Địa vị pháp lý của chủ tịch hội đồng quản trị trong công ty cổ phần theo pháp luật việt nam hiện nay - Pdf 26

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ PHƯƠNG ANH
Địa vị pháp lý của Chủ tịch Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần theo
pháp luật Việt Nam hiện nay
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Nguyễn Trung Tín
HÀ NỘI, năm 2015
MỤC LỤC
1
Chương 1 10
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CHỦ TỊCH
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 10
1.1. Khái niệm, đặc điểm công ty cổ phần 10
1.1.1. Khái niệm công ty cổ phần 10
1.1.2. Đặc điểm công ty cổ phần 17
1.2. Hội đồng quản trị công ty cổ phần 23
1.3. Địa vị pháp lý của Chủ tịch Hội đồng quản trị trong CTCP 27
1.3.1. Vị trí, vai trò của chủ tịch Hội đồng quản trị trong CTCP 27
1.3.3. Khái quát nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Hội đồng quản trị trong
công ty cổ phần 31
Các quy định của pháp luật kinh tế nói chung và Luật Doanh nghiệp nói
riêng có mối quan hệ tác động qua lại với các quan hệ kinh tế, kinh doanh,
thương mại. Các văn bản quy phạm pháp luật kinh tế được ban hành để
điều chỉnh các quan hệ kinh tế, thương mại, kinh doanh và ngược lại, các
quan hệ kinh tế, kinh doanh, thương mại mới nảy sinh cũng khiến các văn
bản quy phạm pháp luật có thể bị lạc hậu, lỗi thời và phải được thay đổi,

Ơ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hình thức công ty cổ phần ra đời là một tất yếu trong quá trình vận
động của nền kinh tế. Ở Việt Nam, kể từ khi Nhà nước chủ trương tạo điều
kiện cho các tổ chức và cá nhân phát huy khả năng sản xuất kinh doanh, hình
thức công ty cổ phần ngày càng phổ biến và chứng minh được vai trò tích cực
của nó đối với nền kinh tế. Để phát huy thế mạnh của hình thức công ty này,
trước hết, trong nội tại của công ty cổ phần đó phải hoạt động hiệu quả. Mà
hoạt động của công ty có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào cách tổ
chức và quản lý trong chính nội bộ công ty, vào người lãnh đạo công ty. Nhận
thức được vai trò quan trọng của yếu tố này, pháp luật Việt Nam hiện hành có
3
nhiều chế định liên quan, để những nhà lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp có cơ
sở pháp lý để lãnh đạo, điều hành doanh nghiệp và giúp cho bộ máy công ty
vận hành có hiệu quả.
Ở nhiều nước trên thế giới, Chủ tịch Hội đồng quản trị trong công ty cổ
phần có vị trí rất quan trọng, là người đứng đầu Hội đồng quản trị, dẫn dắt
Hội đồng quản trị, xây dựng chiến lược và hoạch định các chính sách để đảm
bảo cho Hội đồng quản trị hoạt động có hiệu quả. Chủ tịch Hội đồng quản trị
có mối quan hệ khá đặc biệt với các thành viên Hội đồng quản trị, những bộ
phận, chức danh quản lý điều hành khác trong công ty cổ phần như: Tổng
giám đốc, Ban kiểm soát… Ở Việt Nam, theo Luật Doanh nghiệp năm 2014,
địa vị pháp lý của Chủ tịch Hội đồng quản trị được quy định trong Chương IV
về công ty cổ phần.
Để hiểu rõ hơn về quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch Hội đồng quản
trị trong công ty cổ phần cũng như tìm hiểu xem quy định trong Luật Doanh
nghiệp Việt Nam năm 2014 về Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần
có được thực hiện và tuân thủ thuận lợi trong thực tiễn hay không cần có sự
nghiên cứu và đánh giá cẩn thận, cụ thể. Bởi vậy, tôi mạnh dạn chọn vấn đề
“Địa vị pháp lý của Chủ tịch Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần theo

- Trần Ngọc Hiên (2007), Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: Thực
trạng và giải pháp, Tạp chí Cộng sản, số 6.
- Nguyễn Thị Lan Hương (2009), Một số so sánh về công ty cổ phần
theo Luật Công ty Nhật Bản và Luật Doanh nghiệp Việt Nam, Tạp chí Khoa
học Đại học Quốc gia Hà Nội, số 25, tr. 87 - 93
- Phạm Ngọc Linh (2009), Doanh nghiệp nhà nước và những vấn đề
sau cổ phần hóa, Tạp chí Kinh tế và dự báo số 11 (451), tháng 6.
- Tô Huy Rứa (2006), Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước dưới
góc nhìn phát triển kinh tế - xã hội bền vững, Tạp chí Cộng sản, (10), tr.3-7.
5
Liên quan đến nội dung quản lý, điều hành công ty cổ phần, các học giả
ở trong và ngoài nước cũng đã tiến hành nghiên cứu và công bố dưới dạng
sách, đề tài khoa học, bài viết tạp chí. Một số nghiên cứu điển hình là:
Sách:
- Phạm Trí Hùng, Nguyễn Trung Thẳng (2012), CEO và Hội đồng
quản trị, Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội.
- Nguyễn Ngọc Bích & Nguyễn Đình Cung (2009), Công ty vốn, quản
lý và tranh chấp, Nxb Tri thức, Hà Nội.
Đề tài khoa học:
- Phạm Duy Nghĩa (2004), So sánh pháp luật về quản trị doanh nghiệp
của một số nước trên thế giới – Bài học kinh nghiệm và kiến nghị giải pháp
hoàn thiện pháp luật công ty ở Việt Nam, đề tài đặc biệt cấp quốc gia, Mã số:
QG: 04.23, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Đậu Anh Tuấn (2004), Quản lý, điều hành trong công ty cổ phần ở
Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Hà Nội
- Ngô Viễn Phú (2004), Nghiên cứu so sánh quản lý công ty cổ phần
theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa, Luận án tiến sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Phạm Đình Cung (2009), Cơ sở khoa học hoàn thiện chế độ quản trị
công ty cổ phần thúc đẩy phát triển kinh tế ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh

tích những vấn đề phát sinh liên quan đến việc thực hiện các quy định đó, đặc
biệt nêu ra những khó khăn, bất cập có liên quan và đề xuất giải pháp hoàn
thiện các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Chủ tịch Hội đồng quản trị
trong công ty cổ phần nhằm tăng hiệu quả quản trị công ty.
Luận văn có nhiệm vụ làm rõ một số vấn đề lý luận về địa vị pháp lý
của Chủ tịch Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần như: khái niệm, đặc
điểm công ty cổ phần, khái niệm, vị trí, vai trò và nhiệm vụ của hội đồng quản
trị công ty cổ phần, khái niệm địa vị pháp lý của Chủ tịch Hội đồng quản trị;
7
phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về địa vị pháp lý của
Chủ tịch Hội đồng quản trị, nêu bật những bất cập trong các quy định này từ
đó đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định về địa vị pháp luật
của Chủ tịch Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp
Việt Nam năm 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử, những triết lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê nin, các quan điểm chỉ
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền của dân,
do dân và vì dân trong một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh được thể
hiện trong các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt
Nam.
Các phương pháp nghiên cứu được dùng là tổng hợp, phân tích, thống
kê, nghiên cứu tài liệu thứ cấp nhằm giải quyết các nội dung đã được đề cập.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống
về địa vị pháp lý của chủ tịch hội đồng quản trị trong công ty cổ phần; làm rõ
mối quan hệ giữa chủ tịch hội đồng quản trị với tổng giám đốc cũng như với
các thành viên hội đồng quản trị với những bộ phận, chức danh quản lý điều

nay, được xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người
để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc
gia phát triển” [6, tr.18]. CTCP là loại hình doanh nghiệp mà vốn điều lệ được
chia thành nhiều phần bằng nhau, mỗi phần đó gọi là một cổ phần và được
phát hành ra ngoài thị trường nhằm huy động vốn tham gia đầu tư từ mọi
thành phần kinh tế. Người sở hữu cổ phần được gọi là các cổ đông.
Trên thế giới, CTCP xuất hiện ngay từ đầu thế kỷ 17, song phải đến thế
kỷ 19 nó mới được phát triển rộng rãi. Ở các nước khác nhau, CTCP có thể có
những tên gọi khác nhau. Ở Pháp là công ty vô danh (anonymous Company),
Ở Anh là công ty với trách nhiệm hữu hạn (Company LTD), ở Mỹ nó được
gọi là công ty kinh doanh (Commercial Coporation), và ở Nhật Bản gọi là
công ty chung cổ phần (Kabushiki Kaisha)… [76, tr.5].
CTCP ra đời sau các loại công ty đối nhân nhưng là hình thức đầu tiên
của loại hình công ty đối vốn. Khác với sự ra đời của hình thức công ty trách
nhiệm hữu hạn – là sản phẩm của các nhà lập pháp xuất phát từ nhu cầu của
thực tiễn kinh doanh, CTCP được hình thành trong hoạt động kinh doanh và
do nhu cầu của các nhà kinh doanh rồi sau đó mới được pháp luật thừa nhận
10
và được hoàn thiện thành một chế định pháp lý. Chẳng hạn như ở Anh, Luật
công ty được ban hành lần đầu tiên năm 1844 và đến năm 1855, nước Anh
mới có Luật về CTCP nhưng trước đó hàng trăm năm đã có sự xuất hiện của
các CTCP ở Anh.
Ở Anh, CTCP đầu tiên là công ty Đông Ấn Độ (East India Company)
(1600-1874). Nó được thành lập ngày 31/10/1600 bởi một nhóm có 218
người, và được cấp phép độc quyền kinh doanh trong vòng 15 năm ở vùng
Đông Ấn, các quốc gia và hải cảng ở châu Á, châu Phi và được đi lại từ tất cả
các hải cảng của các đảo, thị trấn và địa điểm ở châu Á, châu Phi và Mỹ hay
bất kỳ địa điểm nào như thế nằm ngoài Mũi Hảo Vọng (Cape of Good Hope)
và Eo biển Magellan. Ngày 01/6/1874, Công ty này bị giải thể khi giấy phép
lần sau cùng không được gia hạn. CTCP đầu tiên này hoạt động hết sức lỏng

Ở Mỹ, đến năm 1909, có 262.000 CTCP. Đến năm 1939, số CTCP
chiếm 51,7% trong tổng số các xí nghiệp công nghiệp và chiếm 92,6% giá trị
tổng sản lượng nông nghiệp. Ngày nay, công ty cổ phần đã chiếm vị trí thống
lĩnh trong các ngành công nghiệp, dịch vụ công cộng và trong các ngành khác
nhau của nền kinh tế Hoa Kỳ [57].
Ở các nước phương tây, công ty cổ phần là mô hình phổ biến nhất cho
các doanh nghiệp có quy mô lớn. Ở Đức, vốn cơ bản trung bình của các công
ty cổ phần năm 1980 là 43 triệu DM, trong khi đó vốn trung bình của một
công ty TNHH chỉ là 0,38 triệu DM. Trong 100 công ty lớn nhất của Đức
năm 1980 có tới 66 công ty cổ phần. Ở Pháp, vào năm 1986, có tới 123.303
công ty cổ phần, chiếm tới 15,22% tổng số các doanh nghiệp.
Ở Việt Nam, đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nước ta bắt đầu phát
triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và một số xí nghiệp, CTCP xuất hiện
12
với quy mô nhỏ, trình độ thấp, nguồn vốn do các xí nghiệp đóng góp và đang ở
giai đoạn sơ khai như: xí nghiệp vận tải biển Hải Phòng, Ngân hàng công thương
thành phố Hồ Chí Minh, Công ty tài chính thành phố Hồ Chí Minh…
Như vậy, có thể khẳng định, CTCP thường xuất hiện ở các nước trước
khi có Luật về CTCP. Ở Anh, Luật Công ty được ban hành năm 1844. Theo
đó, các công ty muốn được thành lập không phải xin phép mà chỉ cần đăng
ký. Tuy nhiên, luật này không cho công ty được hưởng chế độ trách nhiệm
hữu hạn. Sự hạn chế này phản ánh sự nghi ngờ của dư luận về CTCP lúc đó.
Tuy nhiên, vào những năm 1850 có hơn 40 công ty Anh sang Pháp để thành
lập dù chi phí thành lập công ty ở Pháp rất cao. Chính phủ Anh sợ mất doanh
nghiệp nên vào năm 1855 ban hành luật về tính TNHH (Limited Liability Act
1855) dành cho các công ty đã được thành lập theo luật về CTCP. Cuối cùng,
Luật Công ty năm 1844 và Luật về tính trách nhiệm hữu hạn năm 1855 được
sáp nhập thành Luật về công ty năm 1862 (Companies Act 1862). Khi đó,
nước Anh là đế quốc thống trị về hàng hải và là một cường quốc công nghiệp
hàng đầu thế giới. Luật công ty của Mỹ được ban hành năm 1881 ở New York

hiểu theo hình thức kinh doanh.Các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh trong
giai đoạn này chủ yếu bao gồm các nhà máy, xí nghiệp quốc doanh, hợp tác xã
(đối với thành phần kinh tế tập thể) và công tư hợp doanh (hình thành từ quá
trình cải tạo công thương nghiệp XHCN). Trong giai đoạn này, mặc dù Điều lệ
về đầu tư của nước ngoài ở nước CHXHCN Việt Nam (ban hành kèm theo Nghị
định 115/CP của Chính phủ ngày 18/4/1977) có đề cập đến hình thức CTCP khi
quy định “xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp” có thể thành lập theo hình thức
“công ty vô danh” (một tên gọi khác của CTCP) nhưng lại không có văn bản
pháp luật nào quy định về tổ chức và hoạt động của hình thức CTCP này. Và
14
trên thực tế, cũng không có xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp nào được thành lập
theo hình thức “công ty vô danh” theo quy định của Điều lệ về đầu tư của nước
ngoài năm 1977 kể trên.
Cho đến khi Luật công ty được ban hành ngày 21/12/1990, hình thức
CTCP mới chính thức được quy định cụ thể. Theo Luật Công ty 1990, CTCP
được xác định với các đặc điểm sau:
- Số thành viên gọi là cổ đông mà công ty phải có trong suốt thời gian
hoạt động ít nhất là 7.
- Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là
cổ phần. Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu. Mỗi cổ đông có thể
mua 1 hoặc nhiều cổ phiếu.
- Cổ phiếu được phát hành có thể ghi tên hoặc không ghi tên. Cổ phiếu
của sáng lập viên, của thành viên Hội đồng quản trị phải là những cổ phiếu có
ghi tên.
- Cổ phiếu không ghi tên được tự do chuyển nhượng. Cổ phiếu ghi tên
chỉ được chuyển nhượng nếu được sự đồng ý của Hội đồng quản trị, trừ
trường hợp quy định tại Điều 39 của Luật này.
Sau khi Luật Công ty ra đời, nhiều văn bản pháp luật khác nhau đã
được ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động
trong các lĩnh vực khác nhau nhưng được tổ chức dưới hình thức CTCP. Hoạt

những phần bằng nhau gọi là cổ phần. Công ty được phát hành cổ phần huy
động vốn tham gia của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế.
Trong CTCP, các cá nhân hay tổ chức nắm giữ quyền sở hữu hợp pháp
cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông được quyền tham gia quản lý, kiểm soát,
16
điều hành công ty thông qua việc bầu cử và ứng cử vào các vị trí quản lý
trong công ty. Ngoài ra, cổ đông còn được quyền hưởng các khoản lợi nhuận
do công ty tạo ra cũng như chịu lỗ tương ứng với mức độ góp vốn.
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong
phạm vi số vốn đã góp vào công ty;
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người
khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết;
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và
không hạn chế số lượng tối đa.
- CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh/Giấy chứng nhận đầu tư và có quyền phát hành chứng
khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
- CTCP phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc
(Tổng giám đốc). Đối với CTCP có từ 11 cổ đông trở lên, bắt buộc phải có Ban
kiểm soát.
1.1.2. Đặc điểm công ty cổ phần
CTCP là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn. Cơ cấu tổ chức bộ máy
quản lý, những vấn đề quản lý nội bộ, quyền và nghĩa vụ của các cổ đông được
giải quyết chủ yếu dựa trên nguyên tắc đối vốn (nghĩa là dựa trên giá trị cổ phần
mà các cổ đông nắm giữ). Mặt khác với cấu trúc vốn linh hoạt, khả năng chuyển
cổ phần dễ dàng trên thị trường làm cho CTCP có phạm vi, quy mô kinh doanh
lớn, số lượng cổ đông đông đảo. Khi tham gia vào CTCP, các cổ đông không
quan tâm đến nhân thân của nhau mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp. Cổ phần
của công ty gồm: cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi. Sự đa dạng hóa các loại
cổ phần với các quyền và mức độ khác nhau cho phép CTCP tạo lập được cấu

tạo điều kiện cho những cá nhân với số tiền nhỏ cũng có cơ hội đầu tư có
lợi và an toàn vì việc mua cổ phiếu không những đem lại cho cổ đông lợi
tức cổ phần mà còn hứa hẹn mang đến cho họ một khoản thu nhập “ngầm”
nhờ sự tăng giá trị của cổ phiếu khi công ty làm ăn có hiệu quả. Mặt khác,
18
các cổ đông có quyền tham gia quản lý công ty theo điều lệ của CTCP và
được pháp luật bảo đảm. Điều lợi nữa là các cổ đông được hưởng ưu đãi
trong việc mua những cổ phiếu mới phát hành của công ty trước khi công
ty đem bán rộng rãi cho công chúng.
Một đặc điểm về vốn của CTCP nữa là sự linh hoạt trong chuyển
nhượng, mua bán những cổ phiếu tự do. Như vậy, sẽ không có nhiều khó
khăn cho người muốn rút vốn kinh doanh hay muốn tham gia kinh doanh
thêm trong CTCP. Nghĩa là việc chuyển từ sở hữu này sang sở hữu khác diễn
ra rất nhanh chóng mà guồng máy của công ty vẫn có thể hoạt động bình
thường. Cổ tức của CTCP không những là mối quan tâm của các cổ đông
trong công ty mà còn có tác động lớn đến giá trị giao dịch cổ phiếu của thị
trường chứng khoán bởi tâm lý những người góp vốn cổ phần thường muốn
thu được những lợi tức cổ phần cao hơn lãi suất trên thị trường vốn.
Ngoài ra, các cổ đông trong công ty chỉ có thể mua, bán, chuyển
nhượng phần vốn góp của mình cho những người khác thông qua thị trường
chứng khoán mà không được phép rút vốn ra khỏi công ty. Điều này giúp cho
số vốn kinh doanh của công ty luôn luôn ổn định cho dù có những biến động
lớn về nhân sự trong công ty.
Xét về mặt sở hữu, CTCP có nhiều chủ sở hữu. Chủ sở hữu của
CTCP là các cổ đông, song phần lớn các cổ đông của công ty không tham
gia vào quản lý công ty mà giao quyền điều hành và quản lý công ty cho
một bộ phận nhỏ là Hội đồng quản trị. Các chủ sở hữu khác chỉ thực hiện
quyền sở hữu của mình trên phương diện thu lợi tức cổ phần thông qua
hoạt động kinh doanh của công ty; tham gia Đại hội đồng cổ đông, quyết
định những vấn đề có tính chiến lược của công ty như thông qua điều lệ,

doanh nghiệp song cũng là lẽ tự nhiên trong thương trường. Khắc phục rủi ro
bằng sự thận trọng là điều cần thiết song không phải là cách duy nhất bởi vì mức
20
độ rủi ro lại thường tỉ lệ thuận với triển vọng thu lợi nhuận. Vì vậy trong kinh
doanh muốn thu lợi nhuận cao đôi khi phải mạo hiểm. Chấp nhận rủi ro là một
phẩm chất cần có của một nhà kinh doanh nhưng chấp nhận mạo hiểm không
phải là liều lĩnh theo kiểu “được ăn cả ngã về không”, chấp nhận mạo hiểm
nhưng vẫn cần có cơ chế hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực và
sự thiệt hại của rủi ro có thể dẫn đến phá sản. CTCP là một cơ chế như vậy.
Chế độ trách nhiệm hữu hạn (phân biệt rõ ràng tài sản công ty và tài
sản cá nhân người có vốn góp, trách nhiệm tài chính giới hạn trong phạm vi
tài sản cũng như phần góp vốn của mỗi người) đã hạn chế đến mức thấp nhất
những thiệt hại của sự rủi ro, thua lỗ. Trong kinh doanh, trường hợp tồi tệ
nhất là phá sản nhưng với những hình thức kinh doanh khác nhau tác hại của
phá sản cũng không giống nhau. Đối với doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh
nghiệp phải chịu trách nhiệm vô hạn do đó trong trường hợp phá sản phải sử
dụng toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của mình để thanh toán nợ nần. Đối với
công ty trách nhiệm hữu hạn, tuy chỉ giới hạn trong tài sản của công ty và số
vốn góp của mọi người nhưng do chỉ được sử dụng nguồn vốn góp của các
thành viên mà không được phát hành bất kỳ một loại tín phiếu nào nên khi bị
phá sản mọi thành viên thường phải chịu những thiệt hai nặng nề. CTCP được
phát hành cổ phiếu và trái phiếu một cách rộng rãi,do đó sự thiệt hại của mỗi
người không lớn lắm (tất nhiên không loại trừ những người mua cổ phần với
số lượng lớn). Nhờ cơ chế này mà khi phá sản hậu quả tiêu cực về mặt kinh tế
xã hội được hạn chế ở mức thấp nhất.
Đối với CTCP, người mua cổ phần không được quyền rút vốn chỉ có
quyền sở hữu các cổ phiếu và được phép mua bán chuyển nhượng. Như vậy,
lợi ích của các cổ đông gắn chặt với hoạt động của CTCP. Tuy nhiên do các
công ty có thể được chuyển nhượng và mua bán nên các cổ đông khi cần vẫn
có thể thu hồi vốn với những mức độ khác nhau và chuyện mạo hiểm rủi ro

cách thực sự, sử dụng được những giám đốc tài năng (giám đốc thực sự là
22
một nghề chứ không phải là một quan chức) đảm bảo được quyền lợi, lợi ích
và trách nhiệm của chủ sở hữu, đẩy nhanh quá trình phân công lao động xã
hội, thực hiện nguyên tắc “ai giỏi nghề gì làm nghề đó”.
1.2. Hội đồng quản trị công ty cổ phần
Hội đồng quản trị CTCP là cơ quan quản lý của công ty, có toàn quyền
nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty
không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông.
Lý do quan trọng nhất đưa đến sự hình thành HĐQT là để bảo đảm cho
sự vận hành nghiêm túc cơ chế “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, hạn chế
những tiêu cực có thể xảy ra nếu để một mình tổng giám đốc hoặc giám đốc
điều hành doanh nghiệp. Đương nhiên, đó là lý do hết sức xác đáng. Chỉ có
doanh nghiệp tư nhân do một người làm chủ thì mới không có và không cần
có sự quản lý của tập thể nào cả. Trong các công ty cổ phần với hàng ngàn,
hàng vạn, thậm chí hàng triệu cổ đông thì đương nhiên không có hình thức
quản lý nào hợp lý hơn là các cổ đông bầu những người đại diện cho mình
vào HĐQT. Nghĩa là các cổ đông thực hiện quyền làm chủ công ty thông qua
những người đại diện của mình trong HĐQT.
Muốn trở thành thành viên của Hội đồng quản trị CTCP thì phải đáp
ứng đủ các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc đối tượng không
được quản lý doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 18 của Luật này;
b) Có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản lý kinh doanh của
công ty và không nhất thiết phải là cổ đông của công ty, trừ trường hợp Điều
lệ công ty quy định khác.
c) Thành viên Hội đồng quản trị công ty có thể đồng thời là thành viên
Hội đồng quản trị của công ty khác.
d) Đối với công ty con mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ thì
thành viên Hội đồng quản trị không được là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi,

không quá mười một thành viên (nếu điều lệ công ty không có quy định
24
khác). Số thành viên Hội đồng quản trị CTCP phải thường trú tại Việt Nam
do Điều lệ công ty quy định. Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị là năm năm.
Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị không quá năm năm; thành viên
Hội đồng quản trị có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế. Hội
đồng quản trị của nhiệm kỳ vừa kết thúc tiếp tục hoạt động cho đến khi Hội
đồng quản trị mới được bầu và tiếp quản công việc.
Trường hợp có thành viên được bầu bổ sung hoặc thay thế thành viên
bị miễn nhiệm, bãi nhiệm trong thời hạn nhiệm kỳ thì nhiệm kỳ của thành
viên đó là thời hạn còn lại của nhiệm kỳ Hội đồng quản trị.
Hội đồng quản trị CTCP có các quyền và nghĩa vụ sau:
a) Quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch
kinh doanh hàng năm của công ty;
b) Kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của
từng loại;
c) Quyết định chào bán cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần được quyền
chào bán của từng loại; quyết định huy động thêm vốn theo hình thức khác;
d) Quyết định giá chào bán cổ phần và trái phiếu của công ty;
đ) Quyết định mua lại cổ phần theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Luật
này;
e) Quyết định phương án đầu tư và dự án đầu tư trong thẩm quyền và
giới hạn theo quy định của Luật này hoặc Điều lệ công ty;
g) Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ;
thông qua hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng
hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất
của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty, trừ hợp
đồng và giao dịch quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 120 của Luật Doanh
nghiệp năm 2005;
i) Giám sát, chỉ đạo Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status