nền kinh tế thị trường Việt Nam; phải phù hợp với đặc điểm văn hóa kinh
doanh của người Việt Nam đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế…..
ty. Phân tích Điều 104 khoản 3 LDN năm 2005 có thể thấy hạn chế của quy định này. Vì
vậy, nên quy định sử dụng cả phương pháp bỏ phiếu truyền thống và bầu dồn phiều. Với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ rất phổ biến ở Việt Nam hiện nay thì bỏ phiếu truyền thống đơn
giản, dễ tiến hành và thuận lợi cho tổ chức quản lý CTCP. Còn với các DN quy mô lớn, việc
áp dụng bầu dồn phiếu lại tận dụng được ưu điểm của phương này, đảm bảo quyền và lợi
ích cho cổ đông thiểu số.
Thứ tư, về chuyển cổ phần cho người thừa kế và trong trường hợp chia tài sản ly hôn.
Đây cũng là vấn đề mà luật cần bổ sung. Bởi Bộ luật dân sự năm 2005 và LDN năm cho
2005 đều là những đạo luật quan trọng. Quy định cụ thể vấn đề này là rất cần thiết để tránh
xung đột trong hệ thống pháp luật, đồng thời tạo điều kiện để giải quyết các vụ việc trên
thực tế.
Thứ năm, quy định về trách nhiệm đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh khi sở hữu
từ 5% tổng số cổ phần trở lên của cổ đông. Quy định này cũng cần phải sửa đổi vì nó làm
nhà đầu tư e ngại. Có thể sửa đổi theo hai hướng:
- Hướng thứ nhất, đó là thay đổi điều kiện về tỷ lệ cổ phần thành giá trị cổ phần, ví dụ
như sở hữu cổ phần có giá trị từ 500 triệu đồng, 300 triệu đồng...
- Hướng thứ hai là quy định nghĩa vụ này chỉ với công ty có quy mô lớn. Như vậy quản
lý Nhà nước với những người có sở hữu lớn mới hiệu quả, tránh trường hợp các cổ đông
trong các công ty nhỏ sở hữu trên 5% cổ phần cũng phải thực hiện nghĩa vụ đăng ký, cồng
kềnh về quản lý, không cần thiết.
15
Thứ sáu, cần quy định cụ thể về những “người quản lý khác” được đề cập trong Điều
112 và Điều 118 LDN năm 2005. Đây là yêu cầu cần thiết trong xây dựng bộ máy quản lý
hiện nay. Sự phát triển quy mô của DN luôn đi đôi với yêu cầu quản lý, nhất là trong xu thế
phát triển hiện nay: đa ngành, liên doanh, liên kết... Ngoài những bộ phận quản lý lớn như
ĐHĐCĐ, HĐQT, GĐ (TGĐ), BKS thì các bộ phận quản lý khác cũng rất quan trọng. Ở đây
cũng không cần quy định quá chi tiết, mà nên bổ sung một cách khái quát về vị trí của các
bộ phận này. Như vậy mới đáp ứng được nhu cầu trong quản lý CTCP.
3.Cao Thị Kim Trinh, Tổ chức quản lý nội bộ CTCP- những vấn đề lý luận
và thực tiễn – Luận văn thạc sỹ Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội.
4.Nguyễn Thanh Bình, Những đặc trưng của quản lý Nhà nước bằng pháp
luật đối với CTCP, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 9/2004
5.Luật Doanh nghiệp năm 1999.
6.Luật Doanh nghiệp năm 2005.
7. Website :
17