ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH
PHÁT TRIỂN TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƢỚC
Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ Hà Nội - 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Nguyễn Thị Quỳnh Anh MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
BẢNG CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ iii
DANH MỤC HỘP iiii
MỞ ĐẦU 1
QUỐC TẾ (GIAI ĐOẠN 2011 – 2015) 94
3.1. Bối cảnh kinh tế mới và định hƣớng phát triển của các tập đoàn kinh tế nhà
nƣớc ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ( giai đoạn 2011 – 2015) 94
3.1.1. Bối cảnh kinh tế mới 94
3.1.2. Quan điểm và định hướng phát triển tập đoàn kinh tế Nhà nước Việt Nam
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 101
3.2. Giải pháp phát triển tập đoàn kinh tế Nhà nƣớc ở Việt Nam trong thời
gian tới 105
3.2.1. Nhóm giải pháp đối với bản thân các tập đoàn kinh tế Nhà nước 105
3.2.2. Những đề xuất, kiến nghị với Nhà nước 106
KẾT LUẬN 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 122 i
BẢNG CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu viết tắt
Nguyên nghĩa
1
CPH
Cổ phần hóa
2
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
ii
DANH MỤC BẢNG STT
Tên bảng
Trang
2.1
Top 10 bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam
năm 2009
66
2.2
Quy mô các tập đoàn kinh tế Nhà nước- Tài sản và vốn chủ sở
hữu
67
2.3
Kết quả sản xuất kinh doanh của các TĐKTNN năm 2006– đến
2008
70
2.4
Vốn đầu tư Nhà nước và tỷ trọng vốn đầu tư Nhà nước trong
vốn chủ sở hữu
77
2.5
Hiệu suất sử dụng tài sản và hiệu quả sản xuất kinh doanh
78
2.6
2008
74
iv
DANH MỤC HỘP
STT
Về mặt lý luận, việc Việt Nam chủ động xây dựng TĐKT là hợp lý vì các
điều kiện kinh tế xã hội ở Việt Nam cơ bản đã tạo ra được các điều kiện cho phép
xây dựng mô hình TĐKT và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế để tồn tại và
phát triển Việt Nam cũng cần và phải tạo ra, phát huy những lợi thế so sánh để đi
tắt, đón đầu, phát triển đột phá về kinh tế, tránh nguy cơ tụt hậu so với các nước
trong khu vực và quốc tế. Hơn nữa, hoạt động kém hiệu quả của các DNNN nhà
nước đặc biệt là các TCTNN cũng khiến cho vấn đề cải cách DNNN nhà nước trở
thành nhu cầu cấp thiết.
2
Về mặt thực tiễn, thực tế TĐKTNN ở Việt Nam cũng đã ra đời và hoạt động
mặc dù dưới dạng thí điểm và bước đầu đạt được những thành tựu nhất định, đáp ứng
một phần mục tiêu do Nhà nước đề ra. Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan các
TĐKTNN ở Việt Nam cũng bộc lộ những bất cập như hiệu quả, sức cạnh tranh của các
tập đoàn vẫn còn thấp, đầu tư dàn trải, thông tin không minh bạch, còn nhiều yếu kém
trong quản lý, phát triển chưa tương xứng với điều kiện và lợi thế có được, chưa đạt
được mục tiêu đề ra là tạo sự liên kết kinh tế, gắn bó lợi ích và thị trường, là trụ cột
đồng thời là “quả đấm thép” làm đối trọng trong quan hệ kinh tế quốc tế, thậm chí có
tập đoàn còn có nguy cơ phá sản. Bên cạnh đó lại xuất hiện những biểu hiện nôn nóng,
chủ quan trong việc thiết lập mô hình TĐKT, chưa bám sát điều kiện cụ thể cho sự ra
đời mô hình tập đoàn. Trong khi đó, đối với nền kinh tế Việt nam hiện nay.
TĐKTNN đang được khoác một vai trò rất quan trọng: “là xương sống của nền kinh
tế quốc dân”, “công cụ mạnh trong tay nhà nước” để để phát huy vai trò chủ đạo
của kinh tế nhà nước và là “quả đấm thép” trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Trước sức cạnh tranh quốc tế khốc liệt, nguy cơ sụp đổ của các tập đoàn này
là rất lớn. Bài học kinh nghiệm về sự sụp đổ của các TĐKT Hàn Quốc và Hoa Kỳ
buộc chúng ta phải xem xét lại vấn đề này trước khi quá muộn. Do đó, nghiên cứu
nhằm đánh giá lại thực trạng phát triển các TĐKTNN trong bối cảnh hội nhập kinh
tế quốc tế sâu rộng và chỉ ra các giải pháp để xây dựng, phát triển chúng thành các
TĐKT mạnh, bền vững có ý nghĩa hết sức quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn.
Nhóm thứ nhất, chiếm đa số là các công trình tập trung làm rõ về mặt lý luận
khái niệm, đặc điểm, vai trò, vị trí của các TĐKT cũng như sự cần thiết phải xây
dựng mô hình TĐKT ở Việt Nam. Có thể kể ra đây một số công trình tiêu biểu như:
Công trình của GS.PTS Nguyễn Đình Phan (chủ biên), Thành lập và quản lý
các Tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996; sách
“Mô hình tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do GS.TS Vũ Huy
Từ chủ biên, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội 2002; sách “Tập đoàn kinh tế và một
4
số vấn đề về xây dựng tập đoàn kinh tế ở Việt Nam” của tác giả Minh Châu, NXB
Bưu điện, Hà Nội 2005 hay sách “Xây dựng và phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt
Nam “ Sách chuyên khảo của tác giả Bùi Văn Huyền, NXB Chính trị Quốc gia,
2008.
Luận án tiến sĩ “Những giải pháp cơ bản nhằm hình thành và phát triển tập
đoàn kinh doanh ở Việt Nam hiện nay”, Hà nội 1999 của Nguyễn Thị Bích Loan,
luận án “Điều kiện và giải pháp hình thành các tập đoàn kinh tế ở nước ta - qua sắp
xếp lại các tổng công ty 91” của Đào Xuân Thuỷ, Hà nội 2007 hay Bùi Văn Huyền
với luận án “Sự hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế thị trường ở Việt Nam
hiện nay” LATS Kinh tế 2008,
Về đề án cấp Nhà nước có “Đề án hình thành và phát triển TĐKT trên cơ sở
các Tổng công ty Nhà nước” của Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế trung ương.
Ngoài ra, các bài viết trao đổi về xây dựng mô hình TĐKT nhà nước ở Việt
Nam đã đăng tải nhiều trên báo, tạp chí như: “Tập đoàn kinh tế - mô hình chiến
lược để đổi mới và phát triển các loại hình doanh nghiệp” của tác giả Nguyễn
Minh Đức, đăng trên Nghiên cứu kinh tế số 7 (năm 2004) “Hình thành tập đoàn
kinh tế bước đột phá trong đổi mới các tổng công ty nhà nước” của tác giả Hoàng
Thị Tuyết đăng trên Tạp chí Tài chính số 4 (2005), “Cần có một tư duy mới trong
thành lập tập đoàn kinh tế ở Việt Nam” của tác giả Đặng Khánh Duy đăng trên tạp
chí Kinh tế và phát triển số 98 (8/2005), “Nhân rộng mô hình tập đoàn kinh tế” của
tác giả Bảo Duy đăng trên báo Đầu tư chứng khoán số 303(2005), tác giả Hữu
đoàn kinh tế” Luận án tiến sĩ kinh tế của Vũ Hà Cường, 2007. Kỷ yếu hội thảo
“Tập đoàn kinh tế lý luận và thực tiễn”, ngày 25/5/2009, tại Hà Nội, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia - Sự thật, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW và Thời báo kinh
tế Việt Nam phối hợp với công ty Thanh niên Việt Nam tổ chức, 2009 và một số
luận văn tốt nghiệp, bài báo trên các website.
Do thời điểm nghiên cứu, nên các công trình đã có chỉ xem xét TĐKT trên
giác độ lý luận và mặc nhiên xem TĐKT là TĐKTNN (vì chỉ có chủ trương thí
điểm thành lập các TĐKT từ các tổng công ty nhà nước). Nhưng đến nay, khi thực
6
tế đã có 12 TĐKTNN được thí điểm thành lập và TĐKT không chỉ còn là mô hình
tổ chức kinh doanh riêng có của các DNNN trong thành phần KTNN nữa mà còn có
sự xuất hiện của các TĐKT tư nhân thì vấn đề TĐKTNN đã thực sự có cơ sở để
nghiên cứu sâu hơn. Và hiện chưa có công trình nào tiếp cận TĐKTNN với tư cách
là một thực thể đã tồn tại (không còn là một thực thể trong thời kỳ “ thai nghén”) và
làm rõ sự thích nghi sống còn và phát triển của thực thể đó trong môi trường hội
nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là WTO - môi trường mở ra nhiều thời cơ song cũng
không ít thách thức khi Việt Nam phải thực hiện đầy đủ các cam kết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng những luận cứ khoa học về TĐKTNN để phân tích các TĐKTNN
Việt Nam (chủ yếu 8 tập đoàn thành lập trước 2009) nhằm đánh giá sự phát triển
của các TĐKT Nhà nước này trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là
hội nhập WTO, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu xây dựng TĐKT Nhà nước
phát triển mạnh và bền vững khi Việt Nam thực hiện các cam kết WTO.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở khoa học của sự hình thành và phát triển của TĐKTNN ở
Việt Nam
- Phân tích, đánh giá sự phát triển của các tập đoàn kinh tế Việt Nam trong
bối cảnh hội nhập kinh tế.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng và phát triển các
TĐKTNN
- Đánh giá tác động của hội nhập kinh tế quốc tế (đặc biệt là WTO) tới sự
phát triển các TĐKTNN Việt Nam (từ 2005 – 2010)
- Đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm phát triển TĐKTNN khi Việt
Nam thực hiện đầy đủ các cam kết WTO.
8
- Kết quả nghiên cứu là 01 chuyên đề trong đề tài cấp ĐHQG mã số QK 08
02. Chủ nhiệm đề tài: TS Vũ Thị Dậu
- Là tài liệu tham khảo cho giảng dạy và học tập trong ngành kinh tế.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Tập đoàn kinh tế nhà nước - Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Thực trạng phát triển tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 3: Định hướng và giải pháp tiếp tục phát triển tập đoàn kinh tế nhà
nước Việt Nam giai đoạn 2011- 2015
thực hiện hình thức sở hữu hỗn hợp, một số ít sở hữu nhà nước và sở hữu gia
đình.Có một số TĐKT ngay từ đầu đã hoạt động kinh doanh đa ngành, nhưng cũng
10
có một số phát triển dần từ đơn ngành đến đa ngành. Nhưng kinh doanh đa ngành,
đa lĩnh vực là đặc điểm dễ nhận thấy trong các TĐKT. Đặc trưng cơ bản, là tiền đề
cần thiết để hình thành TĐKT và nó cũng thể hiện xu thế tất yếu trong điều kiện sự
phát triển của lực lượng sản xuất đạt đến trình độ xã hội hóa ngày càng cao là có sự
liên kết ổn định lâu dài giữa các thành viên trong TĐKT. Trong các quan hệ liên kết,
liên kết về vốn là liên kết phổ biến và cơ bản nhất. TĐKT là tổ hợp kinh doanh chứa
đựng trong nó các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân nhưng bản thân TĐKT lại
không có tư cách pháp nhân. Luật công ty của các quốc gia cũng không sử dụng thuật
ngữ “firm”, “enterprise group”, business group” hay “group” mà chỉ là đăng ký là
“công ty- company” (từ company trong tiếng Anh tương ứng với corporation trong
tiếng Mỹ). Do đó, ngoài những quan hệ về vốn, thị trường, công nghệ, các thành
viên trong tập đoàn bình đẳng trước pháp luật, được thành lập và đăng ký theo quy
định của pháp luật, được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật có liên quan. Cũng
chính vì không có tư cách pháp nhân nên tập đoàn không chịu trách nhiệm liên đới về
mặt pháp lý trong quá trình hoạt động đối với các công ty thành viên.
Cơ cấu tổ chức của tập đoàn kinh tế khá đa dạng, không có khuôn mẫu thống
nhất. Cơ cấu tổ chức được xây dựng trên nền tảng văn hóa, đặc điểm ngành nghề
kinh doanh, phong cách quản lý, chiến lược xây dựng và phát triển của mỗi tập
đoàn. Nhìn chung, cơ cấu tập đoàn thường có một công ty mẹ và các công ty con,
trong đó, các công ty mẹ thường đảm nhiệm các chức năng như phát triển thị
trường, ứng dụng công nghệ mới, điều phối toàn tập đoàn vận động những quan hệ
khác. Các công ty con độc lập với công ty mẹ, quan hệ với công ty mẹ thông qua
vốn đầu tư, công nghệ, thị trường. Các công ty con hoạt động độc lập trước pháp
luật, có thể đầu tư vào nhau, thậm chí công ty con có thể đầu tư ngược vào công ty
mẹ. Mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con tùy thuộc từng mô hình tập đoàn.
TĐKT Nhà nước (TĐKTNN) cũng giống như các TĐKT nói chung, đều có
thông qua các chính sách ưu đãi về vốn và khuyến khích về thuế trong một số ngành
hoạt động theo chính sách công nghiệp (ví dụ: Nhật Bản với việc hình thành các
Keretsu, Hàn Quốc với việc hình thành các Cheabol). Các TĐKT này mặc dù có sự
12
hỗ trợ và can thiệp của Chính phủ, nhưng các TĐKT ra đời theo con đường này vẫn
chưa phải là TĐKTNN.
TĐKTNN hình thành khi có sự can thiệp của nhà nước ở mức độ cao hơn,
nhà nước đầu tư vốn thành lập các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, hoạt động
trong một số lĩnh vực trọng yếu hoặc độc quyền nhà nước, sau một thời gian hoạt
động, nhà nước cơ cấu lại khu vực này theo mô hình TĐKT thông qua các quyết
định hành chính hoặc tự sát nhập với nhau. Mặc dù TĐKTNN vẫn hoạt động theo
thị trường, nhưng nhà nước can thiệp cả vào các hoạt động, chỉ định lãnh đạo, vốn,
đầu tư, quan hệ trong ngành. Mức độ sở hữu của nhà nước càng cao thì phạm vi
điều tiết càng rộng và mức độ điều tiết càng mạnh.
Thứ hai, TĐKTNN có 3 chức năng chính, bao gồm: chống nguy cơ độc
quyền tư nhân đối với những sản phẩm kinh tế cần thiết cho sự phát triển kinh tế
chung của cả nước; nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế so với các quốc
gia khác trên thị trường thế giới và đáp ứng những yêu cầu có liên quan mật thiết
đến an ninh và quốc phòng.
Ở các nước như Việt Nam và Trung Quốc, TĐKTNN bên cạnh 3 chức năng
chính như trên, TĐKTNN ở các nước này còn được đặt trọng trách là “quả đấm
thép” khẳng định vai trò chủ đạo của Kinh tế nhà nước để thực hiện định hướng
XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế. Chức năng này xuất phát từ con đường phát
triển ở các nước này có những đặc thù riêng, xuất phát từ chức năng xã hội của
nhà nước.
1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển TĐKT nhà nước
TĐKTNN không phải là một mô hình mới, mô hình này đã xuất hiện khoảng
cuối thế kỷ XIX ở các nước tư bản phát triển. Nguyên nhân chính dẫn đến sự xuất
hiện này là do quá trình tích tụ, tập trung tư bản và trình độ xã hội hóa sản xuất cao
các tập đoàn thuộc sở hữu nhà nước đối với những sản phẩm mà khu vực kinh tế tư
nhân làm không hiệu quả hoặc không làm được. Điều đáng lưu ý là nguyên nhân
của sự loại bỏ bắt nguồn từ bản chất sở hữu Nhà nước của những tập đoàn này
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
14
Hiện nay, TĐKTNN vẫn được duy trì ở các nước phát triển, và ở cả các
nước công nghiệp mới (NICs) và một số nước đang phát triển có thu nhập cao, tuy
nhiên, trừ trường hợp ngoại lệ là Singapore, các nước còn lại vẫn đứng trước nhiều
khó khăn trong quá trình xử lý những vấn đề liên quan đến hoạt động của các tập
đoàn này.
Trái với các nước công nghiệp phát triển ở các nước đang phát triển từ những
năm 1960 và 1970 đến nay TĐKTNN đang tiếp tục được mở rộng. Sự xuất hiện của
các TĐKTNN ở các nước đang phát triển là cần thiết khách quan của công tác quản
lý vĩ mô trong bối cảnh tất cả các quốc gia trên thế giới đều sử dụng các doanh
nghiệp thuộc sở hữu nhà nước như một công cụ can thiệp vào nền kinh tế. Và nó
cũng là kết quả của sự nhận thức về vai trò của khu vực kinh tế nhà nước trong quá
trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ
hai, nền độc lập về chính trị mà nhiều nước đang phát triển giành được đã khiến họ
khao khát độc lập về kinh tế. Công nghiệp hóa nhanh chóng nền kinh tế đất nước
được coi là chìa khóa để phát triển và việc sở hữu tập trung các khu vực then chốt
và kế hoạch hóa tập trung được xem như là con đường nhanh nhất để hoàn thiện
nền độc lập về chính trị và kinh tế. Điều này đã được thực tiến nhiều nước đặc biệt
là Ấn độ chứng minh.
Sự hình thành và phát triển TĐKTNN còn có những lý do kinh tế và chính
trị. Trong lĩnh vực kinh tế, ở các nước đang phát triển, kinh tế tư nhân còn non yếu
vì vậy phát triển kinh tế nhà nước và hình thành TĐKTNN có thể tạo ra được nhiều
việc làm, nguồn tích lũy lớn và phát triển khoa học kỹ thuật tiên tiến, tạo đối trọng
để cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài.
Trong lĩnh vực chính trị, TĐKTNN là yếu tố cần thiết để nhà nước thực hiện
và chiều sâu. Xã hội hóa sản xuất một mặt phản ánh sự phù hợp của quan hệ sản
xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đồng thời tạo điều
kiện để mỗi doanh nghiệp đa dạng hóa sở hữu, mở rộng phạm vi và lĩnh vực kinh
doanh, tăng cường hợp tác dưới nhiều hình thức.
Sản xuất xã hội hóa thúc đẩy cạnh tranh ngày càng gay gắt tạo điều kiện cho
16
tích tụ và tập trung sản xuất ngày càng cao. Cạnh tranh có tác động trở lại làm cho
xã hội hóa sản xuất đạt đến trình độ cao hơn. Với các điều kiện đó, mỗi doanh
nghiệp cần tạo lập các liên kết kinh tế, nâng cao năng lực nhằm từng bước đáp ứng
được yêu cầu về vốn, về tập trung sản xuất, về thị trường đồng thời đòi hỏi lựa
chọn hình thức phù hợp, từ đó thúc đẩy hình thành các TĐKT.
Hai là, trình độ phát triển khoa học – công nghệ.
Từ thập kỷ 30 của thế kỷ XIX đến nay, sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa
học kỹ thuật đã làm cho các TĐKT phát triển nhanh chóng.Việc ứng dụng thành tựu
của cuộc khoa học công nghệ vào sản xuất đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát
triển, làm biến đổi nhanh chóng cơ cấu sản xuất trong nền kinh tế của các nước tư
bản. Một số ngành sản xuất mới xuất hiện như ngành hàng không, ngành đường sắt,
ngành giao thông vận tải đường bộ, ngành sản xuất xe hơi, điện, khoa học vũ
trụ, Kinh doanh trong những ngành này đòi hỏi quy mô lớn, vốn đầy tư nhiều vì
những ngành sản xuất mới đòi hỏi cần có những nghiên cứu cơ bản, hệ thống, mang
tính ứng dụng cao. Muốn vậy, phải có một đội ngũ chuyên gia hàng đầu, trang thiết
bị hiện đại Các xí nghiệp nhỏ tự tích lũy, tích tụ tư bản thì không thể đủ tư bản để
kinh doanh. Đứng trước yêu cầu đó, sự phối hợp, liên kết nhiều công ty thành tập
đoàn kinh tế lớn, có khả năng tài chính đủ mạnh để đầu tư nghiên cứu, phát triển, đi
đầu trong những lĩnh vực mới, ứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ
vào sản xuất là một đòi hỏi khách quan.
Sự phát triển mạnh của khoa học công nghệ có ảnh hưởng ngày càng lớn đến
sự phát triển kinh tế. Đặc biệt trong kinh tế tri thức, khoa học công nghệ trở thành
lực lượng sản xuất trực tiếp và quan trọng nhất. Những thành quả của khoa học