Quyền của người lập di chúc theo pháp luật việt nam hiện hành - Pdf 38

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ TRÀ MY

QUYỀN CỦA NGƢỜI LẬP DI CHÚC
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ TRÀ MY

QUYỀN CỦA NGƢỜI LẬP DI CHÚC
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

Chuyên ngành

: Luật Dân sự và tố tụng dân sự

Mã số

: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2015
Tác giả Luận văn

Nguyễn Thị Trà My


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1 - KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI LẬP DI
CHÚC

........................................................................................................... 8

1.1. Khái niệm di chúc .................................................................................... 8
1.2. Người lập di chúc .................................. Error! Bookmark not defined.
1.2.1. Yêu cầu về độ tuổi của người lập di chúcError! Bookmark not defined.
1.2.2. Yêu cầu về nhận thức của người lập di chúcError! Bookmark not defined.
1.3. Quyền của người lập di chúc ................. Error! Bookmark not defined.
1.4. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về quyền của
người lập di chúc ở Việt Nam ....................... Error! Bookmark not defined.
1.4.1. Giai đoạn trước năm 1945................. Error! Bookmark not defined.
1.4.2. Giai đoạn từ 1945 đến trước ngày 1/7/1996Error! Bookmark not defined.
1.4.3. Giai đoạn từ ngày 1/7/ 1996 đến nay Error! Bookmark not defined.
Chƣơng 2 - QUYỀN CỦA NGƢỜI LẬP DI CHÚC THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN HÀNH ............................ Error! Bookmark not defined.
2.1. Phạm vi quyền của người lập di chúc .... Error! Bookmark not defined.
2.1.1. Chỉ định người thừa kế; Truất quyền hưởng di sản của người thừa
kế


người lập di chúc ........................................... Error! Bookmark not defined.
3.2.1. Về phạm vi quyền của người lập di chúcError! Bookmark not defined.
3.2.2. Về người lập di chúc ......................... Error! Bookmark not defined.

3.2.3. Về truất quyền hưởng di sản của người thừa kếError! Bookmark not defined.
3.2.4. Về Di tặng, thờ cúng ........................ Error! Bookmark not defined.
3.2.5. Về sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúcError! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN .................................................... Error! Bookmark not defined.


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT

Ký hiệu

1

BLDS

2

BLDS 1995

Bộ luật dân sự năm 1995

3

BLDS 2005

Bộ luật dân sự năm 2005

Trong đó, nếu sở hữu là cơ sở làm xuất hiện vấn đề thừa kế thì đến lượt mình,
thừa kế lại là phương tiện để duy trì và củng cố vấn đề sở hữu” [28, tr.8].
Trong bất kỳ chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa kế cũng có vị
trí quan trọng trong các chế định pháp luật, là hình thức pháp lý chủ yếu để
bảo vệ các quyền của công dân. Chính vì vậy, thừa kế đã trở thành một nhu
cầu không thể thiếu được đối với đời sống của mỗi cá nhân, gia đình, cộng
đồng xã hội. Mỗi nhà nước dù có các xu thế chính trị khác nhau, nhưng đều
coi thừa kế là một quyền cơ bản của công dân và được ghi nhận trong Hiến
pháp, trong pháp luật dân sự…
Về mặt tâm lý, cá nhân không chỉ muốn mình có quyền năng đối với
khối tài sản của mình khi còn sống, mà còn muốn chi phối nó ngay cả khi đã
chết. Vì vậy, Nhà nước đã công nhận quyền thừa kế của cá nhân đối với tài
sản trong đó có quyền của người lập di chúc. Pháp luật quy định cá nhân có
quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình, để lại tài sản của mình cho
những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc, khi họ chết tài sản của
họ sẽ được để lại cho những ai, tỷ lệ bao nhiêu… đó là quyền tự do định đoạt
của người để lại di sản thừa kế. Bởi thế, các quyền của người lập di chúc luôn
được pháp luật tôn trọng, bảo vệ.
1


Ở Việt Nam, trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước, các quy định về
quyền của người lập di chúc đã được quy định trong các bộ hình luật của các
nhà nước phong kiến. Trải qua thời kỳ Pháp thuộc, các quy định về quyền của
người lập di chúc tiếp tục được quy định trong các luật hộ khác nhau được áp
dụng tại ba miền Bắc, Trung, Nam. Sau năm 1945, các quy định về quyền của
người lập di chúc luôn luôn được đề cập trong các thông tư, văn bản tổng kết
công tác xét xử của Tòa án nhân dân tối cao. Bước vào thời kỳ đổi mới, các
quy định về quyền của người lập di chúc được pháp điển hóa và quy định
trong các văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn như Pháp lệnh Thừa kế năm

cũng như sự tôn trọng của nhân dân vào pháp luật. Vì vậy, tôi đã lựa chọn đề
tài: “Quyền của ngƣời lập di chúc theo pháp luật Việt Nam hiện hành”
nghiên cứu làm luận văn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thừa kế là vấn đề được quan tâm rất lớn trong lĩnh vực khoa học pháp
lý. Tính đến thời điểm hiện nay, đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên
cứu về lĩnh vực thừa kế. Trong đó có một số công trình của một số tác giả tiêu
biểu như: PGS. TS. Đỗ Văn Đại với “Luật thừa kế Việt Nam - Bản án và bình
luận bản án”, TS. Nguyễn Mạnh Bách với “Chế độ hôn sản và thừa kế trong
Việt Nam”, TS. Phùng Trung Tập với “Thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật
dân sự Việt Nam”; “Luật thừa kế Việt Nam”, TS. Nguyễn Minh Tuấn với
“Pháp luật thừa kế của Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”;
“Những quy định chung về quyền thừa kế trong Bộ luật dân sự Việt Nam”,
TS. Trần Thị Huệ với “Di sản thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam”, TS.
Phạm Văn Tuyết với “Thừa kế - Quy định của pháp luật và thực tiễn áp
dụng”, TS. Nguyễn Ngọc Điện với “Một số suy nghĩ về thừa kế trong Luật
Dân sự Việt Nam”…

3


Thừa kế bao gồm thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Về
thừa kế theo di chúc nói chung và quyền của người lập di chúc nói riêng, ở
những khía cạnh khác nhau, cho đến nay có một số công trình nghiên cứu liên
quan như: Công trình nghiên cứu “Thừa kế theo di chúc trong luật dân sự Việt
Nam” của Giáo sư Vũ Văn Mẫu; “Thừa kế theo di chúc trong quy định của Bộ
luật dân sự Việt Nam” của TS. Phạm Văn Tuyết; “Những qui định của Bộ
luật dân sự (Dự thảo) về sự sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc và hiệu lực của
di chúc” của tác giả Phùng Trung Tập đăng trên Tạp chí Luật học số 2/1995,
tr.46 - 51; “Những khó khăn, vướng mắc trong việc lập di chúc và chứng nhận

hành về quyền của người lập di chúc;
- Đưa ra thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về
quyền của người lập di chúc, đồng thời chỉ ra những vướng mắc và bất cập
của những quy định đó;
- Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm áp dụng có hiệu quả các
quy định pháp luật về quyền của người lập di chúc.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền của người lập di chúc,
các quy định của pháp luật hiện hành về quyền của người lập di chúc. Tìm
hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề này qua hoạt động xét xử của Tòa
án nhân dân.
-

Phạm vi nghiên cứu

Tuy có nghiên cứu về lược sử quy định quyền của người lập di chúc
trong pháp luật dân sự Việt Nam song phạm vi đề tài chỉ tập trung nghiên
cứu quy định của pháp luật dân sự hiện hành về quyền của người lập di chúc
và thực tiễn áp dụng các quy định trên phạm vi cả nước trong những năm
gần đây.
5


5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng
của Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.
Đối với hoạt động nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu các quy định của pháp luật dân sự
Việt Nam giai đoạn trước 1945 đến nay;

tích những quy định về quyền của người lập di chúc, qua đó có những kiến
nghị khoa học nhằm hoàn thiện những quy định pháp luật về quyền của người
lập di chúc trong BLDS 2005;
+ Luận văn chỉ ra được những bất cập trong việc hiểu không đúng các
quy định pháp luật về quyền của người lập di chúc, trong việc áp dụng pháp
luật, đồng thời có những kiến nghị để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành những văn bản hướng dẫn cần thiết.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Khái quát chung về quyền của người lập di chúc;
Chương 2: Quyền của người lập di chúc theo pháp luật Việt Nam hiện
hành;
Chương 3: Thực tiễn thực hiện quyền của người lập di chúc và phương
hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về quyền của người lập di
chúc.

7


Chƣơng 1:
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI LẬP DI CHÚC
1.1. Khái niệm di chúc
Khi một người còn sống có quyền định đoạt toàn bộ hoặc một phần tài
sản của mình cho người khác sau khi chết, theo ý chí tự nguyện và thể hiện
dưới một hình thức pháp lý xác định gọi là di chúc.
Thuật ngữ di chúc được đề cập và sử dụng nhiều trong đời sống nên từ
lâu đã trở thành một vấn đề hết sức quen thuộc đối với đời sống nhân dân. Di
chúc thường được hiểu một cách đơn giản, truyền thống: “Di chúc là sự dặn
lại của một người trước lúc chết với những người khác về những việc cần làm,

Theo tác giả Đoàn Bá Lộc thì di chúc hay chúc thư “là một văn tự lập theo
các thể thức pháp định để chứng chắc sự thật và do đó một người để lại cho
người thừa kế biết ý định mai hậu của mình” [18, tr.133]. Theo các tác giả của
cuốn Bình luận khoa học BLDS 2005 (Tập III) thì: “Di chúc là sự bày tỏ ý chí
của một người khi còn sống định đoạt tài sản của mình, để chuyển toàn bộ
hoặc một phần tài sản của người đó cho một hay nhiều người thừa kế sau khi
chết” [39, tr.45].
Trong pháp luật thực định của Việt Nam, di chúc là một giao dịch dân
sự dưới dạng hành vi pháp lý đơn phương, theo đó, Điều 646 BLDS 2005 đã
định nghĩa: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản
của mình cho người khác sau khi chết”. Như vậy, về phương diện khoa học
pháp lý di chúc là phương diện phản ánh trung thực ý nguyện cuối cùng của
cá nhân trong việc chuyển dịch tài sản của họ cho người khác sau khi họ chết.
Từ khái niệm trên có thể thấy, di chúc có một số đặc trưng sau:
Thứ nhất, Di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương, tự nguyện của cá
nhân mà không phải là của bất kỳ chủ thể nào khác: Chủ thể của quan hệ pháp
luật dân sự bao gồm cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và trong một
9


số trường hợp bao gồm cả Nhà nước. Tuy nhiên, do bản chất của di chúc là
nhằm định đoạt tài sản riêng của cá nhân sau khi chết nên di chúc chỉ có thể
được lập bởi cá nhân [36, tr.211], ngoài cá nhân pháp luật không thừa nhận
quyền lập di chúc của bất cứ một chủ thể nào khác.
Sự thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc được thể hiện ở
chỗ, việc lập di chúc, nội dung của di chúc phải do chính người lập di chúc
quyết định và định đoạt, bởi vì “việc lập di chúc cũng như việc kết hôn không
thể thực hiện bằng lối ủy quyền. Không ai có thể ủy quyền cho người khác để
thay mình lập chúc thư mà pháp luật cũng không có quyền chỉ định một thụ
ủy luật định để lập chúc thư thay thế một người khác” [8, tr.61].

Minh (2013), Giáo trình pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản và
quyền thừa kế, tr.210, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội.
7. Bùi Tường Chiểu (1974), Dân luật, tr.61, Nxb Luật khoa Đại học Sài
Gòn, Sài Gòn.
8. Chính phủ (1945), Sắc lệnh 47/SL ngày 10/10/1945 về việc tạm thời áp
dụng các luật lệ cũ, Hà Nội.
9. Chính phủ (1950), Sắc lệnh 97/SL ngày 22/05/1950 về sửa đổi một số quy
lệ và chế định trong dân luật, Hà Nội.
10. Đỗ Văn Đại (2013), Luật Thừa kế Việt Nam Bản án và bình luận bản án,
Tập 1, tr.278-279, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
11. Đỗ Văn Đại (2013), Luật Thừa kế Việt Nam Bản án và bình luận bản án,
Tập 2, tr.623, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
12. Nguyễn Ngọc Điện (1999), Một số suy nghĩ về thừa kế trong Luật dân sự
Việt Nam, tr.158, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.
13. Hội đồng nhà nước (1990), Pháp lệnh thừa kế, NXB Chính trị Quốc gia,
Hà Nội.
14. Hội Luật gia Việt Nam (2005), Tìm hiểu nội dung cơ bản của BLDS 2005,
tr.9, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội.
11


15. Nguyễn Đình Huy (2001), Quyền thừa kế trong luật La Mã cổ đại, Tạp
chí Khoa học pháp lý số 04/200, Trường Đại học luật thành phố Hồ Chí
Minh.
16. Đoàn Bá Lộc (1961), Dân luật thực hành, tr.133, Soạn giả xuất bản 4P,
Đường Hùng Vương, Thị Nghè - Gia Định.
17. Vũ Văn Mẫu (1973), Cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử, tr.215-216, Quyển
thứ nhất, Tập nhất, Sài Gòn.
18. Nguyễn Hồng Nam (2005), Các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo
quy định của BLDS, tr.32-33, tr.45, Luận văn thạc sĩ Khoa luật, Đại học

giải quyết tranh chấp, tr.184, 196, 197, 200, NXB Tư pháp, Hà Nội.
34. Nguyễn Văn Thành, Dân luật, quyển hai, tr.120, 122, NXB Luật Khoa
Đại học Sài Gòn, Sài Gòn.
35. Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt phổ thông, tr.182, Nxb Đà
Nẵng, Đà Nẵng.
36. Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) (2010), Bình luận khoa học BLDS
2005, Tập III, tr.45, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
37. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1999), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

13




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status