Trình bày vấn đề tổ chức và quản lí công ti Cổ phần theo Pháp luật Việt nam hiện hành - Pdf 34

MỤC LỤC:

A
B
I
1.1
1.2
1.3
1.4
II
2.1
2.1.1
2.1.2
2.1.3
2.1.4
2.2
III
3.1
3.2
3.2.1
3.2.2
3.2.3
C

Tran
g
MỞ ĐẦU
2
NỘI DUNG
2
Khái quát chung

11
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức quản lí của công ti cổ
14
phần
Thay thế, trẻ hoá và nâng cao năng lực của cán bộ quản lí công ti
14
Hoàn thiện việc tổ chức, quản lí đối với CTCP
14
Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
15
luật về tổ chức quản lí công ti cổ phần
KẾT LUẬN
16

A: MỞ ĐẦU.
C.Mác đã từng nói: “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. Cuộc
sống luôn vận động, phát triển với những quan hệ xã hội vô cùng phức tạp. Trong
quá trình tham gia vào các quan hệ xã hội đó, con người cần phải có những sự tổ
chức và quản lí nhất định. Trong nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều
thành phần kinh tế thì vấn đề quản trị doanh nghiệp được đặt lên hàng đầu, bởi có
quản trị tốt thì mới phát triển bền vững, lâu dài. Pháp luật của Nhà nước điều chỉnh
15


vĩ mô hoạt động của các doanh nghiệp và các Doanh nghiệp ngoài việc phải chấp
hành, tuân thủ pháp luật thì còn có sự chi phối Điều lệ của Doanh nghiệp. Pháp
luật có những ưu điểm tuy nhiên không thể tránh khỏi những bất cập. Sau đây, tôi
xin phân tích đề tài: “Trình bày vấn đề tổ chức và quản lí công ti Cổ phần theo
Pháp luật Việt nam hiện hành”.
B: NỘI DUNG.

phần. Giá trị của mỗi cổ phần là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ
phiếu. Một cổ phiếu có thể phản ánh mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phần. Việc
góp vốn vào công ti được thực hiện bằng cách mua cổ phần.
+ Tính tự do chuyển nhượng phần vốn góp: phần vốn góp (cổ phần) của các
thành viên được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu. Các cổ phiếu do công ti phát
hành là một loại hàng hóa. Người có cổ phiếu có thể tự do chuyển nhượng theo
quy định của pháp luật.
+ Về chế độ trách nhiệm: Công ti cổ phần chịu trách nhiệm về các khoản nợ
của công ti bằng tài sản của công ti. Các cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ
và nghĩa vụ tài sản khác của công ti trong phạm vi vốn đã góp vào công ti .
+ Trong qúa trình hoạt động, công ti cổ phần có quyền phát hành chứng
khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán để huy động
vốn.
+ Công ti cổ phần là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân .
1.3, Khái niệm tổ chức quản lí nội bộ công ti và yêu cầu đối với việc tổ chức
quản lí công ti cổ phần.
+ “Quản lí” theo điều khiển học nghĩa là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống
hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng
để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lí nhằm
đạt được những mục đích đã định trước.
Hiện nay thì khái niệm quản lí nội bộ công ti đang có nhiều cách hiểu cũng
như diễn đạt khác nhau nhưng chúng ta có thể hiểu quản lí nội bộ công ti là hệ
thống các cơ chế mà theo đó công ti được quản lí, thông qua việc tổ chức điều
hành nội bộ công ti, mà trong đó các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quản lí
như các cổ đông, HĐQT, Giám đốc, người lao động và những người có lợi ích liên
quan được phân định rõ ràng.
15


Quản lí nội bộ công ti cổ phần là là hệ thống các cơ chế mà chủ thể quản lí



chức, quản lí cổ phần theo LDN 2005 quy định gồm: Đại hội cổ đông, Hội đồng
quản trị, Giám đốc hoặc tổng giám đốc, đối với CTCP trên 11 cổ đông là cá nhân
hoặc có cổ đông là pháp nhân sỡ hữu trên 50% tổng số cổ phần phải có Ban kiểm
soát.

Doanh nghiệp
Đại hội đồng cổ
đông

Hội đồng quản
trị

Ban kiểm soát

Ban giám đốc

Phòng

Phòng

Phòng

Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lí của công ti cổ phần theo pháp luật Việt Nam
hiện hành
2.1.1, Đại hội đồng cổ đông:
+ ĐHĐCĐ là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của CTCP, bao gồm tất
cả các cổ đông có quyền biểu quyết. Như vậy, chỉ có cổ đông có quyền biểu quyết
mới có quyền tham dự ĐHĐCĐ và biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của

h) Xem xét và xử lý các vi phạm của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát gây
thiệt hại cho công ty và cổ đông công ty;
i) Quyết định tổ chức lại, giải thể công ty;
k) Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công
ty.”
15


Là cơ quan tập thể, ĐHĐCĐ thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình chủ
yếu thông qua kì họp của ĐHĐCĐ. Theo khoản 2 Điều 97 LDN 2005 quy định:
“Đại hội đồng cổ đông phải họp thường niên trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày
kết thúc năm tài chính. Theo đề nghị của Hội đồng quản trị, cơ quan đăng ký kinh
doanh có thể gia hạn, nhưng không quá sáu tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài
chính.
Đại hội đồng cổ đông thường niên thảo luận và thông qua các vấn đề sau đây:
a) Báo cáo tài chính hằng năm;
b) Báo cáo của Hội đồng quản trị đánh giá thực trạng công tác quản lý kinh
doanh ở công ty;
c) Báo cáo của Ban kiểm soát về quản lý công ty của Hội đồng quản trị, Giám đốc
hoặc Tổng giám đốc;
d) Mức cổ tức đối với mỗi cổ phần của từng loại;
đ) Các vấn đề khác thuộc thẩm quyền.”
Ngoài ra thì theo khoản 3 Điều 97 LDN thì: “Hội đồng quản trị phải triệu
tập họp bất thường Đại hội đồng cổ đông trong các trường hợp sau đây:
a) Hội đồng quản trị xét thấy cần thiết vì lợi ích của công ty;
b) Số thành viên Hội đồng quản trị còn lại ít hơn số thành viên theo quy định của
pháp luật;
c) Theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 79 của
Luật này;
d) Theo yêu cầu của Ban kiểm soát;

không hạn chế thành viên HĐQT phải có các tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định
của điều 110 LDN 2005, thành viên của HĐQT không nhất thiết là cổ đông nhưng
nếu là cổ đông thì phải sở hữu ít nhất 5% tổng số cổ phần phổ thông. LDN 2005
cũng đã quy định rất cụ thể về thành viên HĐQT tại Điều 109, Điều 110, Điều 114,
Điều 115.
Đứng đầu HĐQT là chủ tịch HĐQT do đại hội cổ đông hoặc HĐQT bầu,
chủ tịch HĐQT có thể kiêm làm Giám đốc hoặc Tổng gám đốc nếu điều lệ công ti
không quy định.
15


Nhiệm vụ và quyền hạn của chủ tịch HĐQT được quy định tại khoản 2 điều
111 LDN 2005, mỗi thành viên của HĐQT có một phiếu biểu quyết, không thành
viên nào của HĐQT có quyền quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐQT,
kể cả chủ tịch HĐQT .
Cuộc họp HĐQT là một nội dung quan trọng trong hoạt đọng của HĐQT.
Cuộc họp HĐQT được quy định cụ thể tại Điều 112 LDN 2005. HĐQT họp định
kì mỗi quý ít nhất một lần, ngoài ra còn họp bất thường, trong trường hợp cần thiết
theo đề nghị của ban kiểm soát của ít nhất 2 thành viên HĐQT, của giám đốc hoặc
ít nhất 5 cán bộ quản lí khác. Người có thẩm quyền triệu tập HĐQT là Chủ tịch
HĐQT hoặc người được Chủ tịch uỷ quyền. Cuộc họp HĐQT được đại hội đồng
cổ đông tiến hành khi có 3/4 tổng số thành viên tham dự.
Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, HĐQT phải tuân thủ đúng quy
định của pháp luật, Điều lệ công ti và Nghị quyết của ĐHĐCĐ.
2.1.3, Giám đốc (Tổng giám đốc) công ti.
Công ti phải có người điều hành hàng ngày. Vì vậy nếu chủ tịch HĐQT
không kiêm làm giám đốc thì HĐQT bổ nhiệm một người trong số họ làm Giám
đốc hoặc thuê người khác làm Giám đốc. Như vậy Giám đốc có thể là thành viên
của HĐQT nhưng cũng có thể không phải là thành viên công ti; có thể là cổ đông
công ti hoặc không (Khoản 1 Điều 116 LDN 2005).

của công ty
2.2, Về thẩm quyền và thể thức hoạt động của các cơ quan trong bộ máy tổ chức
quản lí công ti cổ phần.
Là loại hình công ti đối vốn, có tư cách pháp nhân, công ti cổ phần có tổ
chức quản lí theo cơ chế có sự tách biệt khá rõ ràng giữa quyền sở hữu và quyền
quản lí công ti. Quyền quản lí công ti dàn trải, phân bố cho các cổ đông, mà được
tập trung ở bộ máy quản lí có tính “chuyên nghiệp”, các cổ đông nắm quyền sở
hữu, có quyền bầu ra bộ máy quản lí công ti, nhưng bản thân cổ đông không phải
là người quản lí công ti. Về phương diện khoa học, quyền quản lí công ti được chia
thành ba nhóm cơ bản sau:
- Quyền quyết định nhiều vấn đề quan trọng nhất liên quan đến sự tồn tại công ti.
- Quyền xây dựng chiến lược, kế hoạch , hoạt động kinh doanh và điều hành hoạt
động kinh doanh của công ti.
- Quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của công ti .
15


Theo luật doanh nghiệp 2005, các nhóm quyền quản lí công ti cổ phần được
phân chia cho các cơ quan khác nhau là: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị,
Giám đốc, Ban kiểm soát (nếu có). Sự phân chia thẩm quyền cụ thể được xác định
trong điều lệ công ti trên cơ sở quy định của pháp luật. Về nguyên tắc công ti cổ
phần được tổ chức tập trung theo cơ chế hội đồng theo đó Đại hội cổ đông là cơ
quan có thẩm quyền quyết định cao nhất trong công ti. Với vị trí của mình Đại hội
cổ đông có quyền ấn định quyền hạn và thể thức hoạt động cho mình cùng các cơ
quan khác trong bộ máy tổ chức quản lí công ti. Tuy nhiên, như đã trình bày,
quyền tự quyết trong tổ chức, quản lí công ti phải tuân thủ khuôn khổ pháp luật.
Luật doanh nghiệp 2005 đã thể hiện sự tiến bộ rõ rệt trong các quy định về thẩm
quyền và thể thức hoạt động của các cơ quan trong tổ chức bộ máy quản lí công ti.
Các quy định này có tính mềm dẻo để đảm bảo quyền tự chủ của công ti, đồng thời
vẫn đảm bao tính chặt chẽ để việc tổ chức vận hành công ti không xâm hại tới

Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát phải thực hiện theo phương thức bầu dồn
phiếu…”. Từ đó cho thấy Luật Doanh nghiệp không có quy định về bỏ phiếu
truyền thống và bắt buộc bỏ phiếu dồn. Có thể thấy cách bỏ phiếu truyền thống và
bỏ phiếu dồn theo bảng sau.
Ứng cử viên 1
2
3
4
5
6
7
8
Bỏ
phiếu 10
10
10
10
10
10
10
10
truyền thống phiếu phiếu phiếu phiếu phiếu phiếu phiếu phiế
u
Bỏ phiếu dồn 100
0
0
0
0
0
0


Thứ sáu, khoản 4 Điều 86 quy định: “Cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ
phần trở lên phải được đăng kí với cơ quan đăng kí kinh doanh có thẩm quyền
trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày có được tỉ lệ sở hữu đó”. Đây là một
quy định quản lí về mặt Nhà nước. Mục đích là kiểm soát với công ti nói chung và
với việc đầu tư của các thành phần kinh tế vào công ti cổ phần, tuy nhiên quy định
này lại phần nào làm cho nhà đầu tư cảm thấy e ngại trong việc sử dụng vốn của
mình.
Thứ bảy, điểm b khoản 4 Điều 112 quy định: “Có đề nghị của Giám đốc
hoặc Tổng giám đốc hoặc ít nhất năm người quản lí khác” và khoản 1 Điều 118
quy định: “Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Giám đốc
hoặc Tổng giám đốc và người quản lí khác của công ti phải kê khai …” Vậy theo 2
quy định này thì những “người quản lí khác” ở đây là chưa rõ ràng. Đó có phải là
các trưởng phòng ban, kế toán trưởng, giám đốc bộ phận có quyền yêu cầu hay
không?
Thứ tám, Điều 107 LDN 2005 quy định: “Trong thời hạn chín mươi ngày,
kể từ ngày nhận được biên bản họp Đại hội đồng cổ đông hoặc biên bản kết quả
kiểm phiếu lấy ý kiến Đại hội đồng cổ đông, cổ đông, thành viên Hội đồng quản
trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Ban kiểm soát có quyền yêu cầu Toà án hoặc
Trọng tài xem xét, huỷ bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông trong các trường
hợp sau đây:
1. Trình tự và thủ tục triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông không thực hiện
đúng theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty;
2. Trình tự, thủ tục ra quyết định và nội dung quyết định vi phạm pháp luật
hoặc Điều lệ công ty.”
Pháp lệnh trọng tài thương mại ban hành ngày 25/2/2003 lại quy định:
“Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương
mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do
Pháp lệnh này quy định”. Quyết định của ĐHĐCĐ là một hành vi thương mại và
yêu cầu hủy bỏ quyết định cũng không phải là một tranh chấp phát sinh trong hoạt

3.2.3, Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về
tổ chức quản lí công ti cổ phần.
Thứ nhất, hoàn thiện quy định về mở rộng công khai thông tin về CTCP,
thông tin đầy đủ, minh bạch, chính xác, trung thực là một trong những yếu tố đánh
15


giá sức mạnh quản lí của CTCP. Đây là nền tảng quan trọng để các nhà quản lí đề
ra kế hoạch hoạt động cho công ti, đồng thời cũng là cơ sở để các nhà đầu tư và đối
tác có quyết định đúng đắn. Điều 129 LDN năm 2005 đã quy định về “ Công khai
thông tin về công ty cổ phần”. Ở đây chỉ mới quy định về loại thông tin và quyền
xem xét hoặc sao chép thông tin của cá nhân, tổ chức. Nhưng vấn đề đặt là không
tin được được công khai nhưng phải là thông tin chính xác, phản ánh đúng thực
trạng và năng lực của công ty.
Thứ hai, Điều 111 khoản 1 quy định “Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể
kiêm giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nêú điều lệ công ty không có quy định
khác”. Vì vậy, để tăng cường chức năng giám sát của HĐQT, đảm bảo sự cân bằng
về quyền lực, nâng cao tính độc lập, trách nhiệm cá nhân trong quản lí điều hành
công ty, cần phải quy định phân tách rõ ràng vai trò của Chủ tịch HĐQT với Giám
đốc (Tổng giám đốc).
Thứ ba, Về Giám đốc và Tổng giám đốc. Theo quy định của Luật doanh
nghiệp năm 2005 thì GĐ hay TGĐ có thể là được thuê nhưng quy định về GĐ
(TGĐ) được thuê chưa được quy định cụ thể, cần phải bổ sung quy định về vị trí
này:
Chẳng hạn như: hợp đồng, các nội dung của hợp đồng thuê GĐ, điều kiện
với GĐ (TGĐ) được thuê. Bên cạnh đó, cần phải quy định thêm về quyền hạn trách
nhiệm của GĐ (TGĐ).
Thứ tư, đa dạng các hình thức bỏ phiếu, nên quy định cả hình thức bỏ phiếu
dồn và bỏ phiếu truyền thống. Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam thì bỏ phiếu
truyền thống đơn giản, thuận tiện, dễ tiến hành. Doanh nghiệp quy mô lớn, bỏ

2. Luật Doanh nghiệp năm 2005;
3. Trường Đại học Luật Hà Nội, Khuất Quang Phát, Tổ chức quản lí công ti cổ
phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, Khóa luận tốt nghiệp, Hà nội, 2008;
15


4. Trường ĐH Luật Hà Nội, Cao Thị Kim Trinh, Tổ chức quản lí công ti cổ phần –
Những vấn đề lí luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội, 2004;
5. Thạc sỹ. Nguyễn Thị Khế, Pháp luật về tổ chức các hình thức kinh doanh, NXB
Tư pháp, Hà Nội, 2007;
6, Luật gia: Hoàng Thanh – Minh Châu (Bộ tư pháp), Cẩm nang pháp luật dành
cho các doanh nghiệp, Nxb Lao động – xã hội, 2005.

15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status