ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ NGUYỆT Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng trong
các công ty cổ phần ngành dệt - may Việt
Nam hiện
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
2.2.2. Giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng ở các công
ty cổ phần ngành Dệt - May Việt Nam. 79
Kết luận 96
Danh mục tài liệu tham khảo 99
Phụ lục 105
2 BẢNG QUY NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CTCP: Công ty cổ phần
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
CPH: Cổ phần hoá
TW: Trung ương
HĐQT: Hội đồng quản trị
SXKD: Sản xuất kinh doanh
TCCSĐ: Tổ chức cơ sở đảng
DNCP: Doanh nghiệp cổ phần
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
DNCPH: Doanh nghiệp cổ phần hoá
thực sự trở thành “đầu tàu” trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất
nước. Cổ phần hoá là một trong những biện pháp sắp xếp lại doanh
nghiệp nhà nước, đây là hình thức chuyển các doanh nghiệp nhà nước
sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần, chịu sự điều chỉnh của
Luật Doanh nghiệp (12/6/1999). Song, việc chuyển từ nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần,
các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước chuyển sang công ty cổ phần,
làm thế nào để vẫn giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa? Vai trò lãnh
đạo của Đảng Cộng sản ở các công ty được cổ phần hoá này như thế
nào? Đây là vấn đề đặt ra cho các cơ sở đảng và cho toàn Đảng ta.
4
Ngành Dệt - May Việt Nam là một trong những ngành có khối
lượng lao động lớn, giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta.
Nhận thức rõ vai trò, tính chất và đặc thù của ngành, dưới sự chỉ đạo
trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, lãnh đạo ngành đã chỉ đạo, thúc đẩy
và khuyến khích các doanh nghiệp nhà nước trong ngành tiến hành cổ
phần hoá doanh nghiệp mình nhằm thúc đẩy và phát triển doanh nghiệp
phù hợp với xu thế chung của nền kinh tế trong nước và xu thế hội nhập.
Sự ổn định chính trị bao giờ cũng là nhân tố quan trọng đầu tiên để
phát triển, xong muốn giữ vững sự ổn định chính trị ở nước ta hiện nay
cần phải giữ và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam, hơn nữa Đảng thực hiện chức năng lãnh đạo và kiểm tra thông qua
hệ thống tổ chức của Đảng, thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên. Vì vậy,
để nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng cần phải xây dựng cơ sở đảng
trong sạch, vững mạnh; giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, nâng cao
phẩm chất, đạo đức cách mạng là vấn đề cốt tử, liên quan trực tiếp đến
sự tồn tại, phát triển của Đảng và có tính quyết định đối với mọi thành
tựu của cách mạng nước ta. Đặc biệt là ở các doanh nghiệp nhà nước sau
khi đã được cổ phần hoá, vai trò lãnh đạo của Đảng được thể hiện như
Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo với nội
dung là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang kinh tế thị trường,
chuyển các doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần. Quá trình này
được Đảng, Nhà nước, và các nhà khoa học hết sức quan tâm. đặc biệt là
vấn đề cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước và vai trò lãnh đạo của
Đảng ở các doanh nghiệp cổ phần này.Vì vậy, đã có nhiều chuyên khảo,
bài viết và công trình khoa học nghiên cứu về những vấn đề đó như:
6
- Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển DNNN (2005): Tình hình và nhiệm
vụ, giải pháp đẩy nhanh vững chắc cổ phần hoá DNNN. Tài liệu báo cáo tại
Hội nghị toàn quốc về cổ phần hoá, Hà Nội.
- Bộ Công nghiệp (2004): Báo cáo tình hình thực hiện cổ phần hoá
DNNN số 577/CV-TCCB, Tài liệu báo cáo tại Hội nghị toàn quốc về cổ phần
hoá, tháng 2/2005, Hà Nội.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW
(1996): Báo cáo chính của dự án hình thành và tổ chức quản lý công ty cổ
phần ở Việt Nam, Hà Nội.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2005): Văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới (Đại
hội VI, VII, VIII, IX) về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Phạm Thị Thanh Hà (2003): Tăng cường sự lãnh đạo của TCCSĐ trong
các DNNN ở nước ta hiện nay. Luận văn tốt nghiệp lý luận chính trị cao cấp.
- Đoàn Văn Hạnh (1998): Công ty cổ phần và chuyển DNNN thành
công ty Cổ phần. Nxb. Thống kê, Hà Nội.
- Lê Hồng Hạnh (2004): Cổ phần hoá DNNN, những vấn đề lý luận và
thực tiễn. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Về vấn đề nâng cao vai trò và năng lực lãnh đạo của Đảng trong
nền kinh tế thị trường và trong các doanh nghiệp cổ phần hiện nay, có
các công trình như:
trước để liên hệ và hoàn thành luận văn của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích
Nghiên cứu một cách khái quát vai trò lãnh đạo của Đảng trong
các công ty cổ phần và thực trạng lãnh đạo của Đảng ở một số công ty
cổ phần ngành Dệt - May Việt Nam để đề xuất một số giải pháp nhằm
8
nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong các công ty cổ phần
ở nước ta hiện nay.
* Nhiệm vụ
- Luận văn làm rõ quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong các công ty cổ phần.
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng vai trò lãnh đạo của Đảng ở một
số công ty cổ phần ngành Dệt - May Việt Nam, luận văn đề xuất một số
giải pháp nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng trong các công ty cổ
phần này ở nước ta hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu:
Cổ phần hoá là quá trình chuyển đổi căn bản từ hình thức sở hữu
chung sang hình thức đa sở hữu, là một khâu của nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Với cơ chế mới này,
vai trò lãnh đạo của Đảng sẽ như thế nào? Xuất phát từ cách tiếp cận của
chủ nghĩa xã hội khoa học, luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là:
Vai trò lãnh đạo của Đảng ở các Công ty Cổ phần (trong ngành Dệt -
May Việt Nam).
* Phạm vi nghiên cứu:
Quá trình chuyển đổi từ các doanh nghiệp nhà nước sang công ty
cổ phần được thực hiện ở nhiều lĩnh vực và ngành nghề khác nhau, trong
phạm vi của một luận văn thạc sỹ, tôi chỉ giới hạn trong phạm vi vai trò
* Đóng góp mới về nội dung khoa học
10
- Đánh giá thực trạng vai trò lãnh đạo của Đảng trong một ngành
kinh tế cụ thể: ngành Dệt - May.
- Luận văn đề xuất phương hướng, giải pháp để nâng cao vai trò lãnh
đạo của Đảng trong các công ty cổ phần ngành Dệt - May Việt Nam.
* Đóng góp về mặt lý luận
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể góp thêm tiếng nói trong
việc nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng trong các công ty cổ phần.
- Cung cấp thêm tư liệu để các công ty cổ phần trong ngành Dệt
May tiếp tục đổi mới, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, giữ vững định
hướng xã hội chủ nghĩa trong sản xuất kinh doanh.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung luận văn gồm 2 chương, 4 tiết.
11 Chương 1
CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
VÀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
TRONG CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước - đòi hỏi khách quan của
sự nghiệp đổi mới
1.1.1. Doanh nghiệp nhà nước - thực trạng và nhu cầu đổi mới
Sự sụp đổ của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp ở các
nước xã hội chủ nghĩa cuối những năm 80 của thế kỷ trước đã thức tỉnh chúng
còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng trong thời gian qua DNNN đã thực sự là
công cụ để Nhà nước bình ổn giá, góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế, khẳng
định vai trò quan trọng, tích cực của DNNN.
Bên cạnh những thành tích đạt được, DNNN cũng bộc lộ nhiều yếu
kém, nhiều ý kiến đánh giá đây là khu vực hoạt động có hiệu quả, kém năng
động, gây lãng phí, tiêu cực tiền của của nhà nước nhiều nhất. Nhiều vụ án
kinh tế đã và đang xảy ra làm bất ổn cả về kinh tế lẫn xã hội, chính trị cho cả
một tỉnh, một vùng hay một bộ. Không ít DNNN hoạt động trong những lĩnh
vực độc quyền đã không làm được vai trò đem lại lợi ích cho dân mà ngược
lại đã xâm phạm lợi ích của họ, làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân
vào Đảng, Nhà nước; Đảng, Nhà nước cũng giảm lòng tin vào DNNN. Công
nghệ, kỹ thuật chậm đổi mới, cơ chế quản lý nhùng nhằng, công tác cán bộ
phức tạp… Nếu không khẩn trương đẩy mạnh đổi mới DNNN thì khả năng
cạnh tranh ngay chính trên sân nhà đã khó chứ chưa nói gì hội nhập. Cụ thể:
Thứ nhất, trong những thành tựu kinh tế - xã hội chung của đất nước
sau 20 năm đổi mới thì DNNN đóng góp chưa tương xứng với tiềm năng và
đầu tư của nhà nước, ngay cả những lĩnh vực mà nhà nước độc quyền. Nhìn
chung, DNNN kinh doanh kém hiệu quả, để xảy ra nhiều tiêu cực và lãng phí.
Gần đây, báo chí đưa nhiều về sự chèn ép lẫn nhau ngay trong DNNN đang
13
gây thiệt hại cho người tiêu dùng và Nhà nước, không chỉ là câu chuyện
“tranh cãi” giữa Tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT) với Viettel, EVN
Telecom, mà cả chuyện thông thầu hay bỏ thầu với giá thấp dưới chi phí tối
thiểu trong lĩnh vực xây dựng, giao thông và nhiều lĩnh vực khác v.v…
Thứ hai, thành tựu kinh tế mà thế giới trân trọng là xuất khẩu cà phê,
gạo và điều trong thời gian ngắn nước ta đã vươn lên đứng thứ hai thế giới thì
Tổng công ty Cà phê Việt Nam chỉ chiếm tỷ trọng xuất khẩu chưa đầy 30%
(còn lại là của các thành phần khác). Riêng về xuất khẩu hạt điều, chủ yếu là
doanh nghiệp dân doanh. Cũng tương tự như vậy, hạt tiêu xuất khẩu của Việt
điều tiết, phân bổ hiệu quả nguồn tài nguyên quốc gia của DNNN còn nhiều
điều thấp xa so với mong muốn.
Bên cạnh những yếu kém của DNNN thì nhiều khó khăn của DNNN
có cái do chính yếu của DNNN tạo ra, có cái do cả quá trình lịch sử, có cái do
cơ chế hiện hành.
Sau nhiều năm Đảng và Chính phủ tập trung tìm giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả cho DNNN bằng các định hướng lớn từ quan điểm đến luật lệ và
các quy định cụ thể, DNNN đã được nâng cao hơn quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm trong kinh doanh. Trên nhiều diễn đàn doanh nghiệp có nhiều ý kiến
đòi hỏi cần phải đảm bảo bình đẳng một sân chơi cho các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế và yêu cầu Nhà nước phải tạo môi trường cho doanh
nghiệp ngoài quốc doanh như DNNN.
Một là, quyền tự chủ của doanh nghiệp: hầu hết những doanh nghiệp
lớn đều phải kinh doanh theo chỉ định của Nhà nước. Ngay trong một mặt
hàng kinh doanh cũng không thể có lãi thì làm, lỗ thì thôi, phải mua cái này,
phải dự trữ cái kia, rồi phải bán theo khung giá này v.v và v.v… nhằm giúp
Chính phủ trong điều tiết thị trường.
Hai là, vấn đề nhân sự: Hầu hết các DNNN ở nước ta được thành lập
từ thời bao cấp, đội ngũ lao động tay nghề lạc hậu nhưng lại có thói quen biến
chế cả đời, thay họ không dễ, đó là chưa kể con cháu của ông A, ông B kính
gửi. Họ có thâm niên, tuổi Công đoàn, tuổi Đảng cao hoặc hoàn cảnh kinh tế
15
khó khăn… Lãnh đạo doanh nghiệp, từ cán bộ chủ chốt đến các bộ phận, bên
cạnh nhiều người có năng lực thực sự cũng vẫn còn không ít người kém cả về
năng lực và phẩm chất. Nhất là để thay hay bổ nhiệm một giám đốc doanh
nghiệp với quy trình hiện nay thì rất khó chọn được người giỏi. Hoặc dẫu có
người giỏi thì cũng khó có ai dám làm mạnh bởi còn phải “giữ gìn” để lấy tín
nhiệm kỳ tiếp theo. Có một thực tế là nhiều cán bộ trưởng thành nhờ không
làm gì nhiều nên không sai, còn làm nhiều ắt có sai và hầu như ai cũng gặp
ngoài. Và ở đây cũng phải kể đến giá mua thiết bị mà DNNN phải chịu khấu
hao quá mức bình thường cho phép, không dễ gì một vài ba năm khắc phục
được.
Sáu là, quá ít DNNN vốn tự có đủ theo quy định, đó là chưa kể hiện
nay hơn 50% vốn tự có không phát huy hiệu quả, đang nằm trong tài sản chờ
thanh lý (38% thiết bị chờ thanh lý), số còn lại thường đang mtrong nợ khó
đòi, có cái do chính doanh nghiệp tạo ra, nhưng phân tích kỹ phần lớn do hậu
quả của lịch sử như phải bán chịu, phải ứng trước cho hộ dân, phải xây dựng
công trình này, công trình kia.
Bảy là, các loại kiểm tra, thanh tra chắc chắn là DNNN chịu nhiều hơn
các doanh nghiệp thành phần kinh tế khác, đó là chưa kể đến các chi phí “tài
trợ bắt buộc” mà DNNN phải chi cho các ngày lễ hội từ phường xã trở lên, từ
tổ chức này đến tổ chức khác, nói là tự nguyện nhưng không thể từ chối được.
Đó cũng là nguyên nhân dẫn tới kém hiệu quả trong hoạt động sản xuất
kinh doanh trong các DNNN. Vì vậy, tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy kinh tế nhà
nước phát triển đòi hỏi phải đổi mới tổ chức hoạt động của các DNNN quản lý.
1.1.2 Sự nghiệp đổi mới và quá trình chuyển đổi từ doanh nghiệp
nhà nước sang công ty cổ phần dưới sự lãnh đạo của Đảng ta
* Sự nghiệp đổi mới và quan điểm của Đảng về sự chuyển đổi doanh
nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần
Từ cuối những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỷ XX, đã diễn ra
quá trình khảo nghiệm, tìm tòi con đường đổi mới, nhằm đưa đất nước ra khỏi
17
những khó khăn, trì trệ của sự phát triển kinh tế - xã hội. Đó cũng là quá trình
Đảng Cộng sản Việt Nam đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, nhận
thức đúng đắn và sâu sắc hơn về thời kỳ quá độ và về chủ nghĩa xã hội, để
vận dụng phù hợp với thực tiễn của Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức rằng, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta nhất định phải trải qua những bước đi, những chặng đường
của nhận thức và tư duy như thế.
Trước hết phải đổi mới cơ cấu kinh tế, thực hiện chính sách nhiều
thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển trong suốt thời kỳ quá độ. Đại
hội VI của Đảng xác định cần có chính sách sử dụng đúng đắn các thành phần
kinh tế. Chính sách đó cho phép sử dụng nhiều hình thức kinh tế , với quy
mô, trình độ kỹ thuật thích hợp trong từng khâu của quá trình sản xuất và lưu
thông, khai thác mọi khả năng của các thành phần kinh tế liên kết với nhau,
trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo. Đại hội VI cũng xác định
kinh tế xã hôị chủ nghĩa bao gồm khu vực quốc doanh và khu vực tập thể,
cùng với bộ phận kinh tế gia đình gắn liền với thành phần đó. Các thành phần
kinh tế khác gồm: kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá (thợ thủ công, nông dân cá
thể, những người buôn bán và kinh doanh dịch vụ cá thể); kinh tế tư bản tư
nhân; kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức, mà hình thức cao là công
tư hợp doanh; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân
tộc thiểu số ở Tây Nguyên và các vùng núi cao khác.
Điều quan trọng nhất là củng cố và phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa,
nhưng cũng coi trọng và tạo điều kiện để các thành phần kinh tế khác phát
triển. Khi thực hiện chính sách kinh tế mới, Lênin rất coi trọng sự phát triển
của các thành phần kinh tế khác, nhất là thành phần kinh tế tư bản nhà nước.
Đối với một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội, thì càng cần
thiết phải sử dụng kinh tế tư bản nhà nước. Lênin nhấn mạnh: “Trong một
nước tiểu nông, trước hết các đồng chí phải bắc những chiếc cầu nhỏ vững
chắc, đi xuyên qua chủ nghĩa tư bản nhà nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội,
không phải bằng cách trực tiếp dựa vào nhiệt tình, mà là với nhiệt tình do cuộc
19
cách mạng vĩ đại sinh ra, bằng cách khuyến khích lợi ích cá nhân, bằng sự
quan tâm thiết thân của cá nhân, bằng cách áp dụng chế độ hạch toán kinh tế.
Nếu không, các đồng chí sẽ không tiến đến chủ nghĩa cộng sản được; nếu
không, các đồng chí sẽ không dẫn được hàng chục và hàng chục triệu người
quy định lần này tại Quyết định 143 đã xác định rõ mục tiêu CPH, cách thức
tiến hành CPH. Tuy nhiên, vì vẫn chưa có hướng cụ thể của các Bộ chức năng
như Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội… nên chỉ có một số
xí nghiệp quốc doanh làm thử nghiệm song mỗi nơi làm mỗi kiểu, rời rạc và
không hiệu quả.
Nhận thức rõ CPH là một trong những giải pháp lớn, cơ bản để vực
dậy DNNN ở nước ta, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương II (khoá VII) đã
đưa ra chủ trương: “Chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện
thành công ty cổ phần và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới,
đồng thời xác định phải làm thí điểm, chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu
đáo trước khi mở rộng phạm vi thích hợp” [27, tr.35].
Thực hiện chủ trương trên, ngày 8/6/1992, Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đã ban hành Chỉ thị số 202/CP về “thí
điểm chuyển một số doanh nghiệp thành công ty cổ phần” và chỉ thị số
84/TTg ngày 4/3/1993 về “Xúc tiến thực hiện thí điểm CPH doanh nghiệp và
các giải pháp đa dạng hình thức sở hữu đối với DNNN”.
Sau thời gian thực hiện thí điểm theo các văn bản pháp luật nêu trên,
ngày 7/5/1996 Chính .phủ đã ban hành Nghị định 28/CP về Chuyển đổi một
số DNNN thành công ty cổ phần và Nghị định số 25/CP ngày 26/3/1997 về
sửa đổi một số điều của Nghị định 28/CP. Hai nghị định này đã tạo ra khung
pháp lý đầy đủ hơn để mở rộng CPH DNNN.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, Nghị định 28/CP và Nghị định
25/CP đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập. Việc thay thế hai nghị định trên
bằng một văn bản pháp lý hoàn thiện hơn là yêu cầu cấp bách để đẩy mạnh
CPH DNNN.
21
Đáp ứng yêu cầu đó, ngày 29/6/1998, Chính phủ đã ban hành Nghị
định 44/CP thay thế Nghị định 28/CP và Nghị định 25/CP. Trải qua 4 năm
thực hiện, Nghị định 44/CP cũng gặp không ít vướng mắc mà Nhà nước phải
của CPH so với các hình thức sắp xếp lại DNNN khác như: giao, bán, khoán
hay chuyển đổi sang mô hình công ty TNHH một thành viên. Bởi tất cả các
hình thức sắp xếp này, cơ hội cho cá nhân, tổ chức được góp vốn đầu tư và
tham gia quản lý DNNN là rất hiếm, có thể nói là không thể. Nếu sự sắp xếp
DNNN chỉ bó hẹp trong phạm vi thay đổi chính mình mà cô lập, không có sự
tác động của các tác nhân bên ngoài trong quá trình đổi mới thì cũng rất khó
đạt hiệu quả cao. Còn đối với hình thức cho thuê doanh nghiệp, mặc dù tổ
chức được thuê, quản lý doanh nghiệp có thể đạt một trình độ quản lý rất cao
nhưng cơ hội cho việc tiếp nhận, học hỏi các công nghệ mới đó còn rất hạn
chế.
Hai là, CPH DNNN góp phần xác định rõ trách nhiệm của doanh
nghiệp, người quản lý doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền liên
quan đến doanh nghiệp một cách rõ ràng và cụ thể, đồng thời nâng cao tinh
thần trách nhiệm của doanh nghiệp đối với việc bảo toàn và phát triển vốn, tài
sản Nhà nước giao quản lý tại doanh nghiệp.
Bên cạnh việc xác định trách nhiệm cụ thể của cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền liên quan đến doanh nghiệp, CPH còn góp phần nâng cao ý thức
trách nhiệm của những người quản lý, người lao động đối với doanh nghiệp.
Bởi ví khi DNNN không còn sự bao cấp của Nhà nước như trước mà phải
hoạt động theo cơ chế thị trường thì chính bản thân doanh nghiệp phải biết tự
đứng vững, do đó ý thức trách nhiệm của người quản lý và người lao động
trong doanh nghiệp cũng buộc phải thay đổi. Sự tồn tại của doanh nghiệp có ý
nghĩa sống còn về mặt lợi ích vật chất đối với họ, đối với Nhà nước. Trách
nhiệm và quyền lợi của họ trong doanh nghiệp luôn gắn liền với nhau. Do đó,
các vấn đề tham gia giám sát, kiểm tra hoạt động đối với doanh nghiệp
thường được chú trọng, việc phát huy tinh thần trách nhiệm đối với doanh
nghiệp sẽ được nâng cao.
23
Mặt khác, thông qua CPH DNNN, việc xử lý trách nhiệm của cơ quan
đốc) - Ban kiểm soát (nếu có trên 11 cổ đông). Trong đó, mối quan hệ giữa
Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc (Giám đốc) hoàn toàn có sự phân định rõ
ràng, cụ thể, khác biệt rất lớn so với trong mô hình DNNN trước đó.
Chính vì những ưu điểm trên nên CPH đã trở thành hình thức được lựa
chọn nhiều hơn cả trong quá trình sắp xếp lại DNNN ở nước ta.
* Đảng lãnh đạo quá trình chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước sang
công ty cổ phần
Đảng ta xác định: CPH giai đoạn này nhằm mục tiêu chính là thu hút
vốn và chuyển đổi mô hình tổ chức sản xuất, kinh doanh của DNNN. Đối
tượng CPH vẫn còn khá hẹp, chỉ bao gồm các DNNN vừa và nhỏ, không cần
Nhà nước giữ 100% vốn. Đối tượng mua cổ phần chủ yếu chỉ là cán bộ công
nhân viên trong doanh nghiệp, cổ đông ngoài doanh nghiệp tuy có nhưng ở
mức độ không đáng kể.
Tiếp đó, tháng 5-1996, Chính phủ ban hành Quyết định số 28/CP về
chuyển một số DNNN thành CTCP. Quyết định đã đưa ra một quy trình và
chính sách CPH đồng bộ về các mặt: Mở rộng diện CPH ra tất cả các DNNN
mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn và có phương án SXKD có hiệu quả,
quy mô vừa và nhỏ; mở rộng thêm hình thức CPH một bộ phận doanh nghiệp;
mở rộng quyền quyết định CPH cho bộ và địa phương (doanh nghiệp dưới 3
tỷ đồng); thực thi chính sách ưu đãi cho không cổ phiếu đối với người lao
động trong doanh nghiệp đi cùng chế độ vay trả chậm để mua cổ phiếu; giảm
thuế cho doanh nghiệp sau cổ phần hoá trong hai năm và miễn phí chuyển tài
sản, được vay vốn như DNNN…
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6-1996), Đảng ta nhấn
mạnh: “Thực hiện tốt chủ trương cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà
nước để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn
hiệu quả, làm cho tài sản thuộc sở hữu nhà nước ngày càng tăng lên”. Đại hội
chỉ rõ: “Tổng kết kinh nghiệm, hoàn chỉnh khuôn khổ pháp lý để triển khai
tích cực và vững chắc việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, nhằm tạo