SƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
TẾ
NGOẠI
THƯƠNG
0O0
r
T
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
TẾ
NGOẠI
THƯƠNG
^ca^í
POREIGN
mooĩ
(INIVSRSIIT
KHOA
LUẬN
TỐT
NGHIỆP
VIẾT
TẮT
Ì
CHƯƠNG
ì:
NHỮNG
VẤN ĐỂ
CHUNG
VỀ CÔNG
TY
cổ
PHẦN
VÀ cổ
PHẨN
HOA
DNNN
TẠI
VIỆT
NAM 2
1.1.
Khái
niệm
công
ty
cổ
phần
2
1.1.1.
Các
loại hình công ty
7
1.3.
Tính
tất
yếu
của
cổ
phần
hoa
li
1.3.1.
Thực
trạng
DNNN
tại
VN
và
sự
lựa
chọn
giải
pháp cổ phần
hoa
li
1.3.2.
Sự
cần
thiết
phải
cổ phần hoa DNNN
Quy trình
chuyển
DNNN
thành Công
ty
cổ
phần
27
2.3.
Thực
trạng
cổ
phần
hoa
DNNN
ở
nước
ta
&
Đánh giá quá trình
ẹo
phần
hoa
DNNN 28
2.3.1.
Những
thuận lợi và kết
quả
đạt được trong
quá
thành
cơ chế quản
lý
mới
và
nâng
cao hiệu
quả
hoạt
động
của
DN CPH
trên
cả
hai
tầm
vĩ
mô và
vi
mô
trong nền kình
thị trường
32
KLTN
2005
2.3.1.5.
Hình
thành
cơ chế phân
phối
tiến hành
cố phần hoa
còn
chợm
40
2.3.2.2. Việc tiến
hành
CPH
không đồng đều giữa các ngành, địa
phương
41
2.3.2.3. Hiệu
quả
đối mới
DN
chưa cao
42
2.3.2.4.
Một
số mục
tiêu
CPH
chưa đạt được
43
2.3.2.5.
Vướng
mắc
hợu cố phẩn
hoa:
44
phải
đẩy
mạnh
hơn nữa
CPH
DNNN
70
3.2.
Nhóm
giải
pháp
tiếp
tục
mạnh mẽ
và vững chác
CPH ở
nước
ta
74
3.2.1.
Khẩn
trương sửa đổi
bổ xung
các
văn
bản,
quy chế
hiện
hành,
tạo điêu kiện thuợn lợi cho các
Công
ty
cổ
phần
92
KẾT
LUẬN
95
TÀI
LIỆU
THAM KHẢO 97
LỜI
MỞ
ĐẦU
Từ sau
Đại
Hội Đảng toàn
quốc
lần thứ VI,
nước
ta
chuyển
sang
phát
triển
kinh tế
hàng hóa
nhiều
thành
phần
đã bộc
lộ rất nhiều bất cập:
Phát
triển
tràn
lan,
cơ
sở
vật chất
kỹ
thuật lạc hậu,
cơ
chế
quản
lý
nhiều
lúng
túng,
hoạt
động
kém
hiệu
quả không đáp ứng được yêu cẩu phát
triển
nhanh
chóng
lực
lượng
sản
xuất,
đó
có
giải
pháp
chuyển
một số
DNNN
sang
Công
ty
cổ
phần
(Cổ
phần
hóa
DNNN).
Tuy
CPH DNNN đã
được
tiến
hành
từ
tháng
5/1990,
nhưng đến nay
kết
quả
vẫn chưa được là
bao. Sô'
DNNN
chưa được
khai
thông.
Năm
2005,
năm
hoàn thành
kế
hoạch
cổ
phẩn
hóa
giai
đoạn
5 năm
(2001-2005),
đánh dấu một bước
tiến
nhảy
vỹt trong
quá trình
CPH
trước yêu
cầu đổi
mới
DNNN
khi ra
nhập
tổ
chức
mẽ và
vững
chắc
CPH DNNN
trong
thời
gian
tới.
Là
sinh
viên, tôi mong muốn đóng
góp
sức mình
vào
đẩy
nhanh
công
cuộc
đổi
mới đất nước.
Từ
mong muốn
đó và
trước
những
vấn
đề
nổi
cộm
trong
thầy
giáo- Thạc sỹ
luật
hỹc:
Tăng
Văn
Nghĩa,
khoa
Quản
trị
kinh
doanh
trường
đại
hỹc
Ngoại
thương,
người
đã
trực
tiếp
dìu
dắt,
hướng dẫn
em
từ
khâu
ý
tưởng đến lúc hoàn
thiện
trường
chứng
khoán
TCT
Tổng
công
ty
KLTN
2005
CHƯƠNG ì
NHŨNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ
CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ cổ PHAN HOA DNNN
LI Khái niệm công ty cổ phẩn:
1.1.1.
Các
loại
hình công
ty
phổ
biến
trên
thế
giới.
Qua bao nhiêu năm
tồn
tại
và phát
triển,
công
ty
chế
độ trách
nhiệm
của thành viên công
ty
và ý chí của nhà
lập
pháp,
dưới
góc độ pháp lý
người
ta chia
công
ty ra
làm
hai
loại
cơ
bản:
- Công
ty đởi
nhân.
- Công
ty đởi
vởn.
a.
Công
ty đối
nhân.
Công
tách
bạch
về tài sản cá nhân các thành viên và
tài
sản của công
ty.
Các thành
viên liên
đới chịu
trách
nhiệm
vô hạn
đởi với
mọi
khoản
nợ của công
ty.
Các
thành viên có tư cách thương
gia
độc
lập
và
chịu
thuế
thu
nhập
cá nhân, bản
thân công
ty
dó các thành viên cùng
nhau
tiến
hành
hoạt
động thương mại
dưới
một hãng
chung
và cùng
nhau
liên
2
KLTN
2005
đói
chịu
trách
nhiệm
vô hạn về mọi
khoản
nợ của công
ty.
Công
ty
hợp
danh
hay
còn
gọi
Do tính
chất
liên
đới chịu
trách
nhiệm
vô
hạn,
cho nên các thành viên
phải thực
sự
hiểu
biết
nhau,
tin
tưồng,
"sống chết có nhau".
Điều
đó
phản
ánh tâm lý của các thương
gia
khi
hùn
vốn với
nhau
để
kinh
doanh.
Việc
bạ thương
mại.
Tuy nhiên,
trong
một
số trường
hợp,
hợp đông
tuy
không được đăng ký nhưng được thông báo
rộng
rãi
thì vẫn có giá
trị
pháp lý.
Trong
hợp
đồng,
điều quan
trọng
là sự
thoa thuận
về trách
nhiệm
của
các thành
viên.
Một công
ty
hợp
Còn
những
thành viên khác
chỉ
chịu
trách
nhiệm
hữu hạn
trong
số vốn góp vào công
ty
(thành viên góp
vốn).
Công
ty
hợp vốn đơn
giản
về cơ bản
giống
công
ty
hợp
danh,
điểm
khác
biệt
cơ bản là công
ty
hợp vốn đơn
giản
- Thành viên góp vốn
chịu
trách
nhiệm
hữu hạn
trong
phạm
vi
phần
vốn
góp vào công
ty.
Thành viên góp vốn không có
quyền đại
diện
cho công
ty
trong
các
quan
hệ
đối
ngoại,
nếu họ đứng ra
thay
mặt công ty thì sẽ mất
3
KLTN
2005
quyền chịu
vốn
đơn
giản
cũng chỉ ghi
tên
của thành viên
nhận
vốn.
Sự
ra đời
của công
ty
hợp
vốn
đơn
giản
đã đáp ứng
được
yêu
cớu của
các nhà
kinh
doanh
một
khi
do
tính
chất
chịu
trách
ty đối
vốn không
quan
tám đến
nhân thân
người
góp
vốn
mà
chỉ quan
tâm
đến vốn
góp.
Đặc
điểm
quan
trọng
của công
ty đối
vốn là không
có sự
tách
bạch
của
tài sản công
ty
và
tài sản của
cá
nhân,
hiểu
biết
về
kinh
doanh cũng
có
thể tham gia
vào
công
ty.
Công ty
phải
đóng
thuế
cho nhà
nước,
các
thành viên công
ty
phải
đóng
thuế
thu nhập.
Có
rất nhiều
các quy
định
phấp
lý về
tổ chức
loại
này
tồn
tại
phổ
biến
ở
châu
Âu
lục địa.
Hệ
thống
luật
Anh-Mỹ
chỉ
có một
loại
công
ty đối vốn,
ở Anh
gọi
là
Company,
ở Mỹ
gọi
là
Public
Coporation
và
Close
giống
như
công
ty
trách
nhiệm
hữu hạn.
Công
ty
trách
nhiệm
hữu
hạn,
khác
với
tất
cả các
loại
hình công
ty,
công
ty
trách
nhiệm
hữu hạn là
sản phẩm của
hoạt
động
lập
pháp.
được
ban
hành.
Công
ty
trách
nhiệm
hữu hạn là
loại
hình công
ty đối vốn, trong
đó các
thành viên chỉ
chịu
trách
nhiệm
về
mọi
khoản
nợ
của công
ty trong
phạm
vi
vốn
mà họ đã góp vào
công
ty.
Công
ty
-
Thành viên công
ty
không
nhiều
và thường
là
những
người
quen
biết
nhau.
-
Vốn
điều
lệ chia
thành
từng
phần,
mỗi
thành viên
có
thể
góp
nhiều,
ít
khác
nhau
và
bắt
vốn,
sử
dụng
vốn và
phân
chia
lợi
nhuận.
Trong
điều
lệ
công
ty phải ghi
rõ
số vốn
ban đầu.
-
Phần
vốn góp
không
thể hiện dưới
hình
thức
cổ
phiếu
và
rất
khó
chuyển
nhượng
Công
ty
Cổ
phần,
công
ty
trách
nhiệm
hữu
hạn thường
chịu
sự
điều
chỉnh
bắt
buỗc
ít
hơn so
với
công
ty
cổ
phẩn.
1.1.2.
Công ty
cổ
phần.
Công
ty
cổ
về các
khoản
nợ
của công
ty
cho
đến
hết
giá
trị
cổ
phần
mà họ
sở
hữu.
Các Công
ty
cổ
phần
đầu
tiên trên
thế
giới
ra đời
vào
khoảng
thế
kỷ 17.
Nó
gắn
phấn
ra
đời
là một phát
minh của
loài
người
trong
nền
sản
xuất
xã
hội.
Từ góc độ pháp
lý,
có
thể
khái quát
những
đặc
điểm
của
Công
ty
cổ
phần:
- Là một
tổ
chức
có tư cách pháp
trách
nhiệm
về các
khoản
nợ của công
ty
bàng tài sản của
công
ty,
các thành viên công
ty
chỉ
chợu
trách
nhiệm đối với
các
khoản
nợ
của
công
ty
trong
phạm
vi
số vốn
họ đã góp vào công
ty.
- Vốn cơ bản của công
ty
được
ty
cổ
phần
gắn
liền
với
sự
ra đời
của
thợ
trường
chứng
khoán.
-
Việc
chuyển
nhượng
phần
vốn góp được
thực
hiện
dễ dàng thông qua
hành
vi
bán cổ
phiếu
trên
thợ
trường
chứng
công
nghiệp.
Đặc
trưng
quan
trọng
nhất
của Công ty cổ
phẩn
(đó
cũng
là tính
chất
quyết
đợnh để phân
biệt
Công
ty
cổ
phần
với
Công
ty
trách
nhiệm
hữu hạn)
đó là cổ
phần.
Theo
Luật
chỉ chợu
trách
nhiệm
về nợ và các
nghĩa
vụ tài sản của DN
trong
phạm
vi
số
vốn
đã góp vào
doanh
nghiệp.
6
KLTN
2005
c)
Cổ
đông có
quyền
tự
do
chuyển
nhượng
cổ
phần
của
mình cho
nguôi
là
ba
và không
hạn chế số
lượng
tối
đa.
2.
Công
ty
cổ
phần
có
quyền
phát hành
chứng
khoán
ra
công chúng
theo
quy
định
của
pháp
luật
về
chứng
khoán.
3.
Công
xem
là
đáp ứng được
những
đặc trưng
kinh
tế
của nền kinh tế
thị
truồng,
cũng
như
thoa
mãn được các nguyên
tắc tạo vốn,
quản
lý
vốn của
các
DN
trong nền kinh tế thị
trường.
Có
thể
khái quát
vai
trò
của
CTCP
biểu hiện
không
thể
nào
thiết
lập
dược.
CTCP
cho
phép
tạo ra
các công cụ để có
thể
huy
động vốn
nhanh
chóng
vặi
quy
mô
lặn
và
hiệu
quả
cao.
Nhờ phát hành
cổ
phiếu
và
trái
phiếu,
cá nhân
hoặc
từng
DN
không có
khả
năng tích
lũy
được
như:
xây
dựng
đưòng
sắt, viễn
thông,
xí
nghiệp
công
nghệ
cao
Mác đã đánh
giá:
"
Nếu như cứ
phải chờ
cho đến
khi
tích
lũy
làm
thực
hiện
được
việc
đó
trong
nháy mắt ".
7
KLTN
2005
Rõ ràng
việc
huy động vốn thông qua
thị
trường tài chính
có
những
ưu
điểm
hơn hẳn các hình
thức
huy động vốn khác như
cấc
hệ
thống
tiết
kiệm
và
tín
dụng.
và
bảo vệ
quyền
lợi
của
người
có
vốn.
Tính
hơn
hẳn
đó còn
biểu hiện
ở
việc tạo ra
một
cơ
chế
phân tán
rủi
ro
nhằm hạn
chế
những
tiêu cực về
kinh tế
-
xã
hội khi
một DN lâm vào
nhủn
rủi
ro là một phẩm
chất
cần
có
của nhà
kinh
doanh.
Song
chấp
nhủn
mạo
hiểm
phải
đi
liền
với
cơ
chế
hạn
chế
tới
mức
thấp
nhất
những
tác động tiêu cực
và
sự
tiêu cực
đối với đời
sống
xã
hội
được hạn chế
ờ mức
thấp
nhất.
Chính điều
này
đã
tạo ra
cho
CTCP
khả
năng tích
tụ
và
tủp trung
vốn
rất cao.
Sự
ra đời
và
phát
triển
của chế
độ
tín
dể
hình thành
mô
hình tổ
chức
kinh tế
DN
dưới
hình
thức
CTCP. Đến
lượt
nó,
CTCP
lại
làm
cho
hoạt
động tín
dụng
(bao
gồm
tín
dụng
thương
nghiệp
và
tín
dụng
ngân
thị
trường tài chính bao
gồm
thị
trường
vốn,
TTCK
Trong
đó TTCK
đóng
vai
trò
trung
tâm
phản
ánh
trạng
thái
hoạt
động
của
các công
ty trong
nền
kinh tế thị
trường.
Thông qua
TTCK
khả năng tích
tụ
hai:
CTCP
là
mô
hình tách biệt được quyền
sở hữu
và
quyền kinh
doanh
vì
vậy
nó cho phép mở
rộng
quy
mô
sản
xuất nhanh chóng
mà
không
bị giới hạn
của
tùng
tư bản
cá
biệt.
CTCP
không chỉ là phương
thức
thu
hút vốn
sản
xuất
kinh
doanh ra
khỏi
quyền
sự hữu
do đó nó
phát huy
cao
nhất
những
tài năng
kinh
doanh,
đồng
thời
bảo
đảm
sự
kiểm
soát nghiêm
ngặt
của các cổ đông
đối với
việc
sử
dụng
vốn do họ đóng góp.
Trong
nên
luôn
giữ
được tính liên
tục
của
quá trình
kinh
doanh.
Mặt
khác
với
sự
tham gia
đông
đảo
của công chúng,
lại
có cơ
cấu tổ
chức quản
lý
chặt
chẽ
gồm
hội
đồng
quản
trị,
giám
kiện
cho ngươi
lao
động
tham
gia
quản
lý công
ty
một cách
thực sự, tận
dụng
được
đội
ngũ
quản
lý nhà
nghề
trong
sản
xuất
kinh
doanh.
Với
CTCP,
những
người
không
thạo
kinh
của sự hữu
thể
hiện
ự
mối
quan
hệ
giữa
quyền
sự hữu
và
quyền
kinh
doanh
đã
tạo
điều
kiện
đẩy
nhanh
quá
trình
xã
hội
hoa sản
xuất.
Quá
trình
đó làm
cho hệ
biệt.
Đến
lượt
nó,
các
chức
năng
quản
lý
kinh
tế
vĩ
mô
của hệ
thống
ngân hàng,
TTCK và
Nhà
nưóc,
lại
làm
tăng quá trình xã
hội
hoa sản
xuất
đó
cả về quy
mô
lẫn
tốc
với
mục
đích trước
hết
là
nhận
được
tiền
lãi,
sau
đó
mới đến
thu nhập
"ngầm" như đã phân tích
ở
trên.
Tiền
lãi của các
cổ
đông
có
thể thu
được
bằng
việc
sử
dụng
vốn
để
gửi
nếu
ngược
lại
thì sử
dụng
vốn
để
gửi
tiết
kiệm.
Nhưng
do
quy định không
có
quyền
rút vốn
cổ
phần
trong
quá
trình công
ty
đang
tiến
hành
kinh
doanh,
nên
chỉ những
CTCP
dẫn. Điều
này
tạo
ra
một sịc
ép
về
phía
các CTCP:
nếu
muốn
huy động được vốn thì
phải
làm ăn có
lãi,
tịc
là
phải
phát huy cao
độ
hiệu
quả đổng vốn đã huy động
được.
Có
thể nói,
ngày nay
sự
tổn
tại
và
vào
tình
trạng
khó
khăn
về
tài chính và
tổ
chịc
như
sau:
-
Lượng
cổ
phiếu
phát hành
bổ
xung
nhằm
cải
thiện
sản
xuất
-
kinh
doanh
không
có
sịc hấp dẫn
nên
đổ bìm
leo"
xuất hiện:
ngân hàng hạn chế cho vay
bạn
hàng hợp tác
dè
chừng,
việc
duy
trì
và
kéo dài các
khoản
nợ
khó khăn
tất
cả hợp
lực
đó
luôn
đặt
công
ty
ở
bờ
vực
của sự phá
sản.
Chính vì vậy vấn
triển
trong
một nền
kinh
tế
cạnh
tranh
gay
go
và
khốc
liệt.
Thứ
tư
:
CTCP
và
TTCK
vừa
duy
bì
được
sự
ổn
định
của
doanh nghiệp,
đồng
thời
vừa
thanh
lý
khi
công
ty
phá
sản,
vì
thế bẫt
kể
có
bao nhiêu
cổ
đông
bán cổ
phiếu
hoặc
chết
đi
và
bẫt
kể
cổ
phiếu
được
chuyển
chủ
bao
nhiêu
lần
vốn
nhàn
rỗi
từ
nhiều
kênh khác
nhau
trong
xã
hội
chạy
vào các
ngành
sản
xuẫt
-
kinh
doanh
có
tỷ
suẫt
lợi
nhuận cao,
khiến
cho
tiền
vốn được phân
bố
hợp
lý hơn.
được
coi
là con
đường
hữu
hiệu
nhẫt
để
cải
tổ
DNNN,
đồng
thời
vẫn
củng
cố
được
vai
trò
của
khu vực
kinh
tế
Nhà
nước
bằng
cách
di
chuyển
linh
VN
và
sự
lựa
chọn
giải
pháp cổ
phẩn
hóa
ở nước
ta,
cũng
giống
như
cẫc nước
XHCN
trước đây,
thực
hiện
mô
hình kế
hoạch
hoa
tập
trung
đều
lẫy
việc
mở
rộng
khu vực
kinh
tế
Nhà
nước
dã
phát
triển
nhanh
chóng,
rộng
khắp
trong
tẫt
cả các
lĩnh
vực
cơ
bản
với
tỷ
trọng tuyệt
đối
trong
nền
kinh tế,
bẫt
kể
hiệu
quả đích
cả
nước
có
12.084
DNNN,
trong
đó có
1695
DN
do
Trung
ương
quản lý, 10.389
DN do
cấp địa phương
quản lý.
Khu vực
kinh
tế
Nhà nước có số vốn
trị
giá 10 tỷ
USD,
chiếm
85%
tổng
ngân sách Nhà
nước,
70%
tổng
dãn
1985 1986 1987 1988
1989
1990
1991
1992
-Tỷ
trọng
GDP
37.0
34.9
33.6 30.5 34.5
36.3
37.0
39.9
-Tỷ
trọng trong
thu
nhập
Quốc
dân
28.0
29.8 27.4 22.5 26.3 28.0 29.0 30.6
Nguồn:
Niêm
giám thống
kê 1991
-
(Nhà
XE
100%;
viễn
dương 98%;
đường
bộ
80%.
Trong
các
ngành sản
xuất
công
nghiệp:
dầu
khí, điện
tử, than, khai
thác
quặng,
hầu
hết
các nghành cơ khí
chế
tạo,
hoa
chất
cơ
bản,
xăng,
thuốc
lá,
bia
là
tình
trạng
hoạt
động kém
hiệu
quả.
Thể
hiện
ở:
•
Thị
trường tiêu
thụ
giảm
sút
Do thói
quen
bao cấp trước đây,
trong
khâu tiêu
thụ
sản phẩm được
làm
ra,
do
ảnh
hưởng
của
cuộc khủng hoảng
nước
và
nước ngoài cả về giá cả
và
chất
lượng
do
vậy
họ
liên
tiếp
bị
mất
thị
phẩn
kinh
doanh
của mình
12
KLTN
2005
•
Các
nguyên liệu
thô đắt
Hầu
hết
các nguyên
liệu
thô
giá
của
các nguyên
liệu
thô tăng đáng kể.
• Các
thiết
bị
lạc
hậu
Hầu
hết
các
DNNN
đều được
trang
bị các
máy
móc và các
thiết
bị
nhập
tủ
nhiều
nước khác
nhau
(tạ
các nước Đông
Âu và
gần
chuyền
sản
xuất
tại
các
DNNN này đã
bị
lạc
hậu tạ
10
đến
20
năm so
với
các
chuẩn
chung
trên
thế
giới.
Kết quả
là,
sự
cạnh
tranh
các hàng
hoa
do các
DNNN
sản
dư
tại
các
DNNN
Theo
báo cáo của
MPDF
(1)
đã
báo cáo
lại
là
trong
số
14
CTCP
được
chọn,
lực
lượng
lao
động
đã
tăng
lên
39%,
mức
lương bình quán tăng tạ
712,000
đồng
lao
động dôi
dư
là
6%
trên
tổng
số
lực
lượng
lao
động,
nhưng
trong
các trường hợp cụ
thể
có
thể
lên
tới
33%
trong
tổng
số
lực
lượng
lao
động (ví dụ như
ở
tỉnh Hải
bảo thực
hiện.
1
MPDK Báo cáo cùa MPDF vê CPH tại VN, Các kinh nghiệm tích lũy từ trước đến nay (tháng 3/9H)
13
KLTN 2005
•
Các
khoản
Lỗ
và
Nợ
chồng chất
Một
trong
những
khó
khăn
lớn nhất,
hạn
chế
quá trình
CPH DNNN
là
khó khăn
trong
xử
lý
nợ
của
Rất
nhiều
DN
nợ
gấp vài
lần
thậm
chí nợ
gấp
hàng
chục
lần
so
với
vốn chủ sở
hữu.
Theo
báo
cáo của
Bộ
Tài
chính,
tổng
số
nợ
mà
DNNN
phải trả
ước
khoảng 207.789 tứ
phải
thu
của
DNNN
chỉ
khoảng 50-60%
so
với
vốn
chủ
sở
hữu, bằng 15-20% doanh thu
hàng
năm
của
DN. Tuy
nhiên,
số
nợ
phải thu
khó
đòi
thường không
phản
ánh đầy
đủ
trên
sổ kế
toán
của
thương mại
cần tham
gia
tích
cực
vào quá
trình
xử
lý
nợ
của
DNNN.
Đối
vói
những
DN
mất
hết
vốn
Nhà
nước,
cần
nhanh
chóng được
giao,
bán,
khoán
hoặc
cho thuê"
theo
DNNN
chỉ khoảng
38
triệu
USD
trong khi
các
DN
đầu tư
Nhà nước
đã
đầu
tư khoảng 772
triệu
USD,
chiếm
70%
thị
trường
điện
tử
nội địa.
Một
số công
ty
thành viên
của Tổng
công
ty
điện
DN
sẽ
mất
đi chế
độ
ưu
đãi
mà ưu
đãi
này
cho
phép các
DNNN
dễ
dàng
vay
tiền
từ
các
ngân hàng
quốc doanh.
2
cổ
phần
hóa
DN
:
vẫn
thíp
hơn
trường hợp các
TCT
bán một
trong
số các công
ty
thành
viên,
số
tiền
thu
được
từ
việc
bán công
ty
này sẽ ko được
chuyển
cho
TCT
trừ
trường
hợp
phát hành các cổ
phần mới. Lợi nhuận thu
được từ các cổ
phẩn
này có
thể
được
lực
của
họ, kết
quả là
doanh thu giảm,
tài sản
giảm
và
thu nhập giảm.
1.3.2.
Sự
cần
thiết
phải
cổ
phần hóa
DNNN
tại Việt
Nam
Chính
từ
thực
trạng
của
DNNN
tại
VN
và
vai
trò của
dụng
từ một
mô
hình lý
thuyết
sao chép của nước ngoài
.
"CPH là một chủ trương
lớn,
một
giải
pháp
quan
trọng
tạo chuyển
biến
cơ bản
trong việc
nâng cao
hoạt
động sản
xuất
kinh
doanh
của
DNNN
tại
VN".
Nhưng để chủ trương này được
thực
nam"
cho
quá
trình
CPH. Đây
là một thách
thức
không nhỏ đòi
hỏi
phải
rút
ra từ
một
quá
trình
nhận
thức
lâu dài được rút
ra từ
lý
luận
và
thực
tiên
sinh
động của
VN
và
nhiều
nước khác trên
tế,
tổ
chức
xã
hội
trong
nước
và
nước ngoài
để
đầu
tư
đổi
mới công
nghệ
tạo
15
KLTN
2005
thêm
việc
làm, phát
triển
doanh
nghiệp,
nâng cao sức
cạnh
tranh,
thay đổi
cơ
hoa
đất nước,
đó
cũng
là
điều
kiện
tối
quan
trọng
để
nâng
cao
khả
năng
cạnh
tranh,
mầ
rộng
sản
xuất
kinh
doanh
của
các
doanh
nghiệp.
Hơn
nữa,
việc
làm
chủ
thực
sự;
thay
đổi
phương
thức
quản
lý
tạo
động
lực
thúc
đẩy
DN
kinh
doanh
có
hiệu
quả tăng
cường
phất
triển
đất
nưóc
nâng cao
thu
nhập
của
sản
xuất
của
doanh
nghiệp,
quyền
sở
hữu
và
quyền
kinh
doanh,
hành
vi
của chính
quyền
và
hành
vi
của
DN
được
hợp lý
hoa
một
cách
rõ
nét. Thông
qua
việc
định
chiến
lược
phát
triển
của công
ty,
tham
gia
quản lý,
phân
chia
lợi
nhuận,
sát
nhập
giải
thể
công
ty,
lựa
chọn Hội
đồng
quản
trị.
Theo
kế
hoạch,
đến
cuối
việc
đề
ra
mục
tiêu
CPH
là
tiền
đề
quan
trọng
để
chủ trương
CPH
đi
vào
thực
tiễn
đời sống
kinh
tế;
tạo
đà
thúc
đẩy
cho
việc
thúc
đẩy
việc
li
QUÁ TRÌNH CỔ
PHẦN
HOA
DNNN
TẠI
VIỆT
NAM
CPH ở
nước
ta đã
trải
qua một
chăng
đường
dài gần 15 năm. Và năm
2005
chính là
năm
Đảng
ta
xác định hoàn thành
nhiệm
vụ
CPH
trong
5 năm
(2001-2005).
Thế nhưng nhìn
vào
doanh
nghiệp,
trong
đó CPH
là
154
DN.
So
với
kế
hoạch
năm
2005,
con số
đạt
được chỉ
chiếm
khoảng
20%
<s)
,
báo
hiệu
khả năng không
đạt
kế
hoạch
dề
ra.
Trong
trong việc
nâng cao
hoạt
động sản
xuất kinh
doanh
của
DNNN.
Lý
thuyết
thì là vậy nhưng
thực tế
tiến
hành thì
phải
đối
đầu không
biết
bao nhiêu là
khó
khăn,
vướng
mắc;
khiến
cho
quá
trình
này
trở
nên
bảo
hộ
bị
xoa
bỏ
trong
quá
trình
hội
nhập quốc
tế,
DNNNcó thể
rơi vào
tỉnh trạng
đố
vỡ hàng hạt
".
(6
'
Có
thể thấy
yêu cầu
phải
đẩy
mạnh
sắp
xếp,
đặi
mới nâng cao
hiệu
chứng
khoán,
Trích bài
phỏng
vấn
thủ
luống
Phan
Văn
Khai
tài Hội
nghị
toàn
quốc
về
Đặi
KLTN
2005
2.1. Khuôn khổ pháp lý
hiện
hành:
Ngay
từ dầu
thập
niên
90,
cùng
với việc đổi
mới
cơ
vốn,
nhất
là cán
bộ
công nhân viên
chảc
trong
DN
có cổ
phán nâng cao
vai
trò
làm
chủ
thật
sự, tạo
động
lực
thúc
đẩy
DN
kinh
doanh
có
hiệu quả,
tăng cường sự giám sát của
xã
hội đối với
DN,
đảm
điểu
kiện
đẩy
nhanh
quá
trình
CPH
các
DNNN
tại
Việt
Nam.
2.1.1.
Các
chủ trương chính sách của Đảng
và Nhà
nước
ta
về
CPH
•
Giai
đoạn thí
điểm
(
Tháng
5/1990-
4/1996
)
Tiếp
10/5/90,
Chính phủ
ra
Quyết
định
số
143- HĐBT,
trong
đó có
chủ
trương
thí
điểm
một số
DN
một số
DNNN
chuyển
thành
CTCP.
Thời
gian
này
được
xác
định
là
cái
mốc để
nước
này
nhưng sau
2 năm
vẫn
chưa
có
DNNN
nào
được
CPH.
Để
tiếp
tục
làm
thí
điểm
CPH,
ngày
8/6/1992,
Chủ
tịch
Hội đồng
Bộ
Trưởng
(nay
là
thủ
tướng Chính Phủ)
đã
ban hành
nghiệm
sau
đó
chọn
DN
tự
nguyện
có đủ
điều
kiện;
đồng
thời
nhằm
đẩy
nhanh
công
tác
thí
điểm
CPH,
Thủ
tướng Chính
phủ
cũng
ban
hành
Chi
thị
84/TTg
ngày 4-8-1993
điểm
CPH
là
38.393
tỷ
đồng.
Nhìn
chung,
các
DNNN
tiến
hành
CPH
trong
giai
đoạn
này đều
thuộc
diện
vừa
và
nhỏ, vốn ít
(dưới
10
tỷ),
phần
lớn
mang
tính
dịch
với
tình hình
thực
tế
từ
việc
chọn
DN
đến xác định giá
trị
DN;
trách
nhiệm
của
Bộ
nghành, địa
phương.
Để
đẩy
nhanh
tiến
trình
CPH
và có tính pháp lý cao
hơn,
Chính phủ đã
ban
hành văn
bản thay
thế
kiện
thúc đẩy
CPH
nhanh
hơn.
Đối
tượng,
mục tiêu CPH, nguyên
tực xấc
định
giá
trị
DN,
chế
độ ưu
đãi
DN
và
người
lao
động được
quyết
định cụ
thể hơn. Kết quả, sau
hơn
ì
năm
thực
hiện
đã có 25
đó 6
DN
trên
10
tỷ
đồng
(
chiếm
20.8%
).
Tuy
nhiên,
kết
quả
này chưa đáp ứng được yêu
cầu đổi
mới DN,
cần phải
có Nghị
Định
mới
thay
thế
cho phù hợp.
•
Giai
đoạn
triển
khai
(từ
hơn cho
các
DNNN
thực
hiện
CPH.
Bởi
ngoài kế
thừa nhiều
mặt tích cực của Nghị
định
28/CP,
Nghị định này đã có
nhiều
bổ
xung
sửa
đổi
và phát
triển
thêm
nhiều
điểm
mới để đáp ứng yêu
cầu thực
tiễn
CPH.
19
KLTN
2005
chuyển
đổi
sở
hữu.
Đồng
thời
các
chính sách
khuyến
khích,
ưu
đãi
đối
vói DNNN và
người
lao đảng
trong
DNCPH
cũng
rõ
ràng
và
chi
tiết
hơn.
Ngoài
ra,
Chính
Phủ còn
tiến
đảng
Việt
Nam,
Văn
phòng chính
phủ
đã
ban
hành
các
văn
bản
hướng
dãn cụ
thể
thực
hiện
Nghị định 44/NĐ-CP;
giao
và
tạo
quyền
chủ
đảng
cho các
Bả, nghành, địa phương
và các
Tổng công
ty
91
trong
DN
được
ưu
đãi
hơn
trước
(
giảm
giá
30%),
đặc
biệt
người
lao
đảng nghèo
trong
DN
được
vay
trong lũ
năm
không
phải
trả
lãi
suất; tạo
điều
kiện
cho
nước
về
CPH
được
chú
trọng
và
triển
khai
tích cực
hơn.
Trong
đó, Chính
phủ
đã
tổ
chức
2
Hải
nghị
tập
huấn
trên
1.100 cán
bả
chủ
trót
của
Bả, địa phương,
các
hợp
tác
của
mảt số
tổ
chức
quốc
tế (WB, IFC,
AUSAID )
mở
lớp tập
huấn
về
Nghị định 44/NĐ-CP
và các văn bản
hướng
dẫn
cho 800 cán bả các Ban
đổi
mới
quản
lý
DN
của
các
bả,
tỉnh,
và các
DN
ở
khăn vướng
mắc.
Nên
sau
hơn
3 năm
thực
hiện
tiến
trình
CPH
đã có
những
bước
nhảy
vọt
với
742
DN và bả
phận
DNNN
hoạt
đảng
hầu
hết
các
lĩnh
vực
kinh tế
của