TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Niên Khóa: 2011-2015
Đề tài:
THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT
NAM HIỆN HÀNH
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Mỹ Linh
Nguyễn Thị Thúy Loan
Bộ môn Luật Tư Pháp
MSSV: 5117318
Cần Thơ, 11/2014
Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện hành
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện hành
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
.....................................................................................................
.....................................................................................................
.....................................................................................................
.....................................................................................................
.....................................................................................................
.....................................................................................................
.....................................................................................................
.....................................................................................................
.....................................................................................................
.....................................................................................................
.....................................................................................................
.....................................................................................................
.....................................................................................................
.....................................................................................................
.....................................................................................................
.....................................................................................................
.....................................................................................................
.....................................................................................................
.....................................................................................................
.....................................................................................................
.....................................................................................................
.....................................................................................................
Ngày….. tháng…..năm 2014
Luật đất đai
4
QSDĐNN
Quyền sử dụng đất nông nghiệp
5
UBND
Ủy ban nhân dân
iii
Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện hành
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU .................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Mục đích nghiên cứu đề tài .............................................................................. 2
3. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 2
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài ................................................................................ 2
5. Kết cấu đề tài ................................................................................................... 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP .................................................................................................. 4
1.1 Khái niệm chung về thừa kế và quyền thừa kế ................................................ 4
1.6 Mối quan hệ giữa quyền thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp với quyền sở
hữu .......................................................................................................................... 21
CHƯƠNG 2. THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRONG
HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH ...................................... 23
2.1 Thời điểm mở thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp ................................. 23
2.1.1 Đối với người có tài sản chết ................................................................. 23
2.1.2 Đối với người bị Tòa án tuyên bố chết ................................................... 24
2.2 Người để lại di sản thừa kế là quyền sử dụng đất nông nghiệp ...................... 26
2.2.1 Quyền để lại di sản thừa kế của cá nhân được nhà nước giao đất ........... 28
2.2.2 Quyền để lại di sản thừa kế của cá nhân được nhà nước chuyển quyền sử
dụng đất nông nghiệp........................................................................................... 30
2.2.3 Quyền để lại di sản thừa kế của cá nhân được nhà nước cho thuê đất. .... 32
2.2.4 Thành viên của hộ gia đình để thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp.. 33
2.3 Điều kiện để được coi là di sản thừa kế về quyền sử dụng đất nông nghiệp .. 35
2.3.1 Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp ............................. 35
2.3.2 Đất nông nghiệp không có tranh chấp .................................................... 37
2.3.3 Quyền sử dụng đất nông nghiệp không bị kê biên để bảo đảm thi hành án
............................................................................................................................ 37
2.3.4 Trong thời hạn sử dụng đất nông nghiệp ................................................ 38
2.4 Người được quyền hưởng thừa kế về quyền sử dụng đất nông nghiệp .......... 39
2.4.1. Phải còn sống vào thời thời điểm mở thừa kế........................................ 40
2.4.2 Không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản ..................... 42
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐu GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG
NGHIỆP ............................................................................................................ 45
3.1 Thực tiễn áp dụng về thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta trong
giai đoạn hiện nay.................................................................................................... 45
3.1.1 Hòa giải tại Ủy ban Nhân Dân cấp xã. ................................................... 46
Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện hành
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế, Việt Nam đang trong quá trình
chuyển đổi và pháp triển về mọi mặt của đời sống. Thế nhưng muốn phát triển
đất nước, trươc tiên cần xây dựng mỗi gia đình hạnh phúc, hòa thuận vì mỗi gia
đình là tế bào của xã hội. Để thực hiện mục tiêu đó, trong những năm qua Đảng
và Nhà nước ta đã đề và thực hiện những chủ trương, đường lối nhằm đổi mới
toàn diện đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực pháp luật. Việt Nam là một nước coi
trọng quyền công dân nói chung và quyền thừa kế là một trong những quyền cơ
bản của công dân được pháp luật bảo vệ. Nó trở thành một nguyên tắc hiến định.
Quyền thừa kế đối với di sản là quyền sử dụng đất nông nghiệp cũng không kém
phần quan trọng, là một hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ quyền lợi của người
sử dụng đất nông nghiệp. Với vai trò thiết thật như vậy, chế định thừa kế quyền
sử dụng đất nông nghệp có giá trị rất quan trọng trong Bộ luật Dân sự và Luật
Đất đai.
Trong các văn kiện của Đảng và các văn bản pháp luật trải qua các thời kì
đều giành phần quan tâm sâu sắc đến quyền thừa kế quyền sử dụng đất nông
nghiệp. Tuy nhiên về thực tiễn do sự phát triển mạnh mẽ của đời sống kinh tế xã hội của đất nước, nên pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp
hiện hành vẫn chưa thể trù liệu hết những trường hợp, tình huống xảy ra trên thực
tế. Còn một số quy định của pháp luật về thừa kế còn quy định chung chung,
chưa chi tiết, rõ ràng lại còn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể cho từng vấn đề.
Vì vậy, có nhiều quan điểm trái chiều, chưa thống nhất nên khi áp dụng vào thực
tế sẽ xảy ra tình trạng không thống nhất trong cách hiểu cũng như cách giải
quyết. Điều đó đã xâm phạm quyền thừa kế của công dân, đôi khi còn gây bất ổn
trong đời sống sinh hoạt của mỗi gia đình, cộng đồng và xã hội.
Trước tình hình thực tế về việc thực hiện quyền thừa kế quyền sử dụng đất
dùng, người dùng chủ yếu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Dựa trên các điều khoản của pháp luật
về thừa kế người viết đã phân tích nó thành những yếu tố đơn giản để nghiên cứu
và làm sang tỏ vấn đề sau đó tổng hợp các vấn đề có liên quan đã được phân tích.
Phương pháp so sánh, đối chiếu: Vận dụng phương pháp này, người viết
so sánh những điểm giống nhau cũng như những điểm khác nhau của pháp luật
về thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp qua các thời kỳ. Bên cạnh đó, đối
chiếu giữa lý luận và thực tiễn để tìm ra và giải quyết những khó khăn thách thức
trong chế định này.
Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu: Thu thập và nghiên cứu tài
liệu là một công việc quan trọng trong bất kỳ một hoạt động nghiên cứu nào. Để
thuận tiện cho việc nghiên cứu, người viết đã thu thập nhiều tài liệu khác nhau
như: sách bình luận khoa học về thừa kế, giáo trình, Tập chí… và tiếp thu nó.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài này được xác định trong phạm vi các quy định của
pháp luật Việt Nam. Đặc biệt tập trung nghiên cứu các quy phạm của pháp luật
hiện hành. Do mức độ phức tạp trong lĩnh vực thừa kế nói chung và vấn đề thừa
kế quyền sử dụng đất nông nghiệp nói riêng, người viết chỉ tập trung nghiên cứu
các chế định thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp trong nước, các bất cập
trong việc áp dụng các quy định này và tìm ra giải pháp nhằm khắc phục.
2
Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện hành
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Luận văn
còn có phần nội dung nghiên cứu được cơ cấu thành ba chương :
Chương 1. Cơ sở lý luận về thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp
Chương 2. Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp trong hệ thống pháp
luật Việt Nam hiện hành.
Từ khi có nhà nước, mỗi nhà nước đều sử dụng những công cụ hữu ích để
quản lý xã hội và pháp luật. Lúc này, tài sản không còn là thuộc sở hữu chung
của cộng đồng nữa mà là thuộc sở hữu cá nhân, một người chết đi việc để lại tài
sản cho những người còn sống không thể không có một chứng thư hay bất cứ thứ
gì để chứng minh mà người chết đó đã để lại cùng tài sản là một chứng thư để
chứng minh việc để lại tài sản của mình, nếu người này không để bất cứ thứ gì
thì pháp luật cũng có những chế định để bảo vệ chế độ chiếm hữu tư nhân cũng
như việc bảo vệ quyền lợi cho những người thân thuộc của người chết đó.
1
Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang, Pháp luật về thừa kế và giải quyết tranh chấp, Nxb Tư pháp, Hà
Nội, 2013, tr. 7.
4
Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện hành
Nói chung, việc một người chết đi để lại tài sản cho người sống và người
sống này có quyền sở hữu nó theo di chúc hoặc theo pháp luật đó chính là thừa
kế hay “Thừa kế là hưởng của người chết để lại cho”.2
1.1.2 Khái niệm về quyền thừa kế
Quyền thừa kế là một phạm trù pháp luật, chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã
hội đã có nhà nước và pháp luật. Nhà nước quản lý xã hội thông qua cơ chế điều
chỉnh các quan hệ các quan hệ, hiện tượng phát sinh trong xã hội bằng pháp luật
chính là việc nhà nước ban hành ra luật và dùng luật tác động đến các quan hệ,
hiện tượng xã hội. Thừa kế cũng không nằm ngoài cơ chế điều chỉnh này. Vì vậy,
về phương diện khách quan (nghĩa rộng) thì quyền thừa kế là tổng hợp các quy
phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh quá trình dịch chuyển
4
Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2005.
5
Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện hành
Ngoài ra, cá nhân có thể có quyền hưởng di sản. Nếu việc hưởng di sản
của một người được xác định theo ý chí của người để lại di sản thể hiện trong di
chúc của họ thì được gọi là quyền hưởng di sản theo di chúc. Nếu việc hưởng di
sản của một người được xác định theo quy định của pháp luật thì được gọi là
quyền hưởng di sản theo pháp luật.
Việc để lại thừa kế, việc nhận di sản thừa kế là hai phạm trù khác nhau, là
hai cặp đối lập nhưng lại cùng thống nhất với nhau, là hai yếu tố cấu thành nên
khái niệm quyền thừa kế. Hai yếu tố này liên hệ mật thiết với nhau để qua đó
phản ánh quá trình dịch chuyển tài sản của người đã chết sang cho người sống
khác.
Như vậy, theo quy định pháp luật, quyền thừa kế của cá nhân bao gồm:
Quyền để lại di sản theo di chúc;
Quyền để lại di sản theo pháp luật;
Quyền nhận di sản theo di chúc;
Quyền nhận di sản theo pháp luật.
Như vậy, quyền để lại di sản của người có tài sản cho người thừa kế và
quyền được thừa kế di sản là hai nội dung cơ bản của quyền thừa kế được pháp
luật công nhận và bảo vệ.
1.2 Khái niệm chung về quyền sử dụng đất và thừa kế quyền sử dụng đất
nông nghiệp
1.2.1 Khái niệm về quyền sử dụng đất
Khác với các nước tư bản chủ nghĩa, Việt Nam là một nước xã hội chủ
khái niệm này, đó là việc phân chia thành quyền sử dụng đất “đích thực” và
“tiềm năng” .
Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng “Quyền sử dụng đất là quyền khai thác
các thuộc tính có ích của đất để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã
hội của đất nước”.8 Theo quan điểm này thì khái niệm quyền sử dụng đất được
xem xét với góc độ kinh tế nhằm mục tiêu phát triển đất nước.
Mặc dù LĐĐ 2013 và BLDS 2005 không xây dựng khái niệm quyền sử
dụng đất nông nghiệp (QSDĐNN) nhưng thông qua quy định quyền sử dụng
chúng ta có thể khái quát lên khái niêm QSDĐNN. Theo đó, “Quyền sử dụng là
quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản”.9 Quyền khai thác
công dụng của tài sản được thực hiện tùy thuộc vào từng loại tài sản kết hợp với
mục đích sử dụng của người sử dụng chúng. Chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu
5
Lê Xuân Bách, Sự hình thành và phát triển thị trường bất động sản trong công cuộc đổi mới ở Việt
Nam, Nxb khoa học kỹ thuật Hà Nội, Hà Nội, 2003, tr. 83.
6
Điều 164 Bộ luật Dân sự năm 2005.
7
Nguyễn Ngọc Điện, Cấu trúc kỹ thuật của hệ thống pháp luật sở hữu bất động sản Việt Nam, góc
nhìn pháp luật, Tập chí nghiên cứu lập pháp, số 6, 2007.
8
Trần Quan Huy, Giáo trình luật đất đai, Nxb Công an nhân dân, Đại học Luật Hà Nội , 2008, Tr.92.
Theo cách hiểu thông thường, đất nông nghiệp là những vùng đất hoặc
khu vực thích hợp cho việc sản xuất, canh tác nông nghiệp, bao gồm cả trồng trọt
và chăn nuôi. Theo quy định LĐĐ 2013 thì nhóm đất nông nghiệp bao gồm
những loại đất sau:
Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm
khác; Đất trồng cây lâu năm; Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng
đặc dụng; Đất nuôi trồng thủy sản; Đất làm muối; Đất nông nghiệp khác gồm đất
sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt,
kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn
nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất
trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí
nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh.11 Cụ thể,
10
Điều 53, Hiến Pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
11
Khoản 1 điều 10 Luật đất đai năm 2013.
8
Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện hành
đất nông nghiệp bao gồm: Đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi
trồng thủy sản, đất lâm nghiệp và đất nông nghiệp khác. Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp: Là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản
xuất nông nghiệp. Bao gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm.
Đất lâm nghiệp: Là đất có rừng tự nhiên hoặc có rừng trồng. Đất khoanh
đình, có người được hưởng thừa kế, có người không được hưởng, mà người
9
Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện hành
không được hưởng đôi khi lại chính là người đang làm nghĩa vụ với Nhà nước.
Ví dụ như lúc mở thừa kế họ đang tại ngũ nên không có điều kiện trực tiếp sử
dụng đất đúng mục đích thì không thể chia thừa kế QSDĐNN để trồng cây hàng
năm, nuôi trồng thuỷ sản, bên cạnh đó việc luật quy định “có điều kiện trực tiếp
sử dụng đất đúng mục đích” buộc người được thừa kế phải trực tiếp cày, cuốc
trên mảnh đất là không hợp lý, bởi nếu quy định như vậy sẽ không khuyến khích
việc tích tụ, tập trung đất để sản xuất trên quy mô lớn, không khuyến khích người
dân tích cực đầu tư, cải tạo đất… .
Nhận rõ những hạn chế trên, khi soạn thảo, ban hành LĐĐ năm 2003 sau
này là LĐĐ 2013 đã có sự thay đổi rất lớn, LĐĐ thực sự coi quyền sử dụng đất
như một loại tài sản, mặt khác đã thể hiện rõ quyền được hưởng thừa kế quyền sử
dụng đất của người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Tại điểm đ khoản 1 Điều
179 LĐĐ 2013 quy định: “Cá nhân sử dụng đất có quyền để thừa kế quyền sử
dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật”.
Hộ gia đình được Nhà nước giao đất, nếu trong hộ có thành viên chết thì
quyền sử dụng đất của thành viên đó được để thừa kế theo di chúc hoặc theo
pháp luật.
Trường hợp người được thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài
thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 186 của Luật này thì được nhận thừa
kế quyền sử dụng đất; nếu không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 186
của Luật này thì được hưởng giá trị của phần thừa kế đó.
Theo quy định tại chương 33, phần thứ 5 BLDS năm 2005 thì: “cá nhân
được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất có quyền
thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định tại phần thứ tư của Bộ luật này và pháp
luật về đất đai”.12 Như vậy, không chỉ những trường hợp được nhà nước giao đất,
hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”.13 Trên cơ sở đó Điều 631
BLDS 2005 đã xác định rõ nội dung của quyền này. Trước hết đảm bảo cho mọi
cá nhân đều có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình “Điều có quyền
để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật. Điều quan trọng là mỗi
cá nhân đều có quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”. Thậm chí
là quyền từ chối di sản thừa kế. Mặt khác nhà nước còn bảo hộ quyền thừa kế,
thể hiện trong việc đảm bảo cho mọi công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp
pháp của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất. Đặc biệt là “tài
sản hợp pháp thuộc sở hữu tư nhân không giới hạn về số lượng, giá trị”... Do đó
tất cả mọi tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân sẽ trở thành di sản
thừa kế khi người đó chết, được nhà nước tôn trọng và pháp luật bảo vệ. Đây là
một nội dung quan trọng đánh dấu sự phát triển mới và là bản chất ưu việt
của pháp luật thừa kế ở nước ta.
1.3.1.2 Nguyên tắc bình đẳng về thừa kế
Nguyên tắc bình đẳng về thừa kế của cá nhân đã được quy định cụ thể
trong BLDS 1995 theo đó: “mọi cá nhân đều bình đằng về quyền để lại tài sản
của mình cho người khác và hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”.14
Quy định này được giữ nguyên tại Điều 632 BLDS 2005 .Đây là sự cụ thể hóa
nguyên tắc bình đẳng đã được quy định trong Điều 5 BLDS 2005 “Trong quan
13
khoản 2 điều 32 Hiến pháp năm 2013.
14
Điều 635 Bộ luật Dân sự năm 1999.
11
sản chung”15 và “Vợ, chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc
chung bất cứ khi nào …..Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy
bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết
thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của
mình”.16
15
Điều 663 Bộ luật dân sự năm 2005.
16
Điều 664 Bộ luật dân sự năm 2005.
12
Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện hành
Vợ chồng có quyền hưởng di sản của nhau khi một bên chết trước.
Do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, pháp luật về thừa kế quyền sử dụng
đất thời phong kiến với tư tưởng trọng nam khinh nữ. Coi trọng tuyệt đối quyền
của người chồng với tư cách là người đứng đầu trong gia đình. Nên pháp luật
thời phong kiến quy định rất khắc khe. Theo đó, người vợ chết trước, người
chồng trở thành chủ sở hữu duy nhất tất cả của cải chung, trong đó bao gồm cả
tài sản riêng của vợ.17 Ngược lại, nếu người chồng chết trước, người vợ chỉ có
quyền quản lý khối tài sản chung để phục vụ cho lợi ích của cả gia đình. Người
vợ chỉ được hưởng dụng tài sản riêng của chồng khi không còn người thừa kế
bên nội, bên ngoại khác của chồng.18 Nếu người chồng chết trước mà người vợ
tái giá thì phải để lại cho con tài sản chung của vợ chồng, phải trả lại cho gia đình
bên chồng toàn bộ tài sản riêng của người chồng, người vợ chỉ được mang theo
20
Điểm a, khoản 1, điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005.
13
Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện hành
bên nội hay bên ngoại.21 Các Cháu, không phân biệt là bên nội hay bên ngoại.
Các cháu, không phân biệt cháu nội hay cháu ngoại, cháu trai hay cháu gái mà
luôn có quyền ngang nhau khi hưởng thừa kế của ông hoặc bà ở hàng thừa kế thứ
hai. Anh chị em ruột có quyền ngang nhau khi hưởng di sản của người chết là
anh, chị, em ruột của mình mà không phân biệt anh trai với chị gái, em trai với
em gái. Các cụ có quyền ngang nhau khi hưởng di sản của người chết là chắt mà
không phân biệt cụ nội hay cụ ngoại.
1.3.1.3 Nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt của người để lại di sản và ý
chí của người thừa kế
Tôn trọng quyền định đoạt của người để lại di sản
Theo nguyên tắc này, các cá nhân khi đã có đủ năng lực chủ thể đều có
quyền bằng ý chí của mình để giải quyết định có lập di chúc hay không, phân
định tài sản cho ai, cho mỗi người bao nhiêu, cho loại tài sản nào, để lại bao
nhiêu phần di sản để di tặng hoặc dùng vào việc thờ cúng hoàn toàn theo sự tự
nguyện của họ mà không được ép buộc và ngăn cản. Ngoài ra, người đã lập di
chúc luôn có quyền thay đổi sự định đoạt của mình thông qua việc sữa đổi, bổ
sung hoặc thay thế di chúc.
Nếu một người đã chết để lại di chúc và di chúc có hiệu lực pháp luật thì
phải căn cứ vào di chúc để dịch chuyển di sản của họ cho những người thừa kế
theo ý chí mà họ đã thể hiện trong di chúc đó. Chỉ có thể dịch chuyển di sản của
họ cho người thừa kế theo quy định của pháp luật trong trường hợp không có di
chúc hoặc di chúc không có hiệu lực pháp luật.
hưởng di sản phải tuân thủ các điều kiện của một giao dịch dân sự.
Hai là: Từ chối nhận di sản không cần xác định người hưởng di sản (phần
từ chối) là ai nhưng nhường quyền hưởng di sản phải xác định cụ thể người được
nhường quyền.
Ba là: Chỉ định từ chối nhận di sản trong thời hạn sáu tháng kể từ thời
điểm mở thừa kế nhưng việc nhường quyền hưởng di sản không bị hạn chế về
thời hạn, miễn là trước khi di sản thừa kế được phân chia.
Bốn là: Nếu phần di sản bị từ chối nhận di sản là phần di sản được thừa kế
theo di chúc thì phần di chúc liên quan đến phần di sản của người đó trở nên
không còn hiệu lực. Nên phần di sản đó được chia cho tất cả những người thừa
kế theo pháp luật của người để lại di sản. Trong trường hợp quyền hưởng di sản
là thừa kế theo pháp luật bị từ chối thì phần di sản đó thuộc về những người thừa
kế theo pháp luật còn lại. Tuy nhiên, nếu nhường quyền hưởng di sản thì theo
phần di sản đó chỉ thuộc về người được nhường (đã được xác định theo ý chí của
người nhường quyền nhận di sản).
1.3.1.4 Nguyên tắc cũng cố, giữ vững tình yêu thương và đoàn kết trong
gia đình
Nguyên tắc này xuất pháp từ nguyên tắc chung trong quan hệ dân sự, đó
là: Việc xác lập thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự phải bảo đảm giữ gìn bản sắc
dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp, tinh thần
đoàn kết, tương thân tương ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người
và giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.
Bằng các nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong BLDS, pháp luật thừa kế
nói chung và thừa kế QSDĐNN nói riêng ở nước ta đã bảo vệ lợi ích hợp pháp
23
Điều 636 Bộ luật Dân sự năm 2005.
15
định của pháp luật đất đai về điều kiện được để thừa kế, loại đất được phép để
thừa kế và trình tự thủ tục nhận thừa kế.
24
Điều 733 Bộ luật dân sự năm 2005.
16
Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện hành
1.4 Lược sử hình thành và sự phát triển của chế định thừa kế quyền
sử dụng đất nông nghiệp trong pháp luật Việt Nam
Trong các triều đại phong kiến, tư tưởng nho giáo đã ảnh hưởng một cách
sâu sắc, trực tiếp đến toàn bộ quan hệ xã hội của nước ta. Nhất là từ thời Lê, các
tư tưởng Nho giáo đã được Nhà nước phong kiến đề lên thành luật. Quan hệ pháp
luật thừa kế trong phong kiến cũng không nằm trong trường hợp ngoại lệ, ngược
lại các quan hệ này chi phối một cách sâu sắc của tư tưởng trọng nam khinh nữ,
đề cao vai trò của người chồng trong gia đình.
1.4.1 Chế định thừa kế quyền sử dụng đất dưới thời Lê
Nói đến tài sản của gia đình, các quy định trong pháp luật của triều đại nhà
Lê đề lên hàng đầu là điền thổ (đất làm ruộng). Theo đó “Chồng cùng vợ trước
có con, vợ sau không có con, hay vợ cùng chồng trước có con, chồng sau không
có con, mà chồng chết trước không có chúc thư, thì điền sản thuộc về con vợ
trước hay con chồng trước;…”,25 “Vợ chồng không có con, hoặc ai chết trước,
không có chúc thư, mà điền sản chia về chồng hay vợ, cùng là để về việc tế tự
không đúng phép, thì xử phạt 50 roi, biếm một tư. ..”.26 Như vậy, Bộ luật Hồng
Đức (những quy định cơ bản về thừa kế) chỉ đề cập đến điền thổ mà thôi, hoàn
toàn không nói gì đến các loại tài sản khác. Theo GS. Vũ Văn Mẫn thì “Điều này
cũng dễ hiểu vì trong một nền kinh tế trọng nông, chỉ có điền thổ mới được coi là
chia của cải với cha mẹ (trừ khi cha mẹ đồng ý), trẻ nhỏ không được phép tạo lập
của cải riêng.
Theo Hoàng Việt luật lệ, con gái không có quyền thừa kế gia tài (trừ khi
theo di chúc cha mẹ có chia cho con gái). Đây là một thụt lùi cơ bản so với quy
định của nhà Lê, do việc quá câu nệ những tư tưởng Nho Giáo nặng nề, trọng
nam khinh nữ.
Đối với ruộng hương quả, nếu không có con trai phải cho cháu trai (con
trai người con thứ); trừ khi không có cháu trai nào khác để thừa kế mới trao cho
con gái trưởng. Đây cũng là một điểm khác biệt so với Nhà Lê.
1.4.3 Chế định thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp dưới thời Pháp
thuộc
Dưới thời Pháp thuộc, nước ta bị chia cắt thành ba kỳ (Bắc kỳ, Trung kỳ
và Nam kỳ). Ứng với ba kỳ có ba bộ luật: Dân luật Bắc kỳ (năm 1931), Hoàng
Việt Trung kỳ hộ luật (năm 1936) và Dân luật giản yếu Nam kỳ (năm 1883). Đối
với Pháp, ruộng đất vẫn thuộc sở hữu của giai cấp thống trị, người dân không có
một quyền hạn nào trên mãnh đất mà họ đã tạo ra. Chế định thừa kế QSDĐNN
chỉ được áp dụng đối với vua, quan và địa chủ trung thành với Pháp. Điểm khác
biệt của Pháp luật thừa kế QSDĐNN của Pháp thời này là xuất hiện khái niệm
“Kỳ điền”28 và “Hậu điền”29 xuất hiện nhằm mục đích để xác định phần bất
động sản trong tài sản của người chết lập ra để cúng giỗ một người trong gia tộc
người ấy hoặc cúng chùa.
1.4.4 Từ Cách mạng tháng Tám năm 1954 đến nay
Do những điều kiện nhất định nên sắc lệnh số 47/SL ngày 10-10-1945 cho
phép tạm thời áp dụng những văn bản pháp luật dân sự của chế độ cũ với điều
kiện “những luật lệ ấy không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và
chính thể cộng hòa”. Hiến pháp 1980 ra đời, quyền thừa kế của công dân được
tiếp tục ghi nhận trong văn bản pháp lý cao nhất này. “Pháp luật bảo hộ quyền
thừa kế tài sản của công dân”.30 Để phục vụ cho việc xét xử các tranh chấp về
thừa kế, qua tổng kết rút kinh nghiệm công tác xét xử về thừa kế, Tòa án nhân
dân tối cao đã ban hành Thông tư 81 ngày 27-7-1981 hướng dẫn giải quyết các