LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại NHỮNG vấn đề PHÁP lý về đại DIỆN của DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH (2) - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT KINH DOANH -THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN CỬ NHÂN LUẬT
KHOÁ 25 (1999-2003)

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ
VỀ
ĐẠI
CỦA
DOANH
NGHIỆP
Trung tâm Học
liệu
ĐH DIỆN
Cần Thơ
@ Tài
liệu học tập
và nghiên cứu
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

Giáo viên hướng dẫn

Sinh viên thực hiện

Thầy Dương Kim Thế Nguyên

Tăng Thanh Phương

Bộ Môn Luật Kinh doanh-Thương mại

Trang 1


NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
1. BLDS:

Bộ luật dân sự 1995

2. BLHS:

Bộ luật hình sự 1999

3. CTCP:

Công ty cổ phần

4. CTHD:

Công ty hợp danh

5. DNNN:

Doanh nghiệp nhà nước

6. HTX:

Hợp tác xã

7. LDN:


LỜI NÓI ĐẦU.........................................................................................................6
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẠI DIỆN CỦA DOANH
NGHIỆP...................................................................................................................8
1.1 Sự hình thành chế định đại diện của doanh nghiệp ..................................... 8
1.2 Lịch sử phát triển của pháp luật về đại diện doanh nghiệp ở Việt Nam......9
1.3 Các khái niệm về đại diện của doanh nghiệp ..............................................11
1.3.1 Định nghĩa...........................................................................................11
1.3.2 Đặc điểm.............................................................................................12
1.3.2.1 Đặc điểm chung................................................................................12
1.3.2.2 Đặc điểm riêng.................................................................................14
1.4 Tầm quan trọng của các quy định về đại diện doanh nghiệp ....................16
CHƯƠNG 2. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN
HÀNH VỀ ĐẠI DIỆN CỦA DOANH NGHIỆP.................................................18
2.1 Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về đại diện theo pháp
luật của doanh nghiệp ..........................................................................................18
2.1.1 Xác lập tư cách người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ......18
Trung tâm Học
liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.1.1.1 Thể thức xác lập...............................................................................18
2.1.1.2 Điều kiện về năng lực người đại diện theo pháp luật của doanh
nghiệp......................................................................................................................21
2.1.1.3 Phạm vi thẩm quyền đại diện...........................................................23
2.1.1.4 Thời hạn đại diện ............................................................................23
2.1.2 Nội dung của việc xác lập tư cách người đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp...........................................................................................................23
2.1.2.1 Quan hệ giữa doanh nghiệp và người đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp ..........................................................................................................24
2.1.2.2 Quan hệ giữa doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp và bên thứ ba....................................................................................32
2.1.3 Chấm dứt tư cách người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ..34


2.2.4.2 Nội dung của việc xác lập tư cách người đại diện cho thương
nhân........................................................................................................................50
tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.2.4.3 Chấm dứt tư cách người đại diện cho thương nhân........................52
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
.................................................................................................................................54
3.1 Nhận xét, đánh giá các quy định pháp luật về đại diện của doanh nghiệp
và đề xuất phương hướng hoàn thiện..................................................................54
3.1.1 Thiếu sự thống nhất giữa các quy định về đại diện của doanh nghiệp
trong các văn bản pháp luật hiện hành ...................................................................54
3.1.2 Thiếu các quy định pháp luật để điều chỉnh một số vấn đề pháp lý về
đại diện của doanh nghiệp ......................................................................................57
3.1.2.1 Đối với việc điều chỉnh các vấn đề pháp lý về đại diện theo pháp
luật của doanh nghiệp ............................................................................................57
3.1.2.2 Đối với việc điều chỉnh các vấn đề pháp lý về đại diện theo uỷ quyền
của doanh nghiệp ...................................................................................................59
3.2 Thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về đại diện của doanh nghiệp
và đề xuất phương hướng hoàn thiện..................................................................65
3.2.1 Đối với các doanh nghiệp ...................................................................65
3.2.1.1 Không hiểu biết đầy đủ pháp luật về đại diện của doanh nghiệp ...65

Trang 4


3.2.1.2 Bị người đại diện của doanh nghiệp lạm dụng thẩm quyền đại
diện......................................................................................................................... 66
3.2.1.3 Lợi dụng sự thiếu hiểu biết về pháp luật đại diện của bên cùng tham

bỏ giao dịch do người của doanh nghiệp đã nhân danh doanh nghiệp giao kết với
bên thứ ba... Bên cạnh đó, việc áp dụng các quy định pháp luật liên quan đến đại
diện của doanh nghiệp về phía các cơ quan xét xử vẫn còn nhiều bất cập. Ví dụ,
một số toà án áp dụng không thống nhất các quy định pháp luật về đại diện doanh
nghiệp dẫn đến một số bản án dân sự- kinh tế bị huỷ, thời gian xét xử bị kéo dài;
hoặc áp dụng một cách cứng nhắc các quy định này khiến cho một số phán quyết
không được dư luận đồng tình, làm người dân, doanh nghiệp giảm lòng tin đối với
cơ quan xét xử... Mặt khác, việc gia tăng về số lượng và quy mô của các doanh
tâm
Học
liệu
Thơlưu@dânTài
học
cứu
nghiệp
cùng
với ĐH
sự mởCần
rộng giao
sự- liệu
thương
mại tập
có thểvà
sẽ nghiên
còn làm nảy
sinh nhiều vấn đề pháp lý phức tạp về đại diện của doanh nghiệp như về việc
người đại diện của doanh nghiệp cạnh tranh với doanh nghiệp hoặc về việc người
đại diện của doanh nghiệp tiết lộ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp... Vì vậy,
tình hình thực tiễn đặt ra nhu cầu cần có những công trình nghiên cứu về đại diện
của doanh nghiệp. Đó chính là lý do mà người viết lựa chọn đề tài “Những vấn đề

Để Luận văn có tính khách quan và khoa học, việc nghiên cứu đề tài cần
phải được thực hiện theo các phương pháp nghiên cứu khoa học thích hợp. Chính
vì thế, người viết đã áp dụng phương pháp phân tích luật viết với các công cụ như
áp dụng tương tự pháp luật, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch, phương
pháp suy lý... vào việc thực hiện Luận văn.
Kết cấu của đề tài Luận văn tốt nghiệp “ Những vấn đề pháp lý về đại
diện của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện hành” gồm ba phần chính
sau đây:
Chương 1: Những vấn đề chung về đại diện của doanh nghiệp

Trung

Chương 2: Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về đại diện
của Học
doanh nghiệp
tâm
liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Chương 3: Một số nhận xét và hướng hoàn thiện pháp luật về đại diện của
doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Người viết hy vọng rằng Luận văn này sẽ đóng góp tích cực vào việc phổ
biến các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về đại diện doanh nghiệp
cũng như hy vọng rằng luận văn này sẽ thật sự giúp ích cho những ai muốn tìm
hiểu những vấn đề pháp lý về đại diện của doanh nghiệp. Thực hiện Luận văn,
người viết còn mong muốn được đóng góp một phần nhỏ vào việc thực hiện mục
tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật do Nhà nước ta đề ra.
Những kiến thức hữu ích về luật học và phương pháp nghiên cứu luật học
mà người viết đã được đào tạo trong bốn năm qua ở nhà trường chính là nền tảng
giúp cho người viết có thể thực hiện được Luận văn tốt nghiệp của mình. Chính vì
thế, người viết xin bày tỏ lòng tri ân đối với tất cả các thầy cô trong Khoa Luật,
Trường Đại học Cần Thơ- những người đã tận tâm truyền đạt cho sinh viên những

nhân) và đảm bảo tính hợp pháp của tư cách người đại diện thương nhân, kỹ thuật
uỷ quyền đã được áp dụng. Thương nhân được đại diện lập ra hợp đồng uỷ quyền
làm cơ sở pháp lý để trao cho người khác quyền được nhân danh mình xác lập,
tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
thực hiện một hay một số giao dịch nào đó. Hợp đồng này cũng thể hiện nghĩa vụ
chịu trách nhiệm của thương nhân đối với những giao dịch mà người đại diện của
thương nhân đã xác lập trong phạm vi uỷ quyền. Đây chính là một trong các cơ sở
để pháp luật về đại diện của doanh nghiệp ra đời và phát triển.
Mặt khác, khi sản xuất hàng hoá phát triển thì sự cạnh tranh trên thị trường
ngày càng khốc liệt. Để tồn tại các thương nhân phải tập trung được nguồn vốn lớn
nhằm cải tiến, nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất. Do
đó, họ đã cùng nhau hùn vốn, lập ra các hội thương mại. Nền kinh tế hàng hoá
càng phát triển các hội thương mại được lập ra càng nhiều. Nhằm bảo vệ quyền lợi
của các hội viên, các quy định pháp luật điều chỉnh về quyền và nghĩa vụ của
những người đại diện cho các hội thương mại đã được ban hành. Quyền và nghĩa
vụ của những người đại diện cho hội thương mại được các quy định pháp luật về
uỷ quyền và lập hội điều chỉnh. Pháp luật về uỷ quyền và lập hội xem quan hệ giữa
người đại diện (là người quản lý hội) và hội thương mại là quan hệ uỷ quyền.
Những người đại diện cho hội thương mại dù là hội viên hay không là hội viên của
hội cũng đều được coi là người được uỷ quyền của các hội viên và phải hành động
vì lợi ích chung của hội. Mặc dù pháp luật về uỷ quyền và lập hội xem quan hệ
giữa người đại diện và hội thương mại là quan hệ uỷ quyền nhưng thực ra, người
đại diện của hội không hẳn là có tư cách của một người thụ uỷ vì người đại diện
của hội, trong phạm vi thẩm quyền được giao, có quyền tự ý hành động mặc dù có
hội viên phản kháng và muốn tước quyền của người đại diện hội thì phải có lý do

Trang 8



cứu
Sau liệu
1945, ĐH
Chủ tịch
Chính
phủ@
lâmTài
thời liệu
của nước
Nam
chủ Cộng
hoà đã ban hành Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945 quy định rằng cho đến khi ban
hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện
hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ. Vì thế, các quy
định về uỷ quyền và lập hội và về các hội thương mại trong các Bộ luật do Pháp và
triều đình Huế ban hành vẫn được áp dụng4.
Từ sau năm 1954, đất nước ta chia làm hai miền có hai hệ thống pháp luật
khác nhau. Ở miền Bắc, bắt đầu xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung với
hai thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Các vấn đề
pháp lý về đại diện và uỷ quyền của các đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể được
điều chỉnh bởi Nghị định số 54- CP của Hội đồng Chính phủ ngày 10/03/1975 ban
hành điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế. Ở miền Nam, vẫn theo chế độ kinh tế tư
Lê Tài Triển- Luật Thương mại Việt Nam dẫn giải, Tập II- Kim Lai Ấn quán- Sài Gòn 1973trang 747, 748.
2
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng
ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
(Khoản 1 Điều 3 Luật doanh nghiệp 1999).
Các loại hình doanh nghiệp hiện có ở Việt Nam bao gồm: doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã,
công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, doanh
nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

diện cho đơn vị kinh tế vẫn chưa được quy định rõ ràng...

Trung

Từ 1986 khi đất nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường thì các loại
hìnhHọc
doanhliệu
nghiệp
khác
nhau Thơ
mới có@
điều
kiệnliệu
phát học
triển và
giaovà
lưunghiên
thương mại
tâm
ĐH
Cần
Tài
tập
cứu
ngày càng mở rộng dẫn đến nảy sinh nhiều vấn đề pháp lý về đại diện của doanh
nghiệp cần phải được pháp luật điều chỉnh. Vấn đề đại diện và uỷ quyền được quy
định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Nghị định số 50-HĐBT
của Hội đồng Bộ trưởng ngày 22/03/1988 về vịêc ban hành điều lệ Xí nghiệp công
nghiệp quốc doanh, Nghị định số 27-HĐBT ngày 22/03/1989 ban hành điều lệ

sự6), Luật doanh nghiệp Nhà nước 1995, Luật hợp tác xã 1996, Luật đầu tư nước
ngoài 1996 (đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2000), Luật Thương mại 1997,
Luật doanh nghiệp 1999 ... và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành các luật
này.
1.3 CÁC KHÁI NIỆM VỀ ĐẠI DIỆN CỦA DOANH NGHIỆP
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi đưa ra các định nghĩa riêng về đại
diện của doanh nghiệp dựa vào các định nghĩa chung về đại diện trong Bộ luật dân
sự Việt Nam 1995 (BLDS).
1.3.1 Định nghĩa
q

Trung

Đại diện của doanh nghiệp:

Khoản 1 Điều 148 BLDS định nghĩa về đại diện như sau : “ Đại diện là việc
một người (gọi là người đại diện) nhân danh người khác (gọi là người được đại
diện ) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi thẩm quyền đại diện”.
tâm Học
ĐH luật
Cần
@của
Tài
liệunghiệp
học cótập
cứu
Dựaliệu
vào Điều
nàyThơ
đại diện

Trang 11


doanh nghiệp nhà nước được quy định trong Luật doanh nghiệp nhà nước 1995,
đại diện theo pháp luật của hợp tác xã được quy định trong Luật hợp tác xã 1996,
đại diện theo pháp luật của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được quy
định trong Luật đầu tư nước ngoài 1996 (đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2000),
đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty
hợp danh, doanh nghiệp tư nhân được quy định trong Luật doanh nghiệp 1999. Do
vậy, đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thể được định nghĩa như sau:
Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là đại diện do pháp luật quy
định.

Trung

• Đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp: Khoản 1 Điều 151 BLDS
quy định: “Đại diện theo uỷ quyền là đại diện được xác lập theo sự uỷ quyền giữa
người đại diện và người được đại diện.” Tuy nhiên, chính Bộ luật dân sự lại quy
định đối với pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác thì chỉ có người đại diện theo pháp
luật của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác mới có thể uỷ quyền cho người khác
nhân danh mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự (xem Khoản 1 Điều 152
BLDS). Điều 102 BLDS về đại diện của pháp nhân cũng quy định: “Người đại
diện theo pháp luật của pháp nhân có thể uỷ quyền cho người khác thay mình thực
hiện nhiệm vụ đại diện”. Chính vì thế, đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp
thực chất là quan hệ đại diện được xác lập theo hợp đồng uỷ quyền giữa người đại
diện theo pháp luật của doanh nghiệp với người được uỷ quyền. Người được uỷ
quyền sẽ thay mặt người đại diện theo pháp luật thực hiện nhiệm vụ đại diện cho
doanh nghiệp trong phạm vi thẩm quyền được giao theo hợp đồng uỷ quyền vì lợi
ích Học
của chính

điểm này cũng là dấu hiệu đầu tiên để xác định xem một người có phải là đại diện
của doanh nghiệp hay không. Do đặc điểm này nên dù một cá nhân là người đại
diện theo pháp luật hay người đại diện theo uỷ quyền của một doanh nghiệp thì
đều phải nhân danh chính doanh nghiệp đó chứ không được nhân danh bản thân
mình trong khi xác lập, thực hiện giao dịch cho doanh nghiệp. Nếu người này xác
lập, thực hiện giao dịch cho doanh nghiệp nhưng không nhân danh doanh nghiệp
mà nhân danh chính mình thì người cùng tham gia giao dịch không thể nào biết
q

Trang 12


được (và được suy đoán là không biết) người này là đại diện của doanh nghiệp.
Người cùng tham gia giao dịch hoàn toàn có quyền xem người này là bên cùng
tham gia giao dịch (chứ không phải là doanh nghiệp được đại diện) và có quyền
yêu cầu người này thực hiện các cam kết do họ đưa ra mà không cần biết đến
doanh nghiệp được đại diện. Ví dụ: ông A là người đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp X, tham gia một giao dịch phù hợp với hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp nhưng khi tham gia giao dịch đó ông A nhân danh chính mình mà
không nhân danh doanh nghiệp thì bên tham gia giao dịch với ông A có quyền
xem ông A chính là bên cùng tham gia giao dịch mà không cần quan tâm đến
doanh nghiệp X. Như vậy, yếu tố đầu tiên xét coi một người có phải là đại diện của
một doanh nghiệp hay không là phải xem người đó có nhân danh chính doanh
nghiệp đó để tham gia giao dịch hay không.Tất nhiên, để đề phòng việc một người
nhân danh doanh nghiệp nhưng thực chất không phải là người đại diện của doanh
nghiệp thì người giao dịch với người nhân danh doanh nghiệp phải yêu cầu họ
chứng minh về thẩm quyền đại diện ví dụ như xuất trình quyết định bổ nhiệm
Giám đốc, xuất trình văn bản uỷ quyền...

Trung

đại diện8: Người đại diện của doanh nghiệp phải thực hiện công việc trong phạm
vi thẩm quyền đại diện, nếu không thì sẽ bị coi là vượt quá thẩm quyền hay thực
hiện công việc không đúng thẩm quyền và phải chịu trách nhiệm về những giao
dịch vượt quá thẩm quyền hay không đúng thẩm quyền đại diện. Để bảo vệ quyền
lợi của doanh nghiệp và bên thứ ba tham gia giao dịch, pháp luật quy định người
đại diện theo pháp luật hoặc theo uỷ quyền của doanh nghiệp đều phải có trách
nhiệm thông báo cho bên thứ ba tham gia giao dịch về phạm vi thẩm quyền đại

8

Điều 153 BLDS quy định:
1- Người đại diện theo pháp luật có thẩm quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự
vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc cơ quan nhà
nước có thẩm quyền có quyết định khác.
2- Phạm vi đại diện theo uỷ quyền được xác lập theo văn bản uỷ quyền.
3- Người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi thẩm quyền đại
diện.
4- Người đại diện phải thông báo cho người thứ ba trong giao dịch dân sự biết về phạm vi
thẩm quyền đại diện của mình.
5- Người đại diện không đượoc thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với
người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó.

Trang 13


diện của mình (Khoản 4 Điều 153 BLDS). Nếu không thông báo, một khi đã thực
hiện giao dịch vượt quá thẩm quyền đại diện thì người đại diện phải chịu trách
nhiệm đối với bên thứ ba về phần giao dịch vượt quá thẩm quyền chứ doanh
nghiệp không chịu trách nhiệm. Nếu người đại diện và người giao dịch với người
đại diện cố ý xác lập, thực hiện giao dịch vượt quá thẩm quyền đại diện mà gây

tư cách đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp tư nhân của chủ doanh nghiệp
được xác lập ngay khi doanh nghiệp nhận được giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh; đối với doanh nghiệp nhà nước, tư cách đại diện theo pháp luật cho doanh
nghiệp của Giám đốc (Tổng Giám đốc) được xác lập theo quyết định bổ nhiệm của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền... Nếu cách thức xác lập tư cách người đại diện
theo pháp luật của doanh nghiệp là do pháp luật quy định thì cách thức xác lập tư
cách người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp là do sự tự do thoả thuận giữa
người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp với người được uỷ quyền. Pháp
luật chỉ quy định về hình thức của việc xác lập qua quy định việc uỷ quyền phải
được lập thành văn bản.
q

TS. Hoàng Thế Liên- Nguyễn Đức Giao, Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Việt Nam, Tập 1Nhà xuất bản Chính trị quốc gia- 2001- trang 226, 227.

9

Trang 14


Khác biệt về thẩm quyền đại diện: Người đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp có quyền đại diện cho doanh nghiệp trong mọi giao dịch liên quan
đến doanh nghiệp còn người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp chỉ được
quyền đại diện cho doanh nghiệp trong phạm vi công việc được uỷ quyền.
q

Trung

Phạm vi thẩm quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật của doanh
nghiệp rất rộng. Thông thường người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
được xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt tất cả các giao dịch phù hợp với chức

ngườiliệu
đứnghọc
đầu doanh
nghiệp
ví dụ như
là người nắm giữ chức danh Giám đốc (Tổng Giám đốc) mới được giao thẩm
quyền đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp.
Ngược lại, thẩm quyền đại diện của người đại diện theo uỷ quyền của doanh
nghiệp thường có phạm vi hẹp hơn, chỉ được xác định theo quy định cụ thể trong
văn bản uỷ quyền. Người đại diện theo uỷ quyền chỉ là người thay mặt người đại
diện theo pháp luật thực hiện một phần nhiệm vụ đại diện cho doanh nghiệp theo
sự phân công của người này. Vì thế, pháp luật không có quy định về số lượng
người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp. Tuỳ theo nhu cầu thực hiện nhiệm
vụ đại diện, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thể giao thẩm
quyền đại diện theo uỷ quyền cho một hay nhiều người khác nhau kể cả người
ngoài doanh nghiệp.
q Người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp phải tuân theo chỉ
thị của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp: Chính đặc điểm này
phân biệt rõ đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp vì
người đại diện theo uỷ quyền mặc dù có quyền xác lập, thực hiện giao dịch trong
phạm vi thẩm quyền đại diện nhưng vẫn phải tuân theo chỉ thị của người đại diện
theo pháp luật của doanh nghiệp. Nếu người đại diện theo uỷ quyền không tuân
theo các chỉ thị của người đại diện theo pháp luật thì người đại diện theo pháp luật
có quyền huỷ bỏ việc uỷ quyền. Khác với người đại diện theo uỷ quyền của doanh
nghiệp, dù người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp không tuân thủ ý định
của một hoặc một số chủ sở hữu doanh nghiệp nhưng tư cách đại diện theo pháp
luật của người này không thể bị chấm dứt một cách dễ dàng mà chỉ có thể bị chấm

Trang 15


tậpngười
và nghiên
cứu
người
góp vốn
nó. Cần
Tuy nhiên,
do @
phápTài
nhânliệu
ch ỉ làhọc
một “con
giả tạo” nên
tự bản thân nó không thể nào thực hiện được các hoạt động của chính nó mà chỉ có
thể hành động thông qua những người đại diện là những con người cụ thể. Chính
vì thế, đối với doanh nghiệp có tư cách pháp nhân thì các giao d ịch kinh doanh của
doanh nghiệp chỉ có thể được thực hiện thông qua những người đại diện của chính
doanh nghiệp. Theo xu hướng hiện nay, số lượng các doanh nghiệp có tư cách
pháp nhân ngày càng tăng do các loại hình doanh nghiệp này được các nhà đầu tư
ưa chuộng hơn vì tính trách nhiệm hữu hạn và khả năng tích tụ vốn dễ dàng của
chúng. Xu hướng này cũng làm cho pháp luật về đại diện của doanh nghiệp ngày
càng có vai trò quan trọng hơn đối với các doanh nghiệp.
Trong hai loại đại diện của doanh nghiệp: đại diện theo pháp luật và đại
diện theo uỷ quyền thì vai trò của người đại diện theo pháp luật quan trọng hơn.
Theo quy định của pháp luật, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là
người có quyền đứng ra đại diện cho doanh nghiệp xác lập mọi giao dịch vì lợi ích
của doanh nghiệp (trừ khi pháp luật hoặc điều lệ doanh nghiệp có quy định khác).
Một người không phải là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chỉ có
quyền đại diện cho doanh nghiệp khi được người đại diện theo pháp luật của doanh
nghiệp uỷ quyền. Vì thế, nếu không có người đại diện theo pháp luật, doanh

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 17


CHƯƠNG 2

CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN
HÀNH VỀ ĐẠI DIỆN CỦA DOANH NGHIỆP
2.1 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ ĐẠI
DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP
Những vấn đề pháp lý về đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Việt
Nam được điều chỉnh bởi chế định đại diện trong Bộ luật dân sự 1995 và các quy
định về người đại diện theo pháp luật trong các văn bản pháp luật kinh doanh như
Luật doanh nghiệp Nhà nước 1995, Luật hợp tác xã 1996, Luật đầu tư nước ngoài
1996 (đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2000), Luật doanh nghiệp 1999...
2.1.1 Xác lập tư cách người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về đại diện của
theo pháp luật của doanh nghiệp trước tiên phải tìm hiểu các quy định về việc xác
lập tư cách người đại diện theo pháp luật. Tư cách người đại diện theo pháp luật
của doanh nghiệp được xác lập theo những cách thức khác nhau tuỳ thuộc vào quy
định của pháp luật đối với các loại hình doanh nghiệp khác nhau và tuỳ thuộc vào
quy định của điều lệ doanh nghiệp trong phạm vi pháp luật cho phép.
2.1.1.1
Thể
thứcCần
xác lập:
Trung tâm Học
liệu
ĐH

Công ty hợp danh (CTHD): LDN quy định tất cả thành viên hợp
danh đều có quyền quản lý và đại diện cho công ty nhưng không quy định ai là
người đại diện theo pháp luật của công ty, nên người đại diện theo pháp luật của
CTHD sẽ được quy định bởi điều lệ của công ty. LDN quy định chỉ có thành viên
hợp danh mới có quyền quản lý và tiến hành các hoạt động kinh doanh nhân danh
công ty do đó người đại diện theo pháp luật của công ty phải là thành viên hợp
danh. Nếu người đại diện theo pháp luật của CTHD là Giám đốc công ty thì tư
cách đại diện theo pháp luật của người này sẽ được xác lập khi tất cả các thành
viên hợp danh biểu quyết chấp thuận việc cử giám đốc công ty (Xem Điều 29 Nghị
định số 03/2000/ NĐ-CP ngày 03/02/2000).
q

q

Trung

Công ty trách nhiệm hữu hạn (công ty TNHH):

• Về công ty TNHH có hai thành viên trở lên: Điều 41 LDN quy định
trong trường hợp Điều lệ công ty không quy định Chủ tịch Hội đồng thành viên là
người đại diện theo pháp luật, thì Giám đốc (Tổng giám đốc) là người đại diện
theo pháp luật của công ty. Như vậy, tư cách người đại diện theo pháp luật của
công ty TNHH có hai thành viên trở lên được xác lập cùng với việc xác lập chức
danhHọc
Chủ liệu
tịch Hội
đồng
thành
viên @
(nếuTài

doanh hàng ngày của công ty, quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động
hàng ngày của công ty, nhân danh công ty ký kết các hợp đồng trừ trường hợp
thuộc thẩm quyền của Chủ tịch hội đồng thành viên... Bởi vậy, thông thường chỉ
trong trường hợp điều lệ công ty quy định Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm
Trang 19


nhiệm chức danh Giám đốc (Tổng giám đốc) công ty thì điều lệ công ty mới quy
định Chủ tịch Hội đồng thành viên là đại diện theo pháp luật của công ty. Hơn nữa,
về mặt lý luận, dễ dàng nhận thấy rằng nếu Chủ tịch Hội đồng thành viên không
kiêm nhiệm Giám đốc nhưng được Điều lệ công ty quy định là người đại diện theo
pháp luật của công ty thì người nắm giữ chức danh Giám đốc của công ty sẽ có
quyền lực hạn chế và khi tham gia các giao dịch nhân danh công ty phải có giấy uỷ
quyền của Chủ tịch Hội đồng thành viên. Lúc đó Giám đốc chỉ có thể hành động
như là một người phụ tá cho Chủ tịch Hội đồng thành viên.
• Về công ty TNHH một thành viên:
- Trong trường hợp công ty tổ chức quản lý theo mô hình Hội đồng quản
trị và Giám đốc: LDN và các văn bản hướng dẫn thi hành luật này đều không có
quy định ai là người đại diện theo pháp luật của công ty, do đó việc xác lập tư cách
người đại diện theo pháp luật của công ty sẽ phải được quy định trong Điều lệ
công ty. Như vậy, tuỳ theo quy định của Điều lệ công ty mà người đại diện theo
pháp luật của công ty có thể là Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc công ty.
Điểm b Khoản 1 Điều 47 LDN quy định chủ sở hữu công ty có quyền quyết định
cơ cấu tổ chức quản lý công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh
quản lý công ty nên tư cách người đại diện theo pháp luật của công ty sẽ được xác
lập theo cách thức do chủ sở hữu công ty quyết định phù hợp với các quy định
chung của Luật doanh nghiệp.

Trung


CTCP có quy mô lớn, để quản lý có hiệu quả phải có sự tách bạch giữa quản lý và
điều hành công ty nghĩa là phải tách bạch giữa quyền hạn của Chủ tịch Hội đồng
quản trị và quyền hạn của Giám đốc (Tổng Giám đốc) công ty. Do đó, Điều lệ
CTCP nên quy định Giám đốc (Tổng Giám đốc) là người đại diện theo pháp luật
của công ty.
q

- Nếu Giám đốc (hoặc Tổng Giám đốc) được điều lệ quy định là đại diện
theo pháp luật của CTCP thì tư cách người đại diện theo pháp luật của công ty sẽ
được xác lập theo quyết định bổ nhiệm Giám đốc (Tổng giám đốc) của Hội đồng
quản trị (Điểm e Khoản 2 Điều 80 LDN).

Trang 20


- Nếu Chủ tịch Hội đồng quản trị được điều lệ quy định là đại diện theo
pháp luật của CTCP thì tư cách người đại diện theo pháp luật của công ty sẽ được
xác lập ngay khi chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị được các thành viên Hội
đồng quản trị bầu ra (Khoản 1 Điều 81 LDN).
d. Đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài:
Doanh nghiệp liên doanh: Điều 20 Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày
31/7/2000 quy định: “Tổng Giám đốc là người đại diện theo pháp luật cho doanh
nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ doanh nghiệp có quy định khác”. Như vậy, nếu
Điều lệ doanh nghiệp không quy định khác thì tư cách đại diện theo pháp luật cho
doanh nghiệp liên doanh của người nắm giữ chức danh Tổng Giám đốc sẽ được
xác lập bởi quyết định bổ nhiệm Tổng giám đốc của Hội đồng quản trị (Điều 12 và
Điều 14 LĐTNN).
q

q Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: Theo Điều 24 và Điều 26

quy định của Luật doanh nghiệp đối với CTCP có vốn đầu tư nước ngoài thì tư
cách người đại diện theo pháp luật của công ty được xác lập giống như việc xác
lập tư cách người đại diện theo pháp luật của CTCP hoạt động theo Luật doanh
nghiệp.

2.1.1.2 Điều kiện về năng lực người đại diện theo pháp luật của doanh
nghiệp
a. Đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp Nhà nước
Do Giám đốc (Tổng Giám đốc) là đại diện theo pháp luật của DNNN nên
các điều kiện về năng lực người đại diện theo pháp luật của DNNN chính là điều
kiện về năng lực của Giám đốc (Tổng Giám đốc). Như vậy, theo Điều 32 LDNNN
người đại diện theo pháp luật của DNNN phải đáp ứng được các điều kiện sau: là
công dân Việt Nam, thường trú tại Việt Nam; có sức khoẻ, có phẩm chất đạo đức,
trung thực, liêm khiết, có ý thức chấp hành pháp luật; có trình độ, có năng lực kinh
doanh và tổ chức quản lý doanh nghiệp; không đồng thời đảm nhiệm các chức vụ
lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước; những người đã là thành viên Hội đồng quản trị,
tổng giám đốc, giám đốc doanh nghiệp đã bị tuyên bố phá sản thì phải tuân theo
quy định tại Điều 50 Luật phá sản doanh nghiệp; không được thành lập hoặc giữ
các chức danh quản lý, điều hành DNTN, công ty TNHH, CTCP và không được có
Trang 21


các quan hệ hợp đồng kinh tế với các DNTN, công ty TNHH, CTCP do vợ hoặc
chồng, bố, mẹ, con giữ các chức danh quản lý điều hành.
b. Đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật hợp tác xã
Đại diện theo pháp luật của hợp tác xã là Chủ nhiệm HTX và Chủ nhiệm
HTX (cùng với các thành viên Ban quản trị khác) phải đáp ứng được các tiêu
chuẩn như: phải là xã viên HTX, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, năng lực
quản lý HTX; không được đồng thời là thành viên Ban kiểm soát, kế toán trưởng,
thủ quỹ của HTX và không phải là cha, mẹ, vợ, chồng, con hoặc anh, chị, em ruột

hình phạt tù hoặc bị Toà án tước quyền hành nghề vì phạm các tội buôn lậu, làm
hàng giả, buôn bán hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng
và các tội khác theo quy định của pháp luật;
- Chủ DNTN, thành viên hợp danh của CTHD, Giám đốc (Tổng Giám đốc),
Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của doanh
nghiệp tuyên bố phá sản không được quyền thành lập doanh nghiệp, không được
làm người quản lý doanh nghiệp trong thời hạn từ một đến ba năm, kể từ ngày
doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, trừ các trường hợp quy định tại Luật phá sản
doanh nghiệp;
- Người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam.
d. Đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài:
LĐTNN và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định về điều kiện
năng lực của Tổng giám đốc đồng thời là người đại diện theo pháp luật của doanh
nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, công ty cổ phần có vốn
đầu tư nước ngoài trừ quy định nếu Phó Tổng Giám đốc thứ nhất của doanh nghiệp
liên doanh là người nước ngoài thì Tổng Giám đốc phải là công dân Việt Nam
(Điều 12 LĐTNN). Tuy nhiên, do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
là người có quyền thay mặt doanh nghiệp xác lập, thực hiện mọi giao dịch của
Trang 22


doanh nghiệp nên ít nhất người đại diện theo pháp luật các doanh nghiệp liên
doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, công ty cổ phần có vốn đầu tư nước
ngoài cũng phải đáp ứng được các tiêu chuẩn chung như: phải là cá nhân có năng
lực hành vi dân sự đầy đủ, phải có năng lực quản lý, điều hành doanh nghiệp; nếu
là người nước ngoài thì phải thường trú tại Việt Nam...
2.1.1.3 Phạm vi thẩm quyền đại diện

Trung


Thơ
@ thuận
Tài liệu
học
tập
vàhoặc
nghiên
cứu
quản trị (Điều 87 LDN). Nếu chưa được sự chấp thuận của Đại hội cổ đông hoặc
Hội đồng quản trị mà người đại diện theo pháp luật đã ký loại hợp đồng này thì
hợp đồng sẽ bị tuyên bố vô hiệu và người đại diện theo pháp luật phải bồi thường
thiệt hại cho công ty.
2.1.1.4 Thời hạn đại diện
Pháp luật Việt Nam không có quy định về thời hạn đại diện của người đại
diện theo pháp luật. Tuy nhiên, có thể thấy thời hạn đại diện đương nhiên chấm
dứt khi tư cách đại diện theo pháp luật của người được doanh nghiệp giao cho
thẩm quyền đại diện bị chấm dứt. Vấn đề này sẽ được phân tích ở Phần 2.1.3.
2.1.2 Nội dung của việc xác lập tư cách người đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp
Do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có phạm vi thẩm quyền
đại diện rất rộng (Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thẩm quyền
xác lập, thực hiện mọi giao dịch vì lợi ích của doanh nghiệp trừ trường hợp pháp
luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp có quy định khác hoặc cơ quan nhà nước có
thẩm quyền có quyết định khác.) và do doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm đối với
toàn bộ các giao dịch mà người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nhân
Khoản 1 Điều 153 BLDS quy định: Người đại diện theo pháp luật có thẩm quyền xác lập, thực
hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện. trừ trường hợp pháp luật có quy
định khác hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định khác.
10


liệu ĐH
CầnvàThơ
liệu học
tậptheo
vàpháp
nghiên
cứu
luật Học
của DNTN
nên quyền
nghĩa@
vụTài
của người
đại diện
luật của
DNTN sẽ được phân tích ở một phần riêng biệt.
2.1.2.1 Quan hệ giữa doanh nghiệp và người đại diện theo pháp luật
của doanh nghiệp
a. Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật đối với doanh
nghiệp
q

Nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

• Nghĩa vụ thực hiện công việc: Thông thường, doanh nghiệp hoạt động
có hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào khả năng làm việc và ý thức trách
nhiệm đối với doanh nghiệp của người đại diện theo pháp luật. Vì thế, nghĩa vụ
quan trọng nhất của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là phải thực
hiện các nhiệm vụ được giao một cách trung thực, mẫn cán vì lợi ích hợp pháp của
doanh nghiệp. Nghĩa vụ này được quy định trong hầu hết các văn bản pháp luật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status