TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƢƠNG
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC TẠI
VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Họ và tên sinh viên: Đỗ Đức Kiên
Lớp: Anh 2
Khoá: 41 – Kinh tế Ngoại thương
Giáo viên hướng dẫn: Ths. Nguyễn Thị Tƣờng Anh
20
II. Những vấn đề chung về CPH DNNN ở Việt Nam
20
1. Bản chất CPH DNNN
20
2. Vai trò của việc CPH DNNN đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
22
2.1 CPH góp phần xây dựng một Nhà nước mạnh
23
2.2 CPH góp phần tăng cường hiệu quả đầu tư của toàn xã hội
24
2.3 CPH tác động tới sự tăng trưởng của đất nước
25
2.4 CPH tác động đến đời sống kinh tế của người lao động
26
2.5 CPH đẩy lùi vấn đề tham nhũng
26
3. Tính tất yếu của CPH ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế
27
III. Kinh nghiệm quốc tế về CPH
31
1. Kinh nghiệm CPH ở các nƣớc phát triển
31
2. CPH và tƣ nhân hoá các doanh nghiệp ở Đông Âu
31
3. Quá trình CPH ở Trung Quốc
32
3.1 Xác định quan điểm CPH DNNN
32
37
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HOÁ CÁC DOANH
NGHIỆP NHÀ NƢỚC.
38
I. Quá trình CPH và thực trạng ở Việt Nam
38
1. Giai đoạn thí điểm (1992 đến tháng 5/1996)
38
1.1 Cơ sở pháp lý để thực hiện CPH
38
1.2 Triển khai CPH trong thực tế
39
2. Thời kỳ mở rộng CPH (tháng 5/1996 đến tháng 6/1998)
40
2.1 Cơ sở pháp lý nhằm mở rộng CPH
40
2.2 Thực tiễn triển khai đến các doanh nghiệp
41
3. Thời kỳ đẩy mạnh CPH hay giai đoạn chủ động (tháng 7/1998 đến nay)
42
3.1 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.
42
3.2 Thực tiễn kết quả CPH đã đạt được
43
II. Những mặt đƣợc và những mặt chƣa đƣợc của quá trình CPH
DNNN ở nƣớc ta trong thời gian qua
53
1 Đánh giá những kết quả đã đạt đƣợc của quá trình CPH
54
2 Những tồn tại làm chậm tiến trình CPH
3. Hoàn thiện vấn đề định giá doanh nghiệp.
67
4. Giải quyết các bất cập, vƣớng mắc về quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng
đất
69
5. Chính sách ƣu đãi hợp lý đối với DNNN thực hiện CPH, đảm bảo quyền
tự chủ kinh doanh bình đẳng.
70
6. Giải quyết lao động dôi dƣ, đảm bảo lợi ích của ngƣời lao động trong
doanh nghiệp CPH.
72
7. Hoàn chỉnh chính sách bán cổ phần cho đối tác nƣớc ngoài
73
8. Việc phân bổ và bán cổ phiếu
74
9. Xoá bỏ sự can thiệp của Nhà nƣớc vào hoạt động nội bộ công ty
75
10. Công tác tổng kết rút ra bài học kinh nghiệm về CPH ở các đơn vị đã
tiến hành CPH.
76
11. Khen thƣởng, động viên khuyến khích đối với những Bộ, Địa phƣơng,
Tổng công ty 91 làm tốt trong công tác CPH.
77
12. Đề xuất một số giải pháp sửa đổi nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày
16/11/2004 để phù hợp với thực tế và đồng bộ với các quy định mới nhất là
các quy định mới của Luật Doanh nghiệp 2005.
77
KẾT LUẬN
80
PHỤ LỤC
52
13. Cơ cấu số lượng doanh nghiệp CPH phân theo hình thức tiến hành CPH
52
- Cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước -
- 1 -
LỜI MỞ ĐẦU.
Cổ phần hoá (CPH) doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là một chủ
trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong tiến trình đối mới và phát triển
đoanh nghiệp Nhà nước. Mục tiêu của chương trình CPH là đa dạng hóa sở
hữu đối với các doanh nghiệp nhằm huy động thêm vốn và kinh nghiệm của
toàn xã hội vào phát triển sản xuất – kinh doanh, tạo động lực mới và phát
huy quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả và
sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong hơn 15 năm qua, việc tiến hành cổ phần hóa ở nước ta đã đạt
được những kết quả đáng khích lệ. CPH đã thực sự trở thành giải pháp cơ bản
và quan trọng nhất để DNNN có cơ cấu thích hợp, quy mô lớn, tập trung vào
những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Tuy nhiên, tiến độ CPH
trong thời gian qua còn chậm, tỷ trọng vốn Nhà nước được cổ phần hóa còn ít
nên đã hạn chế việc nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Chính vì vậy, đòi hỏi phải có những giải pháp nhằm thúc đẩy tiến trình CPH
DNNN, nâng cao hiệu quả của CPH, đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước,
doanh nghiệp và người lao động.
Việc phân tích thực trạng CPH DNNN, xem xét đánh giá công tác thực
hiện không những cho phép chúng ta nắm được tình hình thực hiện CPH
trong thời gian qua mà còn có thể giúp các nhà quản lý tìm ra nguyên nhân và
các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình này, từ đó để rút ra giải pháp giải quyết
luận tốt nghiệp của mình.
Em xin chân thành cám ơn cô Nguyễn Thị Tường Anh – giáo viên
hướng dẫn và các cô – Cán bộ làm việc tại Viện quản lý kinh tế trung ương đã
giúp em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.
- Cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước -
- 3 -
CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN
HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC.
I. Những vấn đề về DNNN và công ty cổ phần.
1. Một số nét về DNNN.
DNNN là một tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ
chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện
các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước. DNNN là bộ phận cấu thành quan
trọng nhất của nền kinh tế Nhà nước, quan trọng nhất nhưng không phải đồng
nhất và đồng nghĩa với kinh tế Nhà nước.
Trong điều kiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung, DNNN (trước đây gọi
là các xí nghiệp quốc doanh) chiếm vai trò độc tôn trong nền kinh tế. Đó là
các doanh nghiệp hoạch toán kinh tế theo nguyên tắc thu đủ chi đủ. Về mặt sở
hữu. đó là những doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư vốn 100% và trực tiếp
quản lý.
Khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc
chuyển đổi cơ chế quản lý đối với DNNN luôn là vấn đề trung tâm.
Theo luật DNNN ban hành ngày 30-3-1995, khái niệm DNNN đã được
đưa ra như sau: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập
và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực
hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội do Nhà nước giao, DNNN có tư cách pháp
nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt
tế vĩ mô và hoạt động trong những ngành, lĩnh vực sau: Sản xuất điện; Khai
thác các khoáng sản quan trọng: Dầu thô và khí tự nhiên; Than; Bô xít; Quặng
đồng; Quặng thiếc; Quặng có chất phóng xạ; Vàng; Đá quý…
1.3. Những DNNN hoạt động kinh doanh bảo đảm nhu cầu thiết yếu
cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào
nông thôn, đồng bào dân tộc ở miền núi, vùng sâu, vùng xa.
1.4. Những DNNN hoạt động kinh doanh có tính chất đặc thù: Các
nhà xuất bản (trừ xuất bản sách giáo khoa, sách báo chính trị, sách báo cho
- Cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước -
- 5 -
thiếu nhi, sách tiếng dân tộc); Xổ số kiến thiết; Một số DNNN hoạt động
trong những ngành quan trọng theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
2. Những DNNN hoạt động công ích trong các lĩnh vực: In bạc và chứng
chỉ có giá; Điều hành bay; Bảo đảm hàng hải; Kiểm soát và phân phối tần số
vô tuyến điện; Sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài, trang bị chuyên dùng cho
quốc phòng, an ninh; Các doanh nghiệp được giao thực hiện nhiệm vụ quốc
phòng, an ninh đặc biệt và các doanh nghiệp đóng tại các địa bàn chiến lược
quan trọng kết hợp kinh tế với quốc phòng theo quyết định của Thủ tướng
Chính phủ…
B. Những DNNN tiến hành đa dạng hoá sở hữu dưới các hình thức: CPH,
giao doanh nghiệp cho tập thể người lao động hoặc bán doanh nghiệp.
1. Những DNNN khi CPH Nhà nước nắm giữ trên 50% tổng số cổ phần
của doanh nghiệp.
1.1. DNNN hoạt động kinh doanh.
a) Những DNNN hoạt động kinh doanh có vốn Nhà nước từ 10 tỷ
đồng trở lên; mức thu nộp ngân sách Nhà nước bình quân của 3 năm trước
liền kề từ 1 tỷ đồng trở lên; hoạt động trong các ngành, lĩnh vực quy định tại
b) Kinh doanh thua lỗ ba năm liên tiếp và có số lỗ luỹ kế bằng 3/4 vốn
Nhà nước tại doanh nghiệp trở lên, nhưng chưa mất khả năng thanh toán nợ
đến hạn, tuy đã áp dụng các biện pháp tổ chức lại nhưng không thể khắc phục
được, thì thực hiện giải thể.
c) Kinh doanh bị thua lỗ hai năm liên tiếp, không có khả năng trả được
các khoản nợ đến hạn, thì thực hiện phá sản.
2. Những doanh nghiệp hoạt động công ích hai năm liên tiếp không hoàn
thành nhiệm vụ được giao, thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định
thực hiện sáp nhập, giải thể hoặc phá sản.
Tổng công ty Nhà nước (gồm Tổng công ty thành lập theo Quyết định
số 90/TTg và Quyết định số 91/TTg ngày 07 tháng 3 năm 1994 của Thủ
tướng Chính phủ).
Tổng công ty Nhà nước phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
- Cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước -
- 7 -
1. Thuộc các ngành, lĩnh vực : khai thác, chế biến dầu khí và kinh doanh
bán buôn xăng dầu; sản xuất và cung ứng điện; khai thác, chế biến, cung ứng
than, các khoáng sản quan trọng; luyện kim; cơ khí chế tạo; sản xuất xi măng;
bưu chính, viễn thông, điện tử; hàng không; hàng hải; đường sắt; hoá chất và
phân hoá học; sản xuất một số hàng tiêu dùng và công nghiệp thực phẩm quan
trọng (dệt, giấy, muối, cà phê, cao su, chế biến gỗ, rượu, bia, thuốc lá); hoá
dược; xây dựng; kinh doanh bán buôn lương thực; ngân hàng; bảo hiểm.
2. Phải có vốn Nhà nước từ 500 tỷ đồng trở lên, đối với ngành đặc thù
theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ vốn Nhà nước có thể thấp hơn,
nhưng không dưới 100 tỷ đồng.
3. Mức thu nộp ngân sách Nhà nước bình quân của 3 năm trước liền kề
từ 50 tỷ đồng trở lên, đối với ngành đặc thù theo quyết định của Thủ tướng
Cuối cùng, nắm giữ các ngành công nghiệp đặc biệt để thực hiện các
mục tiêu hay lợi ích quốc gia là yêu cầu cần thiết để điều khiển nền kinh tế.
1.2 Vai trò chủ đạo của DNNN trong nền kinh tế.
Kinh tế quốc doanh đóng vai trò một công cụ kinh tế, một lực lượng vật
chất trong tay Nhà nước để Nhà nước trực tiếp khống chế và điều tiết vĩ mô
nền kinh tế theo các chương trình, kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội. Mặt khác, kinh tế quốc doanh đóng vai trò hỗ trợ các thành phần kinh tế
phát triển theo đúng định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế và các mặt hoạt động
chính trị xã hội. Với 5700 “DNNN hiện nắm 60% tài sản sản xuất của đất
nước, tạo ra 30% GDP sử dụng 1,9 triệu lao động trên tổng số 38 triệu lao
động cả nước”. (Số liệu của ban chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp).
Hơn nữa, kinh tế quốc doanh có nhiệm vụ điều chỉnh, san lấp các lỗ
hổng do cơ chế thị trường, tạo ra các lĩnh vực cần thiết cho sự phát triển kinh
tế - xã hội, như đầu tư vào cơ sở hạ tầng, công trình phúc lợi xã hội, bảo vệ
môi trường dù khả năng sinh lời thấp, không hấp dẫn khu vực tư nhân.
Xét về tiềm năng thì DNNN là rất to lớn và có vị trí rất quan trọng việc
phát triển kinh tế của đất nước. Bất cứ một tác động nào vào lực lượng này
- Cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước -
- 9 -
cũng sẽ đem tới một tác động không nhỏ tới nền kinh tế chính trị- xã hội của
đất nước.
1.3 Thực trạng hoạt động của các DNNN
Trước đây, DNNN đã có một thời kỳ hoạt động khá hiệu quả cả về mặt
kinh tế và xã hội, đóng góp to lớn vào công cuộc công nghiệp hoá đất nước.
Tuy nhiên do cơ chế quản lý theo kiểu cấp phát, tập trung kéo dài đã làm triệt
tiêu động lực sản xuất kinh doanh, cho nên các DNNN sau đó cũng tỏ ra trì
doanh được thông qua có khi phải cần sự đồng ý của nhiều cơ quan quản
lý, cơ quan liên ngành, liên bộ. Ví dụ như, trong trước đây các DNNN
thường hoạt động theo khuynh hướng dây truyền, sẽ có một số công ty
chuyên sản xuất nguyên vật liệu, và một số công ty chuyên sản xuất
thành phẩm, việc Nhà nước hạn chế đầu vào của các doanh nghiệp khiến
cho nguồn nguyên vật liệu hạn hẹp, cộng thêm chỉ có một số nhà cung
cấp nên sản phẩm có tính cạnh tranh rất thấp. Thêm nữa việc điều tiết giá
đầu ra của Chính phủ khiến cho các doanh nghiệp không những gặp khó
khăn trong việc phát triển mà còn sản phẩm của họ sẽ không có đủ tính
cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
- Ba là, các nhà quản lý DNNN không có một cơ chế khuyến khích làm
việc. Việc không có một cơ chế rõ ràng nào về thưởng phạt có liên quan
đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các phần thưởng nếu có chỉ
mang tính hình thức. Ngay cả khi chúng ta muốn khuyến khích DNNN
bằng tiền cũng rất khó do mức lương của các công chức Nhà nước là cố
định và một sự khen thưởng như vậy rất có thể gây ra sự phản ứng từ
công chúng và các doanh nghiệp khác. Các nhà lãnh đạo DNNN cũng ít
khi bị trừng phạt như sa thải hay giảm lương một khi doanh nghiệp thua
lỗ.
Mặc dù làm ăn kém hiệu quả, sự tồn tại của DNNN là không thể thiếu
được ở Việt Nam, nhưng cũng không thể để kéo dài tình trạng hoạt động kém
hiệu quả hiện nay của chúng.
Cụ thể trong thời gian qua tại các DNNN ở Việt Nam:
- Cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước -
- 11 -
- Về hiệu quả kinh doanh. Mặc dù đã được đầu tư và ưu đãi nhiều từ phía
Nhà nước, sau nhiều lần sắp xếp tổ chức lại và đổi mới cơ chế, nhưng
- 12 -
tranh kém của các DNNN thể hiện ngay trên thị trường nội địa: ở những
ngành có khả năng sinh lợi, thị phần của các DNNN có xu hướng giảm
sút nhường chỗ cho khu vực đầu tư nước ngoài và khu vực tư nhân, ví dụ
như ngành du lịch là một điển hình. Khả năng cạnh tranh kém của các
DNNN trong điều kiện Việt Nam đang thực hiện các cam kết hội nhập
quốc tế có nguy cơ dẫn đến tình hình Nhà nươcsẽ phải chịu chi phí rất
lớn trong tương lai để trợ cấp, duy trì các DNNN.
- Về cơ cấu DNNN. Khu vực DNNN có cơ cấu còn bất hợp lý. Cơ cấu
ngành, vùng, quy mô còn bất hợp lý đều chưa được chuyển dịch theo
hướng sắp xếp lại. Trước hết, tỷ trọng DNNN (xét về số lượng) ở khu
vực nông nghiệp (25%) và thương mại, dịch vụ (40%) là quá lớn trong
khi một cơ cấu hợp lý đòi hỏi DNNN chủ yếu phải tập trung vào lĩnh
vực công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến, chế tạo. Cơ cấu cấp
quản lý cũng là bất hợp lý ở chỗ tỷ trọng doanh nghiệp thuộc địa phương
quản lớn. Về quy mô, tính đến năm 1999, doanh nghiệp có quy mô dưới
5 tỷ đồng chiếm 65%, trong đó gần 3/4 là doanh nghiệp địa phương, còn
có tới 23% doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng. Số doanh nghiệp có vốn
trên 10 tỷ đồng chiếm 21%. (theo số liệu kinh tế Việt Nam trong những
năm đổi mới, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2001). Với một cơ cấu bất hợp lý
như nêu trên DNNN khó có thể thực hiện đầy đủ các chức năng và
kỳvọng về vai trò mà Đảng và Nhà nước mong đợi.
2. Một số nét về công ty cổ phần
2.1 Công ty cổ phần và đặc điểm của công ty cổ phần.
2.1.1 Công ty cổ phần
Quá trình CPH về thực chất là một quá trình chuyển đổi sở hữu từ một
chủ sở hữu thành nhiều chủ sở hữu (Cổ đông). CPH nói chung có thể diễn ra
tại các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh
và tại các DNNN. CPH là quá trình đa dạng hoá sở hữu doanh nghiệp.
- Cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước -
hình thái pháp lý để huy động vốn dư thừa trong xã hội.
- Về mặt tài chính:
- Cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước -
- 14 -
Đặc trưng cơ bản có tính quyết định để phân biệt Công ty cổ phần với
các hình thức tổ chức kinh tế khác là vốn của Công ty được chia thành nhiều
phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ
phiếu. Cổ phần là phần vốn cơ bản của Công ty, cổ phần chứng minh tư cách
thành viên của các cổ đông, cổ phần được biểu hiện về hình thức bằng cổ
phiếu. Đặc điểm tài chính của Công ty cổ phần còn thể hiện ở huy động vốn
để tăng cường nguồn vốn kinh doanh của công ty, ngoài cách huy động vốn
thuần tuý mà các doanh nghiệp khác vẫn làm, Công ty cổ phần còn tăng vốn
bằng cách phát hành cổ phiếu. Cách thu gom vốn tạo khả năng cho Công ty
huy động nguồn vốn lớn và nhanh hơn nhiều so với việc tích tụ vốn từ lợi
nhuận không chia.
Chính sách lợi tức cổ phần cũng là một đặc trưng trong hoạt động tài
chính của Công ty. Việc lựa chọn chính sách lợi tức cổ phần có ảnh hưởng rất
lớn đến sự tồn tại và phát triển của Công ty. Khả năng đầu tư và khả năng
tăng trưởng phụ thuộc vào quy mô lợi nhuận để lại sau khi chia và đặc biệt là
khả năng huy động vốn trên thị trường vốn, việc tăng vốn tự tích luỹ từ lợi
nhuận cũng làm tăng giá trị của Công ty.
- Về mặt sở hữu:
Công ty cổ phần đã thực hiện việc tách quan hệ sở hữu ra khỏi quyền
quản lý và sử dụng, tạo ra một hình thức xã hội sở hữu của đông đảo công
chúng ở một bên, còn bên kia là tầng lớp những nhà quản trị kinh doanh sử
dụng vốn cho các hoạt động kinh doanh. Những ngươi đóng vai trò chủ sở
hữu của Công ty cổ phần thường không trực tiếp đứng ra kinh doanh mà uỷ
quản lý điều hành công ty cổ phần được đặt dưới quyền bốn cấp:
o Đại hội cổ đông hoặc Đại hội đại biểu cổ đông
o Hội đồng quản trị
o Giám đốc điều hành
o Các kiểm soát viên hoạt động theo luật công ty.
- Cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước -
- 16 -
Sơ đồ quản lý điều hành của công ty cổ phần
-
- Cổ phần phổ thông.
Cổ phần phổ thông: là loại cổ phần bắt buộc phải có. Người sở hữu cổ
phần phổ thông gọi là cổ đông phổ thông. Cổ đông phổ thông có thể tham dự
để biểu quyết tất cả các vấn đề của Đại hội đồng cổ đông và mỗi cổ đông phổ
thông là một phiếu biểu quyết và được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán
tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty.
Cổ đông hoặc nhóm cổ đông mà sở hữu trên 10% số cổ phần phổ thông
trong thời hạn liên tục, ít nhất là 6 tháng, thì có quyền đề cử người vào hội
đồng quản trị và ban kiểm soát ( nếu có ), có quyền yêu cầu triệu tập Đại hội
đồng cổ đông, xem và nhận bản sao trích lục danh sách cổ đông, có quyền dự
họp Đại hội đồng cổ đông.
- Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập.
Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập: Trong vòng 3 năm đầu kể từ
khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì cổ đông sáng lập phải
cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% số cổ phần phổ thông được quyền chào bán.
Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập chỉ có thể được chuyển
nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự đồng ý của
Đại hội đồng cổ đông. Cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần thì không
được quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng đó. Sau thời hạn 3 năm thì các
hạn chế trên đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập sẽ được bãi bỏ.
- Cổ phần ưu đãi biểu quyết.
Cổ phần ưu đãi biểu quyết: đây là cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều
hơn so với cổ phần phổ thông, nó không hạn chế mức tối đa và số phiếu biểu
quyết cụ thể của một cổ phần ưu đãi biểu quyết thì do điều lệ của công ty quy
định.
Chỉ có những tổ chức do Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập
được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết.
- Cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước -
- 19 -
Đại hội đồng cổ đông họp ít nhất mỗi năm một lần do Hội đồng quản
trị hoặc theo yêu cầu của Ban kiểm soát hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10%
số cổ phần phổ thông liên tục ít nhất là 6 tháng triệu tập.
Cổ đông có thể trực tiếp hoặc uỷ quyền bằng văn bản cho người khác đi
dự phiên họp của Đại hội đồng cổ đông. Cổ đông cũng có thể gửi phiếu biểu
quyết có niêm phong đến công ty trước giờ khai mạc Đại hội đồng cổ đông và
cũng được coi là dự họp Đại hội đồng cổ đông.
Cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông sẽ được tiến hành khi số cổ đông
dự họp đại diện cho ít nhất là 51% số cổ phần có quyền biểu quyết ( trừ
trường hợp điều lệ của công ty cổ phần có quy định khác ). Và nếu không
thành ( không đủ 51% ) thì trong vòng 30 ngày phải triệu tập lần thứ 2, phải
có ít nhất là 30% số cổ phần có quyền biểu quyết và nếu lần thứ 2 cũng không
thành thì phải triệu tập lần thứ 3 trong vòng 20 ngày và không cần tỷ lệ nữa.
Đại hội đồng cổ đông thông qua các quyết định thuộc thẩm quyền bằng
cách biểu quyết tại cuộc họp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản. Riêng đối với việc
quyết định các loại cổ phần, số lượng cổ phần được quyền chào bán của từng
loại, sửa đổi, bổ sung điều lệ của công ty, tổ chức lại, giải thể công ty hoặc
bán hơn 50% tổng giá trị tài sản ghi trong sổ kế toán thì phải được số cổ đông
đại diện cho ít nhất là 65% tổng số phiếu biểu quyết chấp thuận.
Điều 79 Luật doanh nghiệp quy định về việc yêu cầu huỷ bỏ các quyết
định của Đại hội đồng cổ đông như sau : Trong vòng 90 ngày kể từ ngày
quyết định được thông qua, những người có thể yêu cầu huỷ bỏ các quyết
định của Đại hội đồng cổ đông bao gồm cổ đông, thành viên hội đồng quản
trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc, ban kiểm soát. Những người này có quyền
yêu cầu toà án cấp tỉnh xem xét huỷ bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông
trong 2 trường hợp sau:
động điều hành của Hội đồng quản trị, của giám đốc hoặc tổng giám đốc và
những người quản lý công ty.
2.3 Ƣu điểm và những nhƣợc điểm của công ty cổ phần.
- Ưu điểm: