MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ 2
MỞ ĐẦU 1
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
5. NỘI DUNG THỰC HIỆN 2
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 3
7. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LOGISTICS VÀ DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG TRONG
LĨNH VỰC LOGISTICS Ở VIỆT NAM 4
CHƯƠNG 2 40
PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÁC 40
DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG TRONG 40
LĨNH VỰC LOGISTICS Ở VIỆT NAM 40
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
MỤC LỤC 1
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ 2
MỞ ĐẦU 1
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
5. NỘI DUNG THỰC HIỆN 2
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 3
7. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LOGISTICS VÀ DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG TRONG
LĨNH VỰC LOGISTICS Ở VIỆT NAM 4
CHƯƠNG 2 40
PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÁC 40
DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG TRONG 40
LĨNH VỰC LOGISTICS Ở VIỆT NAM 40
65
1
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa và làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về logistics,
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics
- Phân tích và đánh giá thực trạng sự phát triển của DNL trong thời gian
qua, khả năng phát triển các DNL ở Việt Nam. Trên cơ sở đó đánh giá những
thuận lợi và khó khăn còn tồn tại trong việc phát triển các DNL.
- Phân tích đưa ra định hướng phát triển của các DNL ở Việt Nam, cùng
với những hận chế còn tồn tại và nguyên nhân tồn tại các hạn chế đã phân tích
trên, đề ra những giải pháp nhằm phát triển DNL ở Việt Nam trong thời gian tới.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là logistics và các doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực logistics ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án chủ yếu tiếp cận trên góc độ vĩ mô,
nghiên cứu, đánh giá thực trạng phát triển của các DNL, những điều kiện ảnh
hưởng đến sự phát triển của DNL ở Việt Nam trong thời gian qua và đề xuất
giải pháp phát triển DNL định hướng đến năm 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích hệ thống, phân tích thống kê.
- Phương pháp lịch sử, kế thừa những thành quả nghiên cứu và tư liệu
thống kê.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.
- Phương pháp tham dự, phương pháp chuyên gia.
5. Nội dung thực hiện
- Xây dựng đề cương nghiên cứu
- Thu thập tài liệu nghiên cứu
- Xây dựng mẫu phiếu khảo sát
- Tiến hành khảo sát các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LOGISTICS VÀ DOANH NGHIỆP
HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC LOGISTICS Ở VIỆT
NAM
1.1 LOGISTICS
1.1.1 Khái niệm về logistics
Bước vào thế kỷ XX, sản xuất vật chất của xã hội đã đạt được năng suất
lao động cao nhờ áp dụng kỹ thuật sản xuất tiên tiến và đặc biệt là những
thành tựu mới trong công nghệ thông tin song muốn tối ưu hoá quá trình sản
xuất, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị
trường, chỉ còn cách cải tiến và hoàn thiện hệ thống quản lý phân phối vật
chất (Phisical Distrbution Management) để giảm tới mức thấp nhất thiệt hại
do tồn kho, ứ đọng nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm trong quá
trình sản xuất và lưu thông. Hệ thống phân phối vật chất này còn gọi là
“logistics”.
Vậy logistics là gì ? Về mặt lịch sử, thuật ngữ « logistics » là một thuật
ngữ quân sự đã có từ mấy trăm năm nay, thuật ngữ này đầu tiên được sử dụng
trong quân đội và mang nghĩa là « hậu cần » hoặc « tiếp vận ». Tướng
Chauncey B.Baker, tác giả cuốn « Transportation of Troops and Merterial »
nhà xuất bản Hudson thành phố Kansas có viết : « Một nhánh trong nghệ
thuật chiến đấu có liên quan tới việc di chuyển và cung cấp lương thực, trang
thiết bị cho quân đội được gọi là « logistics ». Trong suốt chiến tranh thế giới
thứ hai, các lực lượng quân đội của các nước tham gia đều sử dụng phương
thức logistics rất hiệu quả, đảm bảo hậu cần đúng nơi, đúng lúc cho lực lượng
chiến đấu. Thuật ngữ này đến nay vẫn được tiếp tục sử dụng rộng rãi trong
quân đội và các ứng dụng dạng quân đội.
Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, nhiều thập kỷ qua, logistics được
nghiên cứu sâu và áp dụng sang các lĩnh vực khác như sản xuất, kinh doanh.
4
Thuật ngữ logistics ngày nay được hiểu với nghĩa quản lý (Management) hệ
thống phân phối của các đơn vị sản xuất kinh doanh trong xã hội. Nhưng cho
logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một
hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm
thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng bao bì,
ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá
theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao (Điều 233 – Luật Thương
Mại Việt Nam năm 2005).
Qua các khái niệm trên đây, chúng ta thấy cho dù có sự khác nhau về từ
ngữ diễn đạt, cách trình bày nhưng trong nội dung tất cả các tác giả đều cho
rằng logistics chính là hoạt động quản lý dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu
từ khâu mua sắm qua quá trình lưu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối tới
tay người tiêu dùng. Mục đích giảm tối đa chi phí phát sinh hoặc phát sinh với
một thời gian ngắn nhất trong quá trình vận động của nguyên vật liệu phục vụ
sản xuất cũng như phân phối hàng hoá một cách kịp thời (Just in time).
Tóm lại theo quan điểm của chúng tôi thì logistics được hiểu như sau :
Logistics là nghệ thuật tổ chức sự vận động của hàng hoá, nguyên vật
liệu từ khi mua sắm, qua các quá trình lưu kho, sản xuất, phân phối cho đến
tay người tiêu dùng.
Qua khái niệm về logistics như trên, chúng ta có thể biểu diễn thành sơ
đồ sau đây :
Sơ đồ 1.1 : Chuỗi các hoạt động của logistics
6
Điểm cung
cấp ng/vật
liệu (Raw
Material
supply points)
Kho dự trữ
nguyên vật
liệu (Raw
Material
bản sau đây:
* Logistics có thể coi là tổng hợp các hoạt động của doanh nghiệp trên các
khía cạnh chính, đó là logistics sinh tồn, logistics hoạt động và logistics hệ thống.
- Logistics sinh tồn có liên quan tới các nhu cầu cơ bản của cuộc sống.
Tại bất kỳ thời điểm nào, trong bất cứ môi trường nào, logistics sinh tồn cũng
tương đối ổn định và có thể dự đoán được. Con người có thể nhận thức được
về nhu cầu như: cần gì, cần bao nhiêu, khi nào cần và cần ở đâu… Logistics
sinh tồn là hoạt động cơ bản của các xã hội sơ khai và là thành phần thiết yếu
trong một xã hội công nghiệp hoá. Logistics sinh tồn cung cấp nền tảng cho
logistics hoạt động.
- Logistics hoạt động mở rộng các nhu cầu cơ bản bằng cách liên kết các
hệ thống sản xuất các sản phẩm. Logistics liên kết các nguyên liệu thô doanh
nghiệp cần trong quá trình sản xuất, các dụng cụ sử dụng nguyên liệu đó trong
quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm có được từ sản xuất. Khía cạnh của
logistics cũng tương đối ổn định và có thể dự đoán được. Nhưng logistics hoạt
động lại không thể dự đoán được khi nào máy móc có sự cố, để sửa chữa thì
cần cái gì và thời gian sửa chữa… Như vậy logistics hoạt động chỉ liên quan
tới sự vận động và lưu kho của nguyên liệu vào trong, qua và đi ra khỏi doanh
nghiệp và là nền tảng cho logistics hệ thống.
- Logistics hệ thống liên kết các nguồn lực cần có trong việc giữ cho hệ
thống hoạt động. Những nguồn lực này bao gồm thiết bị, phụ tùng thay thế,
nhân sự và đào tạo, tài liệu kỹ thuật, các thiết bị kiểm tra, hỗ trở và nhà
xưởng… Các yếu tố này không thể thiếu và phải đặt kết hợp chặt chẽ nếu
muốn duy trì sự hoạt động của một hệ thống sản xuất hay lưu thông.
Logistics sinh tồn, logistics hoạt động và logistics hệ thống không tách
rời nhau, quan hệ chặt chẽ với nhau, làm nền tảng cho nhau tạo thành chuỗi
dây chuyển logistics.
7
1.1.2.1. Logistics có chức năng hỗ trợ các hoạt động của doanh nghiệp.
Logistics có chức năng hỗ trợ thể hiện ở chỗ nó tồn tại chỉ để cung cấp
Một doanh nghiệp trong điều kiện hoạt động bình thường sẽ đòi hỏi sự
hỗ trợ từ các yếu tố các yếu tố logistics. Một yếu tố logistics cụ thể được cung
cấp từ một nhà chuyên nghiệp chứ không phải từ trong doanh nghiệp. Nhưng
trách nhiệm đối với chất lượng của dịch vụ hỗ trợ này lại là trách nhiệm của
logistics trong doanh nghiệp.
* Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao
nhận; vận tải giao nhận gắn liền và nằm trong logistics.
Logistics là sự phát triển của dịch vụ vận tải giao nhận ở trình độ cao và
hoàn thiện. Qua các giai đoạn phát triển, logistics đã làm cho khái niệm vận
tải giao nhận truyền thống ngày càng đa dạng và phong phú thêm. Từ chỗ
thay mặt khách hàng để thực hiện các công việc đơn điệu, lẻ tẻ, tách biệt như:
thuê tầu, lưu cước, chuẩn bị hàng, đóng gói, tái chế hàng, làm thủ tục thông
quan… cho tới cung cấp trọn gói một dịch vụ vận chuyển từ kho đến kho
(Door to Door) đúng nơi đúng lúc để phục vụ nhu cầu khách hàng. Từ chỗ
đóng vai trò là đại lý, người được ủy thác trở thành một bên chính (Pricipal)
trong các hoạt động vận tải giao nhận với khách hàng, chịu trách nhiệm trước
các nguồn luật điều chỉnh đối với những hành vi của mình. Không phải như
trước kia chỉ cần dăm ba xe tải, một vài kho chứa hàng… là có thể triển khai
cung cấp dịch vụ vận tải giao nhận cho khách hàng. Ngày nay, yêu cầu dịch
vụ cung cấp cho khách hàng đa dạng, phong phú, người cung cấp dịch vụ phải
tổ chức quản lý một hệ thống đồng bộ từ giao nhận đến vận tải, cung ứng
nguyên vật liệu phục vụ sản xuất kinh doanh, bảo quản hàng hóa trong kho,
phân phối hàng hóa đúng nơi, đúng lúc, sử dụng thông tin điện tử để theo dõi,
kiểm tra… Rõ ràng dịch vụ vận tải giao nhận không còn đơn thuần như trước
mà được phát triển ở mức độ cao với đầy tính phức tạp. Người vận tải giao
nhận trở thành người cung cấp dịch vụ logistics (Logistics Service Provider).
* Logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức.
Trước đây hàng hóa đi từ nước người bán sang nước người mua dưới
hình thức hàng lẻ, phải qua tay nhiều người vận tải và nhiều phương thức vận
9
10
các hoạt động, là sự phát triển cao, hoàn thiện của dịch vụ giao nhận vận tải
và là sự phát triển khéo léo của dịch vụ vận tải đa phương thức. Đây chính là
những đặc điểm cơ bản của logistics.
1.1.3 Vai trò của logistics
Những năm cuối của thế kỷ XX và bước vào thế kỷ XXI, kinh tế thế giới
có nhiều biến đổi sâu sắc, đặc biệt là xu hướng toàn cầu hóa các hoạt động
kinh tế quốc tế, vai trò của logistics hết sức quan trọng. Vai trò của logistics
thể hiện như sau:
1.1.3.1. Logistics là công cụ liên kết hoạt động kinh tế quốc tế như
cung cấp, sản xuất, lưu thông phân phối; mở rộng thị trường cho các hoạt
động kinh tế.
Khi thị trường toàn cầu phát triển với các tiến bộ công nghệ, đặc biệt là
việc mở cửa thị trường ở các nước đang và chậm phát triển, logistics được các
nhà quản lý coi như là công cụ, một phương tiện liên kết các lĩnh vực khác
nhau của chiến lược doanh nghiệp. Logistics tạo ra sự hữu dụng về thời gian
và địa điểm cho các hoạt động của doanh nghiệp. Thế giới ngày nay được
nhìn nhận như các nền kinh tế liên kết, trong đó các doanh nghiệp mở rộng
biên giới quốc gia và khái niệm quốc gia chỉ là thứ 2 so với hoạt động của
doanh nghiệp, ví dụ như thị trường tam giác bao gồm ba khu vực địa lý: Nhật,
Mỹ - Canada và EU. Trong thị trường tam giác này, các công ty trở nên quan
trọng hơn quốc gia vì quyền lực của họ đã vượt qua biên giới quốc gia, quốc
tịch của công ty bắt đầu mờ đi. Cụ thể như hoạt động của Toyota hiện nay, mặc
dù phần lớn cổ đông của Toyota là người Nhật và thị trường quan trọng nhất
của Toyota là Mỹ nhưng điều muốn nói ở đây là phần lớn xe Toyota được bán
tại Mỹ là xe được sản xuất tại nhà máy của Mỹ thuộc sở hữu của Toyota. Như
vậy quốc tịch của Toyota đã bị mờ đi, nhưng đối với thị trường Mỹ thì lại rõ
ràng – Toyota là nhà sản xuất một số loại xe ôtô và xe tải chất lượng cao.
Hay liên minh châu Âu là một thị trường nội địa mở rộng, đặc biệt với
sự ra đời của đồng tiền chung Châu Âu, buộc các nhà sản xuất và kinh doanh
vật liệu cung ứng, lưu trữ trong kho, thời gian địa điểm cung ứng, phương
thức vận chuyển… để giảm tối đa chi phí phát sinh đảm bảo hiệu quả trong
12
sản xuất kinh doanh.
* Logistics đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi và hoàn thiện
dịch vụ vận tải giao nhận, đảm bảo yếu tố đúng thời gian – địa điểm (Just in
time – JIT).
Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đã làm cho hàng hóa và sự vận động của
chúng phong phú và phức tạp hơn, đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ, đặt ra yêu cầu
mới đối với dịch vụ vận tải giao nhận. Đồng thời để tránh đọng vốn, các
doanh nghiệp tìm cách duy trì một lượng hàng trong kho nhỏ nhất. Kết quả là
hoạt động vận tải giao nhận nói riêng và lưu thông phân phối nói chung, một
mặt phải đảm bảo yêu cầu giao hàng kịp thời đúng lúc (JIT), mặt khác phải
tăng cường vận chuyển thực hiện mục tiêu không để hàng tồn kho. Để đáp
ứng yêu cầu này, giao nhận vận tải phải nhanh, thông tin kịp thời chính xác và
sự ăn khớp giữa các quá trình trong vận chuyển giao nhận. Mặt khác, sự phát
triển mạnh mẽ của tin học, cho phép kết hợp chặt chẽ các quá trình cung ứng,
sản xuất, lưu kho hàng hóa, tiêu thụ với hoạt động vận tải giao nhận có hiệu
quả hơn, nhanh chóng hơn và đồng thời phức tạp hơn. Nó cho phép người
giao nhận vận tải nâng cao chất lượng dịch vụ đối với khách hàng. Phát triển
các dịch vụ truyền thống càng cao bao nhiêu, người vận tải giao nhận càng có
khả năng đáp ứng yêu cầu thị trường và mở rộng thị trường bấy nhiêu.
1.1.3.2. Logistics cho phép các nhà kinh tế vận tải giao nhận cung cấp các
dịch vụ đa dạng, phong phú hơn ngoài dịch vụ giao nhận vận tải đơn thuần.
Logistics là sự phối hợp, gắn kết các hoạt động, các khâu trong dòng lưu
chuyển của hàng hóa qua các giai đoạn cung ứng – sản xuất – lưu thông phân
phối. Vì vậy lúc này người kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận không chỉ
đơn thuần là người giao nhận vận chuyển nữa, mà thực tế họ đã tham gia cùng
với người sản xuất đảm nhận thêm các khâu liên quan đến quá trình sản xuất
và lưu thông hàng hóa như: lắp ráp, đóng gói, gom hàng, xếp hàng, cung cấp
quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản hơn và đạt hiệu quả hơn. Giảm chi phí
trong sản xuất, quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản, hiệu quả sản xuất kinh
doanh được nâng cao, góp phần tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị
trường. Thực tế những năm qua tại các nước châu Âu, chi phí logistics đã
14
giảm xuống rất nhiều và còn có xu hướng giảm nữa trong các năm tới.
* Dịch vụ logistics có tác dụng tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạt động
lưu thông phân phối.
Giá cả hàng hóa trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộng
với chi phí lưu thông. Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là phí vận tải
chiếm một tỷ lệ không nhỏ và là bộ phận cấu thành giá cả hàng hóa trên thị
trường, đặc biệt là hàng hóa trong buôn bán quốc tế. Vận tải là yếu tố quan
trọng của lưu thông. C.Mác nói “Lưu thông có ý nghĩa là hành trình thực tế
của hàng hóa trong không gian được giải quyết bằng vận tải”. Vận tải có
nhiệm vụ đưa hàng hóa đến nơi tiêu dùng và tạo khả năng để thực hiện giá trị
và giá trị sử dụng của hàng hóa. Trong buôn bán quốc tế, chi phí vận tải chiếm
tỷ trọng khá lớn, theo số liệu thống kê của UNCTAD thì chi phí vận tải đường
biển chiếm trung bình 10 – 15% giá FOB, hay 8 – 9% giá CIF. Mà vận tải là
yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống logistics cho nên dịch vụ logistics ngày
càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm cho phí vận tải và các chi phí khác phát
sinh trong quá trình lưu thông dẫn đến tiết kiệm và giảm chi phí lưu thông.
Dịch vụ logistics là loại hình dịch vụ có quy mô mở rộng và phức tạp
hơn nhiều so với hoạt động vận tải giao nhận thuần túy. Trước kia người kinh
doanh dịch vụ vận tải giao nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những dịch vụ
đơn giản, thuần túy và đơn lẻ, ngày nay do phát triển của sản xuất, lưu thông,
các chi tiết của một sản phẩm có thể do nhiều quốc gia cung ứng và ngược lại
một loại sản phẩm của doanh nghiệp có thể tiêu thụ tại nhiều quốc gia, nhiều
thị trường khác nhau, vì vậy dịch vụ mà khách hàng yêu cầu từ người kinh
doanh vận tải giao nhận phải đa dạng và phong phú. Người vận tải giao nhận
ngày nay và phong phú. Người vận tải giao nhận ngày nay đã triển khai cung
giấy tờ, chứng từ rườm rà hàng năm khoản chi phí tiêu tốn cho nó cũng chiếm
tới hơn 10% kim ngạch mậu dịch quốc tế, ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động
buôn bán quốc tế.
Logistics đã cung cấp các dịch vụ đa dạng trọn gói đã có tác dụng giảm
rất nhiều các chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong buôn bán quốc tế. Người vận
tải giao nhận ngày nay trở thành người cung cấp các dịch vụ logistics như
16
gom hàng, tổ chức giao nhận và chuyên chở hàng. Tổ chức thực hiện việc
giao nhận vận chuyển hàng từ kho người bán tới tận kho người mua “Door to
Door”, trên các phương thức vận tải khác nhau mà chỉ cần một hợp đồng vận
tải thể hiện trên một chứng từ với một chế độ trách nhiệm thống nhất. Dịch vụ
vận tải đa phương thức do người kinh doanh dịch vụ logistics cung cấp đã loại
bỏ đi rất nhiều chi phí cho giấy tờ thủ tục, nâng cấp và chuẩn hóa chứng từ
cũng như giảm khối lượng công việc văn phòng trong lưu thông hàng hóa, từ
đó nâng cao hiệu quả buôn bán quốc tế.
Ngoài ra cùng với việc phát triển logistics điện tử (Electronic logistics)
sẽ tạo ra cuộc cách mạng trong dịch vụ vận tải và logistics, chi phí cho giấy
tờ, chứng từ trong lưu thông hàng hóa càng được giảm tới mức tối đa, chất
lượng dịch vụ logistics ngày càng được nâng cao sẽ thu hẹp hơn nữa cản trở
về mặt không gian và thời gian trong dòng lưu chuyển nguyên vật liệu và
hàng hóa. Các quốc gia sẽ xích lại gần nhau hơn trong hoạt động sản xuất và
lưu thông.
1.2 DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC LOGISTICS
1.2.1 Khái niệm
Khái niệm doanh nghiệp vẫn còn những điểm khác biệt nhất định giữa
các nước nhưng có thể hiểu doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế được thành
lập hợp pháp, có tên riêng, có địa điểm sản xuất kinh doanh ổn định, hoạt
động kinh doanh trên thị trường nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Doanh nghiệp là thuật ngữ có nguồn gốc từ lĩnh vực kinh tế học. Doanh
nghiệp như một cái áo khoác (phương tiện) để thực hiện ý tưởng kinh doanh.
+ Thay mặt khách hàng tiềm năng của mình làm các thủ tục thông quan,
phân loại, đóng gói, bảo quản, đồng bộ hoá, vận chuyển …vv chuẩn bị trước
cho sự thoả mãn nhu cầu của họ.
+ Đáp ứng các nhu cầu tài chính, vốn, cho nhà sản xuất.
+ Tự chấp nhận gánh chịu rủi ro có thể xảy ra khi vận chuyển và dự trữ
hàng hoá chờ đáp ứng nhu cầu đồng bộ của nhà sản xuất và người tiêu dùng.
Như vậy, hoạt động dịch vụ làm trung gian cho cả nhà sản xuất và người
tiêu dùng là hoạt động chủ yếu tạo ra cơ hội và khai thác trong hoạt động kinh
18
doanh của DNL.
Hiện nay, trong thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh ở hầu hết các
nước trên thế giới, đặc biệt là với mục đích tăng trưởng nhanh nền kinh tế
dưới sự trợ giúp đắc lực của khoa học kỹ thuật hiện đại và công nghệ tiên tiến
đã dẫn tới trình độ chuyên môn hóa ngày càng cao, phân công lao động quốc
tế ngày càng sâu sắc, đi đôi với quá trình quốc tế hóa diễn ra ngày càng sâu
rộng, thì các DNL không còn xa lạ gì đối với chúng ta nữa. Tuy nhiên khái
niệm “DNL” cũng chỉ có tính chất tương đối. Vì vậy, trong phạm vi nghiên
cứu có thể hiểu: DNL là một tổ chức kinh tế được thành lập với mục đích chủ
yếu là tiến hành các hoạt động dịch vụ bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu
kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách
hàng, đóng bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên
quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao.
1.2.2. Đặc điểm của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics
Như đã trình bày ở trên, hoạt động kinh doanh của DNL là việc tối ưu
hóa quá trình vận tải, lưu kho bãi, phân loại, gắn nhãn mác …vv cho nhà sản
xuất, tư vấn, vận chuyển …vv cho người tiêu dùng. So với các loại hình
doanh nghiệp sản xuất, các DNL có các đặc trưng sau.
Thứ nhất, đối tượng lao động của các DNL là các dịch vụ tạo ra các giá
trị mới cho hàng hóa.
Thứ hai, hoạt động của DNL giống như các doanh nghiệp khác bao gồm
trò rất quan trọng trong viêc thúc đẩy sự phát triển kinh tế và có vai trò quan
trọng trong mạng lưới sản xuất toàn cầu và chuỗi cung ứng hàng hóa và dịch
vụ. Trong điều kiện nền kinh tế Việt nam hiện nay vai trò của các DNL được
thể hiện ở các khía cạnh khác nhau:
Thứ nhất, đóng góp vào kết quả hoạt động của nền kinh tế, góp phần làm
tăng GDP. Cũng như ở tất cả các nước, DNL ở Việt Nam cung cấp các dịch
vụ đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng.
Thứ hai, giúp nền kinh tế phát triển ổn định và hiệu quả hơn. Trong quá
trình kinh doanh, DNL hỗ trợ cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh một
20
cách hiệu quả hơn như đảm bảo cho quá trình chuẩn bị nguyên liệu đầu vào,
tham gia hoạch định sản xuất, đảm bảo cho đầu ra sản phẩm của các doanh
nghiệp ản xuất, làm tăng tính cạnh tranh, tính linh hoạt và làm giảm bớt mức
độ rủi ro trong nền kinh tế.
Thứ ba, góp phần tăng cường và phát triển các mối quan hệ kinh tế. Các
DNL kết nối quá trình cung ứng, sản xuất và tiêu dùng, nhờ đó mà các rủi ro
kinh doanh sẽ được chia sẻ và góp phần tăng hiệu quả kinh tế xã hội chung.
Thứ tư, các DNL đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi và hoàn
thiện dịch vụ vận tải giao nhận. Để cạnh tranh được với các DNL nước ngoài
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, các DNL Việt Nam phải tích cực chủ
động áp dụng công nghệ mới nâng cao hiệu quả dịch vụ vận tải giao nhận.
Thứ năm, tạo điều kiện phát triển các tài năng kinh doanh. Ngoài các
vai trò như đã nói ở trên, các DNL còn có vai trò trong việc phát triển các tài
năng kinh doanh. Trong nhiều năm qua, đội ngũ cán bộ kinh doanh đã gắn
nhiều với cơ chế bao cấp, chưa có kinh nghiệm làm việc trong nền kinh tế thị
trường. Sự phát triển của các DNL có tác dụng đào tạo, chọn lọc và thử thách
đội ngũ doanh nhân. Sự ra đời của các DNL làm xuất hiện rất nhiều tài năng
kinh doạnh, đó là các doanh nhân thành đạt biết cách làm giàu cho bản thân
mình và xã hội. Bằng sự tôn vinh những doanh nhân giỏi, kinh nghiệm quản
lý của họ sẽ được nhân ra và truyền bá tới nhiều cá nhân trong xã hội dưới
trị logistics phải nhận thức và thấy rõ những mối quan hệ ràng buộc này và
hành động sao cho những tác động thực tế cũng như tiềm năng của mỗi yếu tố
logistics trong chuỗi logistics không bị phủ nhận lẫn nhau. Sau đây là những
yếu tố cơ bản của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics.
1.3.1 Yếu tố vận tải
Trong các yếu tố cấu thành chuỗi logistics của doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực logistics thì vận tải giao nhận là khâu quan trọng nhất. Chi phí vận
tải giao nhận thường chiếm tới hơn 1/3 tổng chi phí của logistics. Muốn giảm chi
phí của logistics phải giảm chi phí khâu giao nhận vận tải từ nơi sản xuất tới nơi
tiêu thụ khác nhau trên thị trường. Việc vận tải giao nhận phải đảm bảo thời gian
giao hàng, phải đảm bảo cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất kịp thời, đúng
22
lúc. Từ đó giảm đến mức thấp nhất chi phí, thiệt hại do lưu kho, tồn đọng sản
phẩm (Inventory Costs) để làm giảm chi phí logistics nói chung.
Vận tải giao nhận là yếu tố rất cần và không thể thiếu được của DNL,
yêu cầu này xuất phát từ xu hướng chuyên môn hóa trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của xã hội. Khi một doanh nghiệp thu hẹp phạm vi hoạt động của
mình vào một hay một nhóm sản phẩm có liên quan thì doanh nghiệp đó ngày
càng phụ thuộc vào môi trường bên ngoài. Mỗi thành viên của hệ thống công
nghiệp, từ doanh nghiệp nhỏ nhất tới những tập đoàn hùng mạnh nhất, đều
phải dựa vào các doanh nghiệp khác cung cấp nguyên vật liệu cần thiết cho
hoạt động của mình. Vận tải trong DNL là cung cấp các phương tiện, dịch vụ
nhằm di chuyển nguồn nguyên liệu đó từ nơi cung cấp tới nơi doanh nghiệp
cần. Tại đó, nguyên liệu được sản xuất, chế biến thành sản phẩm và vận tải
giao nhận lại một lần nữa làm công việc cung cấp hệ thống phân phối vật chất
cho sản phẩm. Như vậy, vận tải giao nhận đảm nhận việc di chuyển nguyên
liệu vào trong doanh nghiệp sau đó phân phối sản phẩm từ doanh nghiệp ra
thị trường đã tạo thành một vòng tuần hoàn trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Vị trí, vai trò quan trọng của vận tải giao nhận với tư cách là một yếu tố